3
BẢNG CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Chữ viết tắt
Ban Chấp hành
BCH
Bộ Chính trị
BCT
Cao đẳng
CĐ
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNH, HĐH
Công tác phát triển Đảng
CTPTĐ
Công tác phát triển đảng viên
CTPTĐV
HTCT
Giáo dục và Đào tạo
GDĐT
Khoa học xã hội và nhân văn
KHXHNV
Giáo dục Chính trị - Tư tưởng
GD CT – TT
Phát triển đảng viên
PTĐV
Phát triển Đảng
PTĐ
Trong sạch vững mạnh
TSVM
4
MỤC LỤC
ĐẠI HỌC TỈNH BẠC LIÊU HIỆN NAY
Sự phát triển của tình hình, nhiệm vụ và yêu cầu đẩy mạnh
56
công tác phát triển đảng viên trong sinh viên ở các trường
2.2.
cao đẳng, đại học tỉnh Bạc Liêu hiện nay
Những giải pháp cơ bản đẩy mạnh công tác phát triển đảng
56
viên trong sinh viên ở các trường cao đẳng, đại học tỉnh Bạc
Liêu hiện nay
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
63
92
94
99
5
6
nhất là CTPTĐV trong giáo viên, sinh niên. Do đó đó CTPTĐV đã đạt được nhiều
thành tựu quan trọng, số lượng đảng viên là giáo viên, sinh viên ngày càng tăng,
tuyệt đại đa số đảng viên đã phát huy tốt vai trò tiền phong gương mẫu, góp phần
cải thiện cơ cấu và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, năng lực lãnh đạo, sức
chiến đấu của các đảng bộ, tạo điều kiện thuận lợi để các đảng bộ lãnh đạo thực
hiện thắng lợi nhiệm vụ, nghiên cứu khoa học ở các nhà trường .
Tuy nhiên, CTPTDV trong sinh viên ở đảng bộ các nhà trường còn bộc lộ
những hạn chế nhất định cả về nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng;
cả về nội dung, hình thức, biện pháp; có lúc, có nơi còn chạy theo số lượng đơn
thuần, coi nhẹ, hạ thấp tiêu chuẩn…
Hiện nay, trước sự phát triển của tình hình nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ địa
phương, trước yêu cầu đổi mới sự nghiệp giáo dục đào tạo, đổi mới chỉnh đốn
Đảng… ở các trường CĐ, ĐH tỉnh Bạc Liêu đang đặt ra những yêu cầu mới đối với
CTPTĐV. Vì vậy, tôi chọn đề tài “Công tác phát triển đảng viên trong sinh viên ở
các trường cao đẳng, đại học tỉnh Bạc Liêu hiện nay” nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở
lý luận, thực tiễn và đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh, nâng cao chất
lượng công tác PTĐV trong sinh viên ở các trường CĐ, ĐH tỉnh Bạc Liêu là vấn đề
có ý nghĩa lý luận, thực tiễn và mang tính cấp thiết.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
CTPTĐV có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự nghiệp xây dựng Đảng. Nên,
những năm qua Đảng ta đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị, và có nhiều cơ quan, cán bộ
khoa học… nghiên cứu với nhiều góc độ khác nhau, tiêu biểu:
* Những công trình về xây dựng đội ngũ đảng viên
Phạm Đình Nhịn (1999), Nâng cao chất lượng đội ngũ Đảng viên ở đơn vị
cơ sở làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của các binh đoàn chủ lực
trong tình hình hiện nay, luận án tiến sĩ quân sự, Học viện Chính trị Quân sự, H.
viên, học viên các trường Đào tạo sỹ quan Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời
kỳ mới.
