LUẬN văn THẠC sĩ GIÁ TRỊ đạo đức TRUYỀN THỐNG dân tộc với xây DỰNG đạo đức của SINH VIÊN TRƯỜNG đại học KHOA học xã hội và NHÂN văn hà nội HIỆN NAY - Pdf 40

MỤC LỤC
Trang
3

MỞ ĐẦU

Chương 1.

LÝ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN
THỐNG DÂN TỘC VỚI XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC
CỦA SINH

VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA

HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
1.1. Quan niệm về giá trị đạo đức truyền thống dân tộc và

9

đạo đức của sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn
1.2. Thực chất và những nhân tố quy định đến phát huy vai

9

trò giá trị đạo đức truyền thống dân tộc với xây dựng
đạo đức của sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã
Chương 2.

hội và Nhân văn
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY



Chữ viết đầy đủ

Chữ viết tắt

Chủ nghĩa xã hội
Chủ nghĩa tư bản
Đảng Cộng Sản Việt Nam
Giai cấp công nhân
Giai cấp vô sản
Kinh tế thị trường
Nhà xuất bản
Xã hội chủ nghĩa

CNXH
CNTB
ĐCSVN
GCCN
GCVS
KTTT
NXB
XHCN


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sinh viên là nguồn lực quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát
triển đất nước. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: "Một năm khởi đầu
từ mùa xuân. Một đời người khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã

các giá trị truyền thống nói chung và giá trị truyền thống Việt Nam nói riêng
trước xu thế toàn cầu hóa hiện nay, và những giải pháp nhằm giữ gìn, phát
huy các giá trị truyền thống Việt Nam trước thách thức toàn cầu hóa. Cùng
với những vấn đề này còn có những công trình như “Giá trị truyền thống Việt
Nam trước thách thức của toàn cầu hóa” của GS,TS. Đỗ Huy.
Ngoài ra, còn có các công trình tiêu biểu như: Nguyễn Quang Uẩn Nguyễn Thạc - Mạc Văn Trang “Giá trị - định hướng giá trị nhân cách và
giáo dục giá trị” [57]; Ngô Thị Thu Ngà, Luận án tiến sĩ “Giá trị đạo đức
truyền thống với việc xây dựng đạo đức mới cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện
nay” [50]; Nguyễn Văn Lý, Luận án Tiến sỹ triết học “Kế thừa và đổi mới
các giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị
trường ở Việt Nam hiện nay”[40]; Nguyễn Văn Huyên, “Giá trị truyền thống
- nhân lõi và sức sống bên trong của sự phát triển đất nước, dân tộc” [34];
Cao Thu Hằng, Luận án tiến sĩ “Kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống
trong xây dựng nhân cách con người Việt Nam hiện nay” [31]; Nguyễn Trọng
Chuẩn "Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển" [4];
Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức, Hồ Sĩ Quý (đồng chủ biên) “Tìm hiểu
giá trị văn hoá truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá”[5]; Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên (đồng chủ biên) “Giá trị
truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hoá”..
Những công trình Khoa học tiêu biểu nghiên cứu về đạo đức và đạo
đức của sinh viên
Bàn về vấn đề này có một số công trình tiêu biểu của các tác giả:
Huỳnh Khái Vinh (chủ biên), “Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn
mực giá trị xã hội”. Trong cuốn sách này, các tác giả đã bàn một cách sâu sắc
phạm trù “lối sống”. Tìm hiểu sự tác động của các nhân tố chính trị, kinh tế,
5


xã hội và xu hướng chuyển đổi lối sống ở nước ta trong giai đoạn đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề lý luận và
thực tiễn về phát huy vai trò giá trị đạo đức truyền thống dân tộc với xây dựng
đạo đức của sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; từ đó đề
xuất hệ thống các giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò giá trị đạo đức truyền
thống dân tộc với xây dựng đạo đức của sinh viên Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận chứng, làm rõ thực chất những nhân tố qui định phát huy vai trò
giá trị đạo đức truyền thống trong xây dựng đạo đức của sinh viên Trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn.
- Đánh giá thực trạng và luận chứng những vấn đề đặt ra trong phát huy
vai trò giá trị đạo đức truyền thống dân tộc với xây dựng đạo đức của sinh viên
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn hiện nay.
- Đề xuất các giải pháp cơ bản phát huy vai trò giá trị đạo đức truyền
thống dân tộc trong xây dựng đạo đức của sinh viên Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu vấn đề phát huy vai trò giá trị đạo
đức truyền thống dân tộc với xây dựng đạo đức của sinh viên.
* Phạm vi nghiên cứu: Vấn đề nghiên cứu được giới hạn ở phát huy vai
trò giá trị đạo đức truyền thống dân tộc với xây dựng đạo đức của sinh viên
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội hiện
nay; thời gian khảo sát, điều tra sinh viên hệ chính quy ở Trường Đại học
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội từ
năm 2010 đến nay.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

