LUẬN văn THẠC sĩ CÔNG tác PHÁT TRIỂN ĐẢNG VIÊN nữ của các ĐẢNG bộ xã TỈNH sóc TRĂNG HIỆN NAY - Pdf 40

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Đảng viên là tế bào của Đảng, là người tham gia tích cực vào quá trình
xây dựng tổ chức, thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước. Phát triển đảng viên là nhiệm vụ quan trọng,
thường xuyên, là vấn đề có tính quy luật trong công tác XDĐ, bảo đảm cho
Đảng tồn tại, phát triển, có sức sống mạnh mẽ, xứng đáng là đội tiên phong
của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Xây dựng
ĐNĐV có chất lượng cao, số lượng đủ là nhân tố cơ bản quyết định năng lực
lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Chính vì vậy, ngay từ khi mới ra đời và
trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm đến công tác
phát triển Đảng.
Thực tiễn hơn 80 năm xây dựng và trưởng thành của ĐCSVN cho thấy,
công tác phát triển đảng là nội dung rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến
sự sống còn của Đảng, sự thành bại của cách mạng. Tiến hành CTPTĐV, xây
dựng ĐNĐV là cơ sở nền tảng để xây dựng các tổ chức cơ sở đảng TSVM,
nâng cao năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của Đảng, để lãnh đạo toàn dân
thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt
Nam, đặc biệt là từ khi có Đảng lãnh đạo, phụ nữ Việt Nam đã đóng góp vai
trò quan trọng trên các lĩnh vực hoạt động, lớp lớp phụ nữ Việt Nam, bằng
công sức, trí tuệ đã xây dựng nên truyền thống “kiên cường, bất khuất, trung
hậu, đảm đang”, nhiều chị em phụ nữ đã phấn đấu đứng trong hàng ngũ của
Đảng, được giao giữ trọng trách lãnh đạo trên các lĩnh vực công tác và ngày
càng khẳng định được vai trò bình đẳng của người phụ nữ trong chế độ xã hội
mới. Phát triển đảng viên nữ là một trong những biện pháp góp phần xây

3




Tiến hành CTPTĐV nói chung và PTĐV trong đội ngũ cán bộ nữ là
vấn đề quan trọng, là một trong những chủ trương luôn được Đảng ta quan
tâm chỉ đạo trong công tác XDĐ. Vì vậy, Đảng đã có nhiều chỉ thị, nghị
quyết; các cán bộ lãnh đạo, các nhà khoa học đã có nhiều công trình khoa học,
luận văn, luận án nghiên cứu, đề cập vấn đề này. Tiêu biểu là:
Bộ Quốc phòng (1996) “Phát triển bồi dưỡng nâng cao chất lượng
đảng viên trong quá trình đào tạo cán bộ các trường sỹ quan Quân đội”, đề
tài cấp bộ do Trường Sỹ quan Lục quân I thực hiện. Trong đề tài này, các tác
giả đã làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn của CTPTĐV và
bồi dưỡng ĐNĐV là học viên gắn liền với quá trình đào tạo đội ngũ cán bộ
cho Quân đội.
Nguyễn Thị Mỹ Trang (2001), “Xây dựng đội ngũ đảng viên là sinh viên
ở các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn Thành phố Hà Nội”, luận án tiến sỹ
khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng ĐCSVN. Tác giả đã đi sâu phân
tích, đánh giá, làm rõ: vị trí, vai trò của CTPTĐV trong sinh viên - nguồn nhân
lực chất lượng cao trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đặc điểm đối
tượng đảng viên là sinh viên và sự tác động ảnh hưởng của tình hình thế giới,
trong nước đến ĐNĐV là sinh viên; đánh giá thực trạng CTPTĐV trong sinh
viên ở các trường đại học cao đẳng trên địa bàn Thành phố Hà Nội trong những
năm qua, mặc dù tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp ra trường được kết nạp vào Đảng
ngày càng tăng, nhưng so với nhu cầu, tiềm năng thì vẫn còn hạn chế. Luận án
đã xác định những cụm giải pháp tập trung vào công tác tuyên truyền giáo dục,
xây dựng nhận thức, động cơ, quyết tâm phấn đấu, tu dưỡng rèn luyện cho sinh
viên, xác định rõ trách nhiệm của các tổ chức đảng, nhất là các chi bộ sinh viên
trong trường, các phòng, khoa chức năng, các tổ chức đoàn thanh niên, hội sinh
viên, xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể của người đảng viên là sinh viên để
quần chúng tu dưỡng, phấn đấu rèn luyện.