Đặng Thị Huệ (2009), Đảng Cộng sản Việt Nam với quá trình xây dựng đội
ngũ đảng viên từ năm 1996 đến năm 2006, luận văn thạc sĩ Lịch sử, trường đại học
KHXHNV Hà Nội. Tác giả đã nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về
xây dựng đội ngũ Đảng viên trong những năm đầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước (1996-2001). Trình bày quá trình xây dựng đội ngũ đảng viên của
Đảng trong những năm 2001-2006: thời cơ, thách thức mới của cách mạng nước ta
đặt ra với công tác xây dựng đội ngũ đảng viên; chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng
về xây dựng đội ngũ đảng viên từ năm 2001 đến năm 2006, tập trung vào những đối
tượng đảng viên ở khối cơ quan hành chính, sinh viên, phường, thị trấn, đội ngũ
8
đảng viên ở nông thôn, miền núi, vùng có đồng bào tôn giáo, trong các doanh
nghiệp và trong các lực lượng vũ trang. Từ đó, đưa ra kết quả, rút kinh nghiệm từ
quá trình xây dựng đội ngũ Đảng viên của Đảng.
Các công trình khoa học nói trên đều chọn khách thể, phương pháp nghiên
cứu riêng, đã có những đóng góp nhất định về lý luận và thực tiễn xung quanh vấn
đề xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Trong các công trình đều xác
định CTPTĐV là một nội dung cơ bản của công tác xây dựng đội ngũ đảng viên,
nhằm tăng cường năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và bảo đảm sự kế thừa, phát
triển liên tục của Đảng. CTPTĐV phải bảo đảm phương châm, phương hướng, điều
kiện, tiêu chuẩn, thủ tục kết nạp đảng. Đó là những đóng góp có giá trị cao, được
tác giả tham khảo, kế thừa khi nghiên cứu luận văn.
* Các công trình liên quan đến công tác phát triển đảng viên
Trần Trọng Đạo (2008), Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lãnh đạo công tác phát
triển Đảng trong đồng bào công giáo giai đoạn 1996-2006, luận văn thạc sĩ Lịch
sử, trường đại học KHXHNV thành phố HCM, HCM.
phát triển đảng viên trẻ trong tình hình mới.
Ngoài ra còn có những bài báo khoa học viết về công tác PTĐV ở các địa
phương, cơ quan đơn vị:
Nguyễn Văn Muộn (1994), “Một số suy nghĩ về công tác phát triển đảng
viên hiện nay”, tạp chí Xây dựng Đảng, (5). Phạm Quang Vịnh (2006), “Kinh
nghiệm chỉ đạo công tác phát triển đảng viên của Kon Tum”, tạp chí Xây dựng
Đảng, (11). Trần Thu Thuỷ (2006), “Làm gì để cơ sở nào cũng có đảng viên”, tạp
chí Xây dựng Đảng, (11). Phúc Sơn (2006), “Kinh nghiệm từ chỉ đạo công tác kết
nạp Đảng viên năm 2005”, tạp chí Xây dựng Đảng, (6). Trần Kiên (2006), “Kết nạp
Đảng viên trẻ: kinh nghiệm từ Tuyên Hoá”, tạp chí Xây dựng Đảng, (3). Trần Thu
Thuỷ (2006), “Kinh nghiệm từ kết nạp Đảng viên lớp Hồ Chí Minh”, tạp chí Xây
dựng Đảng, (1+2). Trần Sỹ Mỹ (2007), “Công tác đảng viên và hướng đi trong mùa
xuân mới”, tạp chí Xây dựng Đảng, (2+3). Phùng Trần Hương (2009), “Nâng cao
chất lượng công tác phát triển đảng viên”, tạp chí Xây dựng Đảng, (1+2). Nguyễn
Hồng Thắng (2013), “Phát triển đảng viên ở “thủ đô gió ngàn”, tạp chí Xây dựng
Đảng, (2+3).
Các công trình nghiên cứu và các bài báo trên đã cung cấp lý luận và thực
tiễn xung quanh CTPTĐV. Đó là những đóng góp có giá trị cao, có thể tham khảo,
kế thừa trong nghiên cứu luận văn.
* Những công trình bàn về công tác PTĐV trong nhà trường
Vũ Quang Tuyến (2000), Nâng cao chất tượng công tác bồi dưỡng nguồn
phát triển đảng trong học viên đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội ở Học viện
10
Chính trị quân sự hiện nay, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng
sản Việt Nam, Học viện chính trị Quân sự, H.