7


8


Chương 1
LÝ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC
VỚI XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

1.1. Quan niệm về giá trị đạo đức truyền thống dân tộc và đạo đức
của sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
1.1.1. Quan niệm và đặc trưng của giá trị đạo đức truyền thống dân
tộc Việt Nam
* Quan niệm về giá trị đạo đức truyền thống dân tộc Việt Nam
Giá trị là hiện tượng có tính lịch sử và tính thực tiễn, mọi giá trị đều bắt
nguồn từ lao động. Do đó, chỉ có trong xã hội loài người mới có giá trị: “Con
người là giá trị cao nhất của tất cả các giá trị, vì con người tạo ra mọi giá trị.
Con người là thước đo của mọi giá trị” [58, tr.64]. Sự đánh giá đúng đắn một
giá trị không chỉ căn cứ vào nhu cầu, lợi ích của chủ thể đánh giá mà còn phải
căn cứ vào hiệu quả xã hội của chủ thể theo đuổi mục đích, lợi ích: “Nói đến
giá trị tức là muốn khẳng định mặt tích cực, mặt chính diện, nghĩa là đã bao
hàm quan điểm coi giá trị gắn liền với cái đúng, cái tốt, cái hay, cái đẹp; là nói
đến khả năng thôi thúc con người hành động và nỗ lực vươn tới” [4, tr.16].
Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam cho rằng, giá trị là: phạm trù
triết học, xã hội học chỉ tính có ích, có ý nghĩa của sự vật, hiện tượng tự nhiên
hay xã hội có khả năng thoả mãn nhu cầu, phục vụ lợi ích của con người. Ở
đây, các sự vật, hiện tượng được xem xét dưới góc độ đúng hay không đúng
mong muốn, có ý nghĩa tích cực hay không đối với đời sống xã hội [57, tr.97].
Từ những quan niệm trên đây, hiểu giá trị là một phạm trù triết học, phản ánh
sự vật, hiện tượng và những thuộc tính của chúng có ý nghĩa đối với xã hội,
cộng đồng, cá nhân, với tư cách là phương tiện thoả mãn nhu cầu vật chất,

được lưu truyền. Trong từng cộng đồng, từng quốc gia, từng dân tộc đều có
những truyền thống khác nhau và chịu sự tác động to lớn của sự biến đổi
trong đời sống xã hội. Truyền thống thường thể hiện tính hai mặt.
10


Một là, truyền thống đóng vai trò to lớn trong việc giữ gìn và phát huy
các chuẩn mực, tư tưởng, phong tục, tập quán, thói quen, cách ứng xử… của
một con người cũng như của một cộng đồng dân tộc đó. Ở góc độ này, truyền
thống được hiểu là những mặt tích cực, những giá trị tốt đẹp, đóng góp cho sự
phát triển dân tộc trước sự biến động khắc nghiệt của lịch sử.
Hai là, truyền thống có khi lại là nơi dung dưỡng, duy trì các thói quen,
phong tục, tập quán lạc hậu làm kìm hãm sự phát triển của cộng đồng, quốc gia.
Mặt này, chính là những tiêu cực của truyền thống, nó níu kéo, kìm hãm sự phát
triển. Hồ Chí Minh đã viết: “Thói quen và truyền thống lạc hậu cũng là kẻ địch
to; nó ngấm ngầm ngăn trở cách mạng tiến bộ. Chúng ta lại không thể trấn áp nó,
mà phải cải tạo nó rất cẩn thận, rất chịu khó, rất lâu dài” [49, tr.287].
Giá trị đạo đức truyền thống là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ
hệ thống giá trị tinh thần của dân tộc Việt Nam. Nói đến giá trị đạo đức truyền
thống Việt Nam là chúng ta nói đến các giá trị đạo đức đặc thù của con người
Việt Nam được thử thách qua hàng ngàn năm lịch sử. Theo cách hiểu đó, giá
trị đạo đức truyền thống là những giá trị đạo đức tốt đẹp hình thành trong quá
trình dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và được
lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đây là những giá trị nhân văn mang
tính cộng đồng, là sự kết tinh của toàn bộ tinh hoa dân tộc, mang tính ổn định
và được truyền từ đời này sang đời khác.
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử với sự “tiếp biến” văn hoá của dân tộc,
đã tạo lập nên hệ giá trị đạo đức truyền thống của con người Việt Nam: giàu
lòng yêu nước, yêu thương con người, cần cù, thông minh, sáng tạo, hiếu
học… Những giá trị đạo đức đó đi sâu vào đời sống của con người Việt Nam