Nguyễn Thị Mỹ Trang (2001), Xây dựng đội ngũ đảng viên là thanh niên
sinh viên ở các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời
bộ Đại học Văn hoá nghệ thuật quân đội chăm lo công tác phát triển đảng viên”, tạp
chí Xây dựng Đảng, (11). Phúc Sơn (2006), “Mục tiêu cụ thể giải pháp đồng bộ”, tạp
chí Xây dựng Đảng, (11). Trần Văn Phương (2006), “Đại học Đà Nẵng phát triển
Đảng viên trong sinh viên”, tạp chí Xây dựng Đảng, (4). Phạm Bá Nhiễu (2006),
“Thành phố Hồ Chí Minh phát triển Đảng viên trong trí thức trẻ”, tạp chí Xây dựng
Đảng, (3). Mạch Quang Thắng, Trần Duy Hưng (2007), “Mùa xuân nghĩ về phát
triển đảng trong sinh viên”, tạp chí Xây dựng Đảng, (2+3). Phước Hơn (2013), “Phát
triển đảng viên trong các trường đại học, cao đẳng ở TP. Hồ Chí Minh”, tạp chí Xây
dựng Đảng, (6).
Những công trình khoa học nêu trên đều có khách thể, phương pháp nghiên
cứu riêng, nhưng có điểm chung: đối tượng nghiên cứu là CTPTĐ trong học viên,
sinh viên. Và có những đóng góp nhất định về lý luận và thực tiễn xung quanh vấn
đề CTPTĐV và PTĐ trong học sinh, sinh viên. Những đóng góp đó được tác giả
tham khảo, kế thừa trong nghiên cứu thực hiện luận văn.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu đầy đủ,
hệ thống, trực tiếp, toàn diện, chuyên sâu về công tác phát triển đảng viên trong
sinh viên ở các trường cao đẳng, đại học tỉnh Bạc Liêu.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích
Làm sáng tỏ một số vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn và đề xuất những giải
pháp cơ bản đẩy mạnh CTPTĐV trong sinh viên ở các trường CĐ, ĐH tỉnh Bạc
Liêu hiện nay.
* Nhiệm vụ
Luận giải làm sáng tỏ một số vấn đề cơ bản về CTPTĐV trong sinh viên ở
các trường CĐ, ĐH tỉnh Bạc Liêu.
Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra một số kinh nghiệm
CTPTĐV trong sinh viên ở các trường CĐ, ĐH tỉnh Bạc Liêu.
Xác định yêu cầu và đề xuất những giải pháp cơ bản đẩy mạnh CTPTĐV
trong sinh viên ở các trường CĐ, ĐH tỉnh Bạc Liêu hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
mạnh, nâng cao chất lượng CTPTĐV trong sinh viên nhằm đáp ứng yêu cầu sự
nghiệp giáo dục đào tạo, xây dựng đảng bộ nhà trường TSVM, xây dựng, phát triển
kinh tế, văn hoá - xã hội của địa phương trong thời kỳ mới.
Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy và
học tập môn xây dựng Đảng ở các trường CĐ, ĐH, trường chính trị.
7. Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo và phụ lục.
13
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG VIÊN TRONG SINH VIÊN Ở
CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC TỈNH BẠC LIÊU
1.1. Sinh viên và công tác phát triển đảng viên trong sinh viên ở các trường cao
đẳng, đại học tỉnh Bạc Liêu
1.1.1. Khái quát về sinh viên và các trường cao đẳng, đại học tỉnh Bạc
Liêu
* Các trường cao đẳng, đại học tỉnh Bạc Liêu
Để đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực cho quá trình phát triển của tỉnh và khu
vực Đồng bằng sông Cửu Long trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, những năm
qua được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo; Tỉnh uỷ và
Uỷ Ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu đã nâng cấp hai trường trung cấp lên cao đẳng đó
là: Trường Cao đẳng Y tế Bạc Liêu và trường Cao đẳng nghề Bạc Liêu; nâng cấp
trường Cao đẳng Sư phạm Bạc Liêu lên Đại học Bạc Liêu.
Mục tiêu đào tạo của các trường:
Mục tiêu của trường Cao đẳng nghề Bạc Liêu là đào tạo nguồn nhân lực có
phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ cao đẳng, trung cấp, sơ cấp
trường.
Về quy mô đào tạo:
Hiện nay trường Đại học Bạc liêu đã có các bậc đào tạo: đại học, cao đẳng,
liên kết đào tạo đại học, sau đại học với các trường trong toàn quốc. Năm 2013 nhà
trường đã tuyển 1225 sinh viên hệ cao đẳng, đại học chính quy, hệ vừa làm vừa học
là 418, liên kết đào tạo đại học là 345, cao học là 40.
Trường Cao đẳng nghề Bạc Liêu đào tạo các bậc: cao đẳng nghề, trung cấp
nghề và sơ cấp nghề, dạy nghề thường xuyên. Năm 2013, trường có tổng số 52 sinh
viên cao đẳng, 58 học sinh trung cấp.
Trường Cao đẳng Y tế Bạc Liêu đào tạo các bậc: cao đẳng, trung cấp y, liên
kết đào tạo đại học, sau đại học. Năm 2013, trường có 1193 học sinh - sinh viên,
trong đó gần 400 sinh viên cao đẳng.
Về địa bàn trụ sở:
Các trường CĐ, ĐH đều đứng chân trên địa bàn thành phố Bạc Liêu gần với
trung tâm chính trị - hành chính, văn hóa, vui chơi giải trí của tỉnh.
* Tổ chức Đảng ở các trường cao đẳng, đại học tỉnh Bạc Liêu.
Đảng bộ ở các trường CĐ, ĐH tỉnh Bạc Liêu có chức năng là hạt nhân chính
trị, lãnh đạo tất cả các mặt công tác của nhà trường như: lãnh đạo nhà trường thực
hiện tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước,
nhiệm vụ chính trị của địa phương; lãnh đạo xây dựng và thực hiện có hiệu quả các
15
chủ trương, nhiệm vụ quản lý giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, hợp
tác nghiên cứu khoa học thuộc các lĩnh vực khoa học cơ bản và khoa học công
nghệ; lãnh đạo nhà trường tích cực tham gia xây dựng địa phương giàu đẹp, văn
minh; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, công chức, giảng viên,
chuyên viên và người lao động; xây dựng đảng bộ TSVM và nhà trường vững mạnh
toàn diện.
mọi lĩnh vực. Tuyên truyền, vận động làm cho mọi lực lượng trong nhà trường hiểu
và chấp hành đúng đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà
nước và các nhiệm vụ của địa phương; kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của
cán bộ, giáo viên, sinh viên… để giải quyết và báo cáo lên cấp trên. Lãnh đạo mọi
lực lượng trong nhà trường đấu tranh chống các quan điểm sai trái, những hành vi
nói, viết và làm trái với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước;
chống tư tưởng thực dụng, cơ hội, bè phái, gia trưởng, bảo thủ, lạc hậu, mê tín, dị
đoan; phòng chống sự suy thoái về đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên, giáo
viên.
Thứ ba: Lãnh đạo công tác tổ chức, cán bộ.
Lãnh đạo xây dựng hệ thống quản lý, các khoa chủ quản, các tổ chức quần
chúng trong nhà trường vững mạnh; xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, tích cực tạo nguồn cán bộ tại chỗ, từng bước trẻ hoá đội ngũ cán bộ.
Xây dựng, thực hiện tốt quy chế công tác cán bộ. Quy hoạch, tạo nguồn, bồi
dưỡng, quản lý, nhận xét, đánh giá, bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, và
thực hiện chính sách đối với cán bộ nhà trường theo phân cấp; giới thiệu người đủ
tiêu chuẩn, có tín nhiệm để bầu vào các chức danh chủ chốt của các tổ chức trong
hệ thống chính trị ở địa phương theo quy định.
Thứ tư: Lãnh đạo các tổ chức quần chúng.