các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam.
Như vậy, trong nền tảng văn hoá tinh thần truyền thống của dân tộc Việt
Nam, giá trị đạo đức truyền thống chiếm vị trí quan trọng nhất, chi phối sự vận
động và phát triển lịch sử tư tưởng dân tộc. Đồng thời, trong các giá trị đạo đức
12


truyền thống, chủ nghĩa yêu nước là giá trị quan trọng nhất, là bậc thang cao
nhất trong hệ giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam, nó định hướng cho các giá
trị khác cùng phát triển. Chủ nghĩa yêu nước trở thành một triết lý xã hội và
nhân sinh của con người Việt Nam. Cũng như, các giá trị đạo đức truyền thống
đã tạo nên hệ thống lý luận mang tính chất triết lý: cùng một giống nòi, cùng
một đất nước thì phải có nghĩa vụ yêu thương, đùm bọc lẫn nhau; đoàn kết sẽ
có sức mạnh, chung sức, chung lòng thì sẽ dời non, lấp biển thành công.
* Đặc trưng giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam
Như vậy, hệ thống các giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam đã được
hình thành trong suốt hàng ngàn năm đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ
nước; trong giao lưu, tiếp thu, cải biến, chọn lọc những giá trị văn hóa của các
tộc khác trên thế giới. Tuy nhiên, cốt lõi của đạo đức truyền thống Việt Nam
hoàn toàn bắt nguồn từ lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc
Việt Nam. Trong số những giá trị đạo đức truyền thống đó, theo tôi có mấy
đặc trưng nổi bật sau đây:
Thứ nhất, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
Yêu quê hương đất nước là một tình cảm tự nhiên của con người được
nảy sinh và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc. Cùng với sự
phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, tinh thần yêu nước Việt Nam trở
thành chủ nghĩa yêu nước, thành một giá trị to lớn, một động lực tinh thần vô
cùng mạnh mẽ thúc đẩy biết bao nhiêu thế hệ con người Việt Nam anh dũng
hy sinh để bảo vệ Tổ quốc và bảo vệ phẩm giá của con người Việt Nam. Biểu
hiện của lòng yêu nước đó là tình yêu tha thiết quê hương, đất nước, ý thức

phải, là tốt, là nên; không hề thấy cái gì có hại cho nước, cho dân mà phải, mà
tốt, mà bao giờ nên [25, tr.143].
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp
và chống Mỹ là tinh thần yêu nước trên lập trường của giai cấp công nhân đi
theo con đường cách mạng vô sản. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam không chỉ
bó hẹp trong quốc gia Việt Nam mà được nâng lên tầm cao mới, đi đúng với
14


xu thế phát triển của thời đại, với khát vọng cháy bỏng của loài người: “Độc
lập dân tộc gắn liền với CNXH”. Lòng yêu nước Việt Nam thể hiện mong
muốn, khát vọng của các dân tộc đang bị chủ nghĩa đế quốc, thực dân áp bức,
bóc lột: “Đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc tự
do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người,
niềm vui, hòa bình, hạnh phúc” [45, tr.461]. Yêu nước và tinh thần tự hào dân
tộc đã trở thành truyền thống quý báu của nhân dân ta, nó nổi lên như sợi chỉ
đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam từ xưa tới nay, đó là bảng giá trị văn
hoá tinh thần lớn nhất của người Việt.
Thứ hai, tình yêu thương và quý trọng con người
Tình yêu thương con người của nhân dân ta được hình thành, phát triển
trong mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, trong cộng đồng làng
xã đến cộng đồng dân tộc. Trong ứng xử, người Việt Nam thường lấy cái
nhân nghĩa, sự yêu thương làm gốc, và nâng lên thành một triết lý sống của
con người Việt Nam. Chính trong quá trình lao động, sản xuất và chiến đấu,
cha ông ta đã rút ra một triết lý phát triển: con người là vốn quý, có con người
có tất cả, “một mặt người hơn mười mặt của”, “người sống đống vàng”.
Trong truyền thống đạo lý của con người Việt Nam, chữ “tình” chiếm một vị
trí đặc biệt quan trọng: tình cha con, tình mẫu tử, tình thầy trò, tình huynh đệ,
tình anh em, tình nghĩa vợ chồng, tình đồng bào, đồng chí …
Trong gia đình, thương yêu là một tình cảm tự nhiên của cha mẹ đối