Lãnh đạo xây dựng các tổ chức quần chúng vững mạnh, thực hiện đúng chức
năng, nhiệm vụ theo luật định và Điều lệ của mỗi đoàn thể. Thực hiện tốt các chính
sách về dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước, xây dựng khối đoàn kết trong nhà
trường, phát huy quyền làm chủ của mọi người, thi đua thực hiện có hiệu quả các
nhiệm vụ được giao.
Lãnh đạo các tổ chức quần chúng tham gia xây dựng, bảo vệ đường lối chủ
chương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ của địa phương.
Thứ năm: Thực hiện nhiệm vụ xây dựng đảng bộ.
Xây dựng đảng bộ TSVM, gắn xây dựng các tổ chức đảng với xây dựng,
củng cố các tổ chức trong nhà trường vững mạnh toàn diện; nâng cao năng lực lãnh
đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên, phát hiện và đấu tranh
đảng viên là sinh viên, gồm có 8 chi bộ, 1 chi bộ có 2 tổ đảng. Trong đó có 3 chi bộ
khoa chủ quản sinh viên. Từ khi thành lập trường đến nay, số lượng đảng viên luôn
dao động theo hàng năm. Năm 2008, đảng bộ thành lập chi bộ sinh viên, nhưng đến
tháng 12 năm 2011 đã sáp nhập với chi bộ Phòng CTCT – QLSV.
Trong năm 2012, Ban thường vụ Đảng ủy khối các cơ quan tỉnh Bạc Liêu đã
có quyết định số 316 – QĐ/ĐUK ngày 16 tháng 8 năm 2012, về việc nâng cấp chi
bộ cơ sở trường Cao đẳng Y tế Bạc Liêu thành đảng bộ cơ sở. Hiện nay, tổng số
18
đảng viên của đảng bộ là 34, trong đó có 4 đảng viên là sinh viên, gồm 3 chi bộ cơ
sở trực thuộc. Từ năm 2010, trường đã có Tổ Đảng học sinh – sinh viên, đến nay là
chi bộ khối học sinh – sinh viên.
Chi bộ trường Cao đẳng nghề Bạc Liêu hiện có 24 đảng viên. Do mới được
nâng cấp từ trung cấp lên cao đẳng nên số lượng sinh viên còn ít, và chưa có sinh
viên được kết nạp Đảng.
Đảng bộ các trường CĐ, ĐH tỉnh Bạc Liêu trực thuộc Đảng bộ Khối các cơ
quan tỉnh. Trong CTPTĐV, Đảng bộ các nhà trường phải báo cáo, trình lên Đảng
ủy Khối để quyết định kết nạp đảng viên, công nhận đảng viên chính thức.
* Sinh viên ở các trường cao đẳng, đại học tỉnh Bạc Liêu
Quan niệm về sinh viên
Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, sinh viên là: “Người học ở
bậc đại học” [34, tr.829].
Từ điển Bách khoa Việt Nam, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa Việt Nam,
Hà Nội năm 2002 định nghĩa: “Học sinh cao đẳng, đại học là sinh viên, học sinh các
trường trung học và cao đẳng sư phạm là giáo sinh”.
Theo Luật Giáo dục đại học 2012 quy định: “Người học là người đang học
tập và nghiên cứu khoa học tại cơ sở giáo dục đại học, gồm sinh viên của chương
đời còn trẻ, sinh ra trong điều kiện đất nước hòa bình, phát triển. Hầu hết, sinh viên
là đoàn viên, thanh niên, có tuổi đời từ 18 đến 23, được giáo dục, rèn luyện trong hệ
thống nhà trường XHCN. Ưu điểm nổi bật của sinh viên là: có nếp sống, thói quen
lành mạnh, trung thực, thẳng thắn, thật thà trong các mối quan hệ, luôn kính trọng
thầy, cô; thông minh, sáng tạo, trình độ văn hoá cao. Ở một mức độ nhất định, họ có
nhận thức đúng đắn về Đảng Cộng sản Việt Nam, về lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng,
đạo đức lối sống XHCN; họ rất nhiệt tình sôi nổi trong tham gia các hoạt động tập
thể, các phong trào hành động cách mạng do nhà trường và đoàn thể phát động. Bên
cạnh đó họ có nhiều ước mơ hoài bão, khát khao lý tưởng, thích hướng về tương lai,
ưa công bằng bình đẳng, luôn muốn tự khẳng định mình, ham học cầu tiến bộ, dễ
tiếp thu cái mới… Đây là những chất liệu quý là điều kiện thuận lợi để đào tạo
nguồn nhân lực chất lượng cao và hình thành, phát triển những nhân cách cộng sản.
Trình độ nhận thức của sinh viên về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội không
đồng đều, nhân cách đang hình thành. Bản lĩnh chính trị chưa vững vàng, dễ bi
quan, dao động trước những thử thách khó khăn. Sinh viên các trường CĐ, ĐH tỉnh
Bạc Liêu họ được tuyển sinh qua hình thức xét tuyển nguyện vọng 2 đối với hệ ĐH,
20
thi tuyển ở hệ CĐ. Do đa dạng về đối tượng tuyển sinh nên nhận thức của sinh viên
về chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội có sự chênh lệch nhất định. Măt khác, do tuổi
đời còn trẻ và chưa được rèn luyện thử thách nhiều nên bản lĩnh chính trị, sự giác
ngộ giai cấp của sinh viên còn hạn chế, chưa vững vàng dễ bi quan, dao động trước
những thử thách, khó khăn. Trong học tập, một bộ phận sinh viên xác định động cơ
nghề nghiệp chưa thật ổn định vững chắc; nhận thức trách nhiệm của một số sinh
viên còn đơn giản, thiếu chín chắn, thiếu kinh nghiệm trong hoạt động chính trị - xã
hội, trình độ giác ngộ cách mạng, tự định hướng tình cảm, ý chí còn hạn chế. Trong
điều kiện kinh tế thị trường và sự bùng nổ thông tin số hiện nay, sinh viên rất dễ bị
tác động, bị lôi kéo hay bi quan, chán nản, thiếu nhẫn nại kiên trì khi gặp phải tình
chế huấn luyện, sinh viên được rèn luyện trong môi trường học tập với cường độ
lớn. Ngoài giờ học trên lớp, sinh viên phải tự nghiên cứu, thực hành trong phòng thí
nghiệm, trong bệnh viện… để lĩnh hội tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo đáp ứng
yêu cầu của môn học. Đồng thời, họ còn tham gia các phong trào hành động cách
mạng do nhà trường, Đoàn thanh niên, Hội sinh viên tổ chức. Môi trường học tập,
rèn luyện ở các trường CĐ, ĐH không chỉ là nơi hun đúc, rèn luyện ra những cán
bộ, người cán bộ kỹ thuật mà còn là môi trường lý tưởng để sản sinh ra những nhân
cách cộng sản.
1.1.2. Một số vấn đề cơ bản về công tác phát triển đảng viên trong sinh
viên ở các trường cao đẳng, đại học tỉnh Bạc Liêu
* Quan niệm về công tác phát triển đảng viên trong sinh viên ở các trường
cao đẳng, đại học tỉnh Bạc Liêu
PTĐ là một nội dung cơ bản trong học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh về xây dựng chính Đảng cách mạng của giai cấp công nhân. Các nhà kinh
điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ chí Minh và Đảng ta đều thống nhất
cho rằng:
PTĐ là một quy luật tồn tại và phát triển của Đảng, là quá trình Đảng lựa
chọn, bồi dưỡng, rèn luyện thử thách chuyển hoá những quần chúng ưu tú trong
thực tiễn đấu tranh cách mạng thành đảng viên cộng sản, nhằm hoàn thành tốt
nhiệm vụ đội tiên phong của giai cấp và của dân tộc.
PTĐ là một nhiêm vụ của công tác xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ đảng
viên, công tác PTĐ phải luôn luôn xuất phát từ yêu cầu bản chất giai cấp công nhân,
đường lối nhiệm vụ chính trị của Đảng và phải nhằm giữ vững, tăng cường bản chất
giai cấp công nhân, nâng cao năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của Đảng, thực hiện
thắng lợi đường lối, nhiệm vụ chính trị của Đảng trong mỗi thời kỳ cách mạng.