đỉnh cao của nhân ái, của tình yêu thương con người ở dân tộc Việt Nam.
Tình yêu thương và quí trọng con người là một giá trị nhân văn cao đẹp của
dân tộc được hình thành và phát triển trong quá trình giữ nước và dựng nước.
Truyền thống đó, được bổ sung và phát triển lên tầm cao mới kể từ khi có
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng nhân đạo của giai cấp công nhân giải phóng
con người khỏi mọi áp bức bóc lột, mang lại hạnh phúc cho nhân dân được
biểu hiện không chỉ ở mặt lý luận mà còn mang tính thực tiễn.
16


Thứ ba, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động
Đây cũng là một trong những giá trị đạo đức nổi bật trong hệ giá trị đạo
đức truyền thống của dân tộc Việt Nam. Trong quá trình phát triển của dân
tộc, người Việt luôn biết cách tạo ra của cải vật chất từ chính đôi tay và trí tuệ
của mình. Với đức tính cần cù, chịu khó cha ông ta đã sáng tạo ra được những
thành quả lao động hết sức to lớn và vô cùng quý giá, cả về vật chất lẫn tinh
thần. Việt Nam từ một nước có nền nông nghiệp lâu đời, với kết cấu công xã
nông thôn bền chặt.
Hơn nữa, lao động nông nghiệp là loại hình sản xuất vất vả “một nắng,
hai sương”, “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, cần nhiều thời gian, công
sức mới có hạt cơm, bát gạo để ăn. Hơn nữa, thiên nhiên lại rất khắc nghiệt,
trung bình một năm Việt Nam chịu ảnh hưởng từ 10 cho đến 12 cơn bão, mùa
nắng thì hạn cháy đồng, mùa mưa thì lũ lụt. Để hạn chế sự tàn phá của thiên
nhiên, người dân Việt Nam quanh năm, suốt tháng phải lo đắp đập, đắp đê,
đào mương lấy nước tưới cho cây trồng.
Cùng với thiên tai khắc nghiệt, những cuộc chiến tranh xâm lược của
các thế lực bên ngoài càng làm cho đời sống nhân dân ta thêm phần khó khăn,
nền kinh tế đất nước bị tàn phá, lạc hậu so với nhiều nước trong khu vực.
Nhưng trong bất kỳ tình huống nào, người dân Việt Nam vẫn anh dũng bám

trong sản xuất, trong đấu tranh với thiên nhiên từ năm này qua năm khác, đời
này qua đời khác, là nhân tố cơ bản đầu tiên tạo nên ý thức thống nhất dân
tộc, thống nhất quốc gia.
Do có vị trí địa lý thuận lợi cho giao thông, tài nguyên thiên nhiên phong
phú, cho nên, Việt Nam trong tất cả các thời kỳ lịch sử là đối tượng của những
đội quân xâm lược hùng mạnh hơn mình gấp nhiều lần và cực kỳ tàn bạo. Trong
bối cảnh đó, các thành phần dân cư khác nhau đã tự nguyện đoàn kết để bảo vệ
sự sống còn của bản thân mình, bảo vệ quê hương, làng xóm và hình thành nên
một sức mạnh hết sức to lớn. Ngày nay, phát huy truyền thống đại đoàn kết dân
tộc là một chiến lược phát triển lâu dài, một động lực mạnh mẽ trong công cuộc
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đoàn
18


kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Suốt cả
cuộc đời Hồ Chí Minh, Người luôn quan tâm tới vấn đề đoàn kết, không chỉ
đoàn kết trong Đảng, đoàn kết dân tộc, mà còn đoàn kết quốc tế.
Thứ năm, tinh thần hiếu học và ham hiểu biết
Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học, trọng đạo lý làm
người, chính những giá trị đó đã góp phần hun đúc những giá trị đạo đức Việt
Nam. Từ xa xưa cha ông ta đã giáo dục cho con cháu tinh thần hiếu học, kính
trọng thầy giáo, quý mến học trò. “Qua sông thì bắc cầu kiều; muốn con hay
chữ thì yêu lấy thầy”; truyền thống “tôn sư trọng đạo” đã có từ lâu đời và trở
thành đạo lý sống của mỗi con người Việt Nam. Cha mẹ có công nuôi ta lớn
lên, người thầy có công giáo dục ta thành người “cơm cha, áo mẹ, chữ thầy”,
“không có thầy đố mày làm nên”. Người thầy luôn được cả xã hội coi trọng:
“mồng một tết cha, mồng hai tết mẹ, mồng ba tết thầy”. Trong lịch sử Việt
Nam người thầy luôn luôn được tôn trọng, kính phục. Ở chế độ phong kiến đã
xuất hiện những người thầy mẫu mực: Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm…
Đến thời đại Hồ Chí Minh xuất hiện những người thầy gắn số phận mình với

thực hiện mục tiêu chung cho dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công
bằng, văn minh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Sinh viên Trường Đại học KHXH&NV là lực lượng tuổi trẻ, có học
thức, nhạy cảm với cái mới, năng động và sáng tạo, ham học hỏi, là những
chủ nhân tương lai của đất nước. Là tầng lớp xã hội được gia đình, nhà
trường, xã hội hết sức quan tâm, chăm sóc. Trong cuộc sống xã hội, sinh viên
Trường Đại học KHXH&NV giữ nhiều vị trí: là sinh viên, là người con,
người anh, người chị, người em, người bạn... Tuy vậy, về vị trí thực trong xã
hội chưa được xác định, bởi vì họ chưa có nghề nghiệp ổn định, mà hoạt động
chính của họ là học tập và bước đầu tham gia vào nghiên cứu khoa học, tham
gia vào các hoạt động xã hội. Trong sự phát triển đất nước, sinh viên nói
chung và sinh viên Trường Đại học KHXH&NV giữ một vị trí quan trọng,
sau khi rời ghế nhà trường họ có thể sẽ giữ những vai trò, những trọng trách ở
20


nhiều lĩnh vực khác nhau trong xã hội. Họ có thể sẽ là những nhà chính trị,
nhà ngoại giao, nhà khoa học, hay nhà doanh nghiệp... Lúc đó họ đã có một vị
trí đích thực và đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển xã hội.
Sinh viên Trường Đại học KHXH&NV là những lớp trí thức trẻ trong
tương lai, có trình độ, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, là những
người có lòng nhiệt tình và cũng rất nhạy cảm trong cuộc sống. Đây là nét nổi
bật có ở tầng lớp sinh viên. Những ước mơ, những hoài bão lớn là động lực
chắp cánh cho những người sinh viên thời nay bay cao, bay xa. Với lòng nhiệt
tình, tính hăng say, không chịu lùi bước trước những khó khăn thử thách của
cuộc đời, đại bộ phận sinh viên có chí tiến thủ, vươn lên trong học tập.
Bên cạnh những ưu điểm đó, trong đội ngũ sinh viên Trường Đại học
KHXH&NV cũng còn tồn tại một số hạn chế như: tính bồng bột, muốn tự
khẳng định mình trong khi bản thân chưa có đủ điều kiện, và khi thất bại thì dễ
nản chí và trượt dài. Do vậy, hiểu rõ đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi sinh viên là