22
PTĐ luôn luôn đi đôi với củng cố Đảng. Một mặt, kết nạp những người ưu tú, đủ
23
huy được sức mạnh tổng hợp các ngành, các giới, các lực lượng cách mạng cùng
tham gia.
Như vậy, thuật ngữ PTĐ sử dụng trong di sản lý luận của các nhà kinh điển
Mác - Lênin, các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và văn kiện của Đảng Cộng
sản Viêt Nam là để chỉ CTPTĐV. Công tác này là một bộ phận của hoạt động xây
dựng đội ngũ đảng viên của Đảng. Thực chất là quá trình Đảng lựa chọn, giáo dục
chuyển hoá những quần chúng ưu tú trong đấu tranh cách mạng thành đảng viên
cộng sản. Theo đó có thể quan niệm về công tác PTĐV trong sinh viên ở các trương
CĐ, ĐH tỉnh Bạc Liêu như sau :
Công tác phát triển đảng viên trong sinh viên ở các trường cao đẳng, đại
học tỉnh Bạc Liêu là hoạt động cơ bản, thường xuyên của công tác xây dựng Đảng,
là quá trình đảng bộ nhà trường tiến hành tổng thể các hoạt động tuyên truyền,
giáo dục, rèn luyện, phát hiện, lựa chọn, bồi dưỡng, thử thách, và xem xét kết nạp
những sinh viên ưu tú vào Đảng, nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
hoạt động của Nhà trường và xây dựng đảng bộ Nhà trường trong sạch, vững mạnh
có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục đào
tạo, nghiên cứu khoa học của nhà trường trong từng thời kỳ.
Mục đích của CTPTĐ trong sinh viên ở các trường CĐ, ĐH tỉnh Bạc Liêu là
nhằm tăng cường nguồn sinh lực và trí tuệ cho Đảng, trẻ hoá đội ngũ đảng viên,
nâng cao năng lực sức chiến đấu cho đảng bộ các nhà trường, đảng bộ tỉnh Bạc
Liêu. Đồng thời góp phần xây dựng các nhà trường vững mạnh toàn diện, hoàn
thành tốt nhiệm vụ GDĐT.
Chủ thể lãnh đạo CTPTĐ trong sinh viên ở các trường CĐ, ĐH tỉnh Bạc
Liêu là các cấp uỷ, tổ chức đảng trong nhà trường. Các cơ quan chức năng, tổ chức
đoàn thanh niên, hội sinh viên, cán bộ lãnh đạo quản lý, giảng viên, đảng viên là
chủ thể tham mưu, quản lý, tổ chức, thực hiện.
Lực lượng tham gia CTPTĐ trong sinh viên là toàn thể các tổ chức, các lực
dưỡng, rèn luyện theo tiêu chuẩn đảng viên; giáo dục thông qua học tập, lao động
sản xuất, phong trào cách mạng; giáo dục bằng thuyết phục nêu gương, tự phê và
phê bình trong các đoàn thể cách mạng, thông qua đó cảm hoá, xây dựng, nâng dần
trình độ giác ngộ của quần chúng từ thấp lên cao, từ giác ngộ dân tộc đến giác ngộ
giai cấp, từ tán thành chủ trương chính sách của Đảng đi đến ủng hộ, đấu tranh cho
sự nghiêp cách mạng của Đảng và tự nguyện xin gia nhập Đảng.
Bước 3: Xét kết nạp quần chúng đủ điều kiện, tiêu chuẩn vào Đảng theo
đúng thủ tục mà Điều lệ Đảng đã quy định.
25
Bước 4: Bồi dưỡng, rèn luyện đảng viên dự bị và xét công nhận đảng viên dự
bị thành đảng viên chính thức.
Đó là toàn bộ nội dung của quy trình PTĐV đòi hỏi bắt buộc các tổ chức
đảng phải chấp hành một cách nghiêm túc.
* Phương châm, điều kiện, thủ tục, nguyên tắc kết nạp đảng viên
Phương châm phát triển Đảng là quan điểm nguyên tắc chỉ đạo quá trình
tiến hành công tác phát triển Đảng. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X khẳng định:
“Chú trọng và tăng cường công tác phát triển Ðảng, sớm khắc phục tình trạng một
số cơ sở, địa bàn chưa có đảng viên, tổ chức đảng. Việc kết nạp đảng viên phải coi
trọng chất lượng, tiêu chuẩn, đặc biệt tiêu chuẩn giác ngộ lý tưởng của Ðảng, đạo
đức lối sống, năng lực hoàn thành nhiệm vụ” [6; tr.301]. Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ XI nhấn mạnh: PTĐV phải chú trọng chất lượng “Đổi mới, tăng cường công
tác quản lý, phát triển đảng viên, bảo đảm chất lượng đảng viên theo yêu cầu của
Điều lệ Đảng” [7; tr.260]. Như vậy, nội dung cụ thể của phương châm là:
Một là, PTĐ phải giải quyết đúng mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng,
trong đó chất lượng là yếu tố quan trọng hàng đầu. PTĐ phải đáp ứng đồng thời
giữa yêu cầu cao về chất lượng và số lượng thích hợp; coi trọng chất lượng, bảo
đảm tiêu chuẩn, không chạy theo số lượng đơn thuần. Trong bất cứ điều kiện hoàn
Ba là, kết nạp vào Đảng những quần chúng ưu tú trong nông dân, trí thức,
cán bộ khoa học, kỹ thuật, giáo viên, sinh viên, học sinh các trường ĐH, CĐ, trong
lực lượng vũ trang, phụ nữ, dân tộc ít người và ở những cơ sở trọng điểm còn ít
đảng viên hoặc chưa có đảng viên.
Bốn là, lựa chọn kết nạp vào Đảng những quần chúng ưu tú trong các tầng
lớp nhân dân lao động, quần chúng ưu tú ở các ngành kinh tế - kỹ thuật trong các
doanh nghiệp nhà nước, tư nhân, liên doanh với nước ngoài, trong vùng đồng bào
có đạo.
Phương hướng PTĐV đã nêu trên là kim chỉ nam, tạo thuận lợi cho CTPTĐ
nói chung và CTPTĐ trong sinh viên nói riêng. Các cấp ủy đảng khi tiến hành
CTPTĐ phải quán triệt phương hướng này trong xác định cơ cấu đội ngũ đảng viên.
Điều kiện, kết nạp đảng viên.
Để bảo đảm chất lượng đảng viên ngay từ khi mới kết nạp, Đảng ta đã xác
định chính xác các điều kiện kết nạp đảng viên và đòi hỏi các tổ chức đảng phải
thực hiện nghiêm túc vì đây là một trong những vấn đề then chốt trong việc hình
thành Đảng. Trong giai đoạn hiện nay, với mục đích xây dựng Đảng cách mạng của
giai cấp công nhân Việt Nam vững mạnh, điều 1 Điều lệ ĐCSVN (Khóa XI) đã quy
27
định điều kiện của người được xét công nhận là đảng viên của Đảng là những “công
dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, thừa nhận và tự nguyện: thực hiện cương lĩnh chính
trị, điều lệ Đảng, tiêu chuẩn và nhiệm vụ đảng viên, hoạt động trong một tổ chức cơ
sở đảng chứng tỏ là người ưu tú, được nhân dân tín nhiệm, đều có thể được xét kết
nạp vào Đảng” [8; tr.8]. Đây là những yếu tố cần có đối với người xin gia nhập Đảng,
là cơ sở để các tổ chức đảng lựa chọn xem xét, kết nạp quần chúng vào Đảng.
CTPTĐ trong sinh viên ở các trường CĐ, ĐH tỉnh Bạc Liêu, cần chú ý: Trình độ học
vấn của người vào Đảng phải có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc tương
đương; về lịch sử chính trị thực hiện theo Quy định của Bộ Chính trị; không kết nạp