dựng XHCN, biến lý tưởng xã hội của Đảng, của dân tộc thành hiện thực, bất
chấp mọi khó khăn thử thách, kể cả hy sinh tính mạng của mình khi cần thiết, hết
lòng, hết sức phục vụ nhân dân, để cho dân tin, dân phục, dân yêu.
Thái độ chính trị là tình cảm chính trị của mỗi người trước các vấn đề
chính trị, thời sự của đất nước. Có thái độ chính trị đúng đắn, biểu hiện là thái độ
khách quan, được xây dựng trên cơ sở hệ thống tri thức lý luận chính trị khoa
học, xuất phát từ thực tiễn của đất nước, từ lợi ích chung của xã hội; mọi cử chỉ,
lời nói, việc làm biết suy nghĩ thật chín chắn, thận trọng, biết làm chủ mình, luôn
bình tĩnh, sáng suốt, không hấp tấp, không vội vàng; biết dùng sự hiểu biết đúng
đắn của mình, giúp đỡ mọi người cùng hiểu, tổ chức hành động đúng.
Thái độ chính trị đúng có vai trò quan trọng, làm cho mỗi người phấn
chấn, hăng hái, tạo nên sức mạnh tinh thần và thể chất, thúc đẩy mọi người hoàn
thành tốt nhiệm vụ. Thái độ chính trị đúng đắn của sinh viên Trường Đại học
KHXH&NV hiện nay thể hiện ở kết quả học tập và rèn luyện về lý tưởng, về lập
trường giai cấp, về trình độ lý luận chính trị, về thực hiện đường lối của Đảng,
22


chính sách và pháp luật của Nhà nước. Cho nên trong quá trình tu dưỡng đạo
đức cách mạng, mỗi sinh viên phải hết sức coi trọng việc xây dựng thái độ chính
trị đúng nhằm góp phần tích cực thực hiện tốt các mục tiêu đã xác định.
Thứ hai, đạo đức của sinh viên Trường Đại học KHXH&NV còn được
biểu hiện cụ thể ở tình yêu thương con người.
Tình yêu thương là mọi thứ tình cảm tốt đẹp mà sinh viên nhà trường
dành cho nhau, có tình cảm gia đình, tình cảm bè bạn... thậm chí là đối với
những người không hề quen biết. Nó có thể là thứ tình cảm được vun đắp, xây
dựng trong một thời gian dài qua nhiều năm học cùng, ở cùng, nhưng cũng có
thể chỉ là một niềm thương cảm chợt trào dâng khi sinh viên gặp một hoàn
cảnh nào đó. Nhưng dù với bất cứ biểu hiện nào thì tình yêu thương cũng luôn
mang lại những điều kì diệu riêng cho cả người cho đi và nhận về nó. Cái hạnh

viên của nhà trường, với tinh thần dám suy nghĩ một cách độc lập, sáng
tạo, tự tin vào khả năng của bản thân để có thể vượt khó thực hiện cho kỳ
được ước mơ và hoài bão của mình, để bay cao và bay xa hơn nữa.
Ngay từ những ngày sau Cách mạng tháng Tám thành công, Hồ Chí
Minh đã đặt ra yêu cầu phải xây dựng con người mới để phù hợp với một xã
hội mới. Người nêu ra những chuẩn mực đạo đức như “cần, kiệm, liêm,
chính, chí công vô tư”. Trong đó đức tính cần cù được Bác rất đề cao, coi
trọng. Không có một thành quả lao động nào vững bền nếu không được tích
lũy vào đó sự cần cù siêng năng và sáng tạo. Đó là tầm quan trọng của sự cần
cù, siêng năng đã được rút đúc từ bao đời của cha ông ta.
Sinh viên Trường Đại học KHXH&NV xác định tốt tầm quan trọng của
cần cù, sáng tạo trong học tập cho nên thường xuyên chăm học, chăm làm,
siêng năng thức khuya dậy sớm, chịu khó cần cù học hành, luyện tập. Biết
“học ngày chưa đủ, tranh thủ học đêm”. Muốn có đủ tri thức, kỹ năng, bản
lĩnh và sẵn sàng hội nhập với lòng yêu nước nồng nàn, đưa đất nước đi lên,
lớp lớp sinh viên Trường Đại học KHXH&NV tâm niệm một điều: học là để

24


lấy kiến thức, nên học đều các môn chứ không giành sự ưu ái cho bất kỳ môn
nào, tất cả các môn khoa học tự nhiên và xã hội đều có tầm quan trọng của
riêng nó. Chỉ có chí thú trong sự học, không bị đòi hỏi mà vẫn học, dốc lòng
dốc sức theo đuổi tiến bộ thì khát vọng thành công cho cuộc sống sau này của
bạn chắc chắn trở thành sự thật.
Thứ tư, đạo đức của sinh viên Trường Đại học KHXH&NV còn được
biểu hiện rõ ở tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng sâu sắc của các thế hệ
sinh viên nhà trường.
Người Việt Nam có một truyền thống vô cùng quý báu “ tinh thần đoàn
kết”, đó là một phẩm chất tốt đẹp của dân tộc. Đức tính này được Bác nhắc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status