5

lượng trong công tác phát triển ĐNĐV; thường xuyên quán triệt sâu sắc thực
6


hiện nghiêm túc, điều kiện, phương châm phương hướng kết nạp đảng viên
trong Quân đội; các cấp ủy tổ chức đảng, cơ quan chính trị phải làm tốt công
tác lựa chọn, giáo dục, bồi dưỡng nguồn kết nạp đảng; kết hợp CTPTĐV với
xây dựng tổ chức đảng TSVM, đơn vị VMTD, tạo môi trường tích cực cho
quá trình phấn đấu rèn luyện của quần chúng vào Đảng; tổ chức kết nạp quần
chúng ưu tú vào Đảng đúng nguyên tắc thủ tục và giáo dục bồi dưỡng đảng
viên dự bị để chuyển thành đảng viên chính thức đúng kỳ hạn.
Nguyễn Văn Chất (2005), “Nâng cao chất lượng giáo dục rèn luyện
đảng viên là học viên người dân tộc thiểu số đào tạo cán bộ chính trị cấp
phân đội ở Học viện Chính trị Quân sự trong giai đoạn hiện nay”, luận văn
thạc sỹ khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng ĐCSVN. Luận văn đã đi
sâu phân tích làm rõ đặc điểm của đảng viên là người dân tộc thiểu số, đào tạo
cán bộ chính trị cấp phân đội với những nét đặc trưng về văn hóa, phong tục
tập quán, cá tính, từ đó đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục
rèn luyện đảng viên là người dân tộc thiểu số nói chung và đào tạo cán bộ
chính trị cấp phân đội nói riêng, từng bước hoàn thiện phẩm chất năng lực,
phương pháp tác phong công tác, đáp ứng tiêu chuẩn đảng viên, đủ điều kiện
hoàn thành nhiệm vụ, chức trách được giao khi tốt nghiệp ra trường về đơn vị
công tác.
GS.TS Mạch Quạng Thắng (chủ biên) (2006), “Đảng viên và phát triển
đảng viên trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, Nxb
Lao động.H. Các tác giả đã nghiên cứu, đánh giá tình hình, chất lượng đội
ngũ đảng viên và CTPTĐV trong nhiệm kỳ Đại hội Đảng VIII (1996 - 2001)
và từ Đại hội IX của Đảng đến nay, luận giải rõ nội hàm tiêu chuẩn phấn đấu
của người đảng viên được xác định trong Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam,
chỉ rõ những yêu cầu có tính đặc thù đặt ra với CTPTĐV trong điều kiện nền

pháp; luận văn thạc sỹ khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng ĐCSVN
của Dương Trung Ý (2001).

8


Trong công trình luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành xây
dựng Đảng cộng sản Việt Nam về vấn đề: “Phát triển đảng viên là người dân
tộc Khmer của các đảng bộ xã, thị trấn ở tỉnh Sóc Trăng giai đoạn hiện nay”
của Nguyễn Thị Kiều Linh (2012), tác giả luận văn đã tập trung luận rõ những
đặc điểm, yêu cầu mang tính đặc trưng của công tác PTĐV trong đồng bào
Khmer trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng, từ đó đề xuất những giải pháp góp phần
nâng cao chất lượng công tác PTĐV là người dân tộc Khmer ở các đảng bộ
xã, thị trấn trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng. Kết quả nghiên cứu của tác giả đã góp
phần làm phong phú thêm lý luận và thực tiễn về chất lượng công tác phát
triển đảng viên trong đồng bào Khmer ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay.
Các công trình khoa học, luận văn, luận án nêu trên của các tác giả đã
đi sâu luận giải làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, chỉ ra những ưu điểm,
khuyết điểm, nguyên nhân, rút ra những bài học kinh nghiệm ở từng lĩnh vực.
Trên cơ sở nghiên cứu những yếu tố tác động, cả khách quan và chủ quan của
từng lĩnh vực, phạm vi, đối tượng cụ thể để xác định phương hướng, yêu cầu
và hệ thống các giải pháp đa dạng phong phú, phù hợp với đối tượng nghiên
cứu đã xác định. Kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học, luận văn,
luận án trên đây có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn cần được tiếp tục kế
thừa, phát triển, vận dụng phù hợp với tình hình hiện nay.
Tuy nhiên, CTPTĐV là vấn đề rất quan trọng gắn liền với sự phát triển
và xây dựng các tổ chức đảng TSVM, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến
đấu của Đảng, gắn liền với tính đặc thù của từng đối tượng, từng loại hình cơ
quan, đơn vị, nhà trường, từng lĩnh vực hoạt động của xã hội. Thực tiễn
CTPTĐV nữ ở các đảng bộ xã trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng có những đặc thù,

phát triển đảng viên; các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng
sản Việt Nam, các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung

10


ương về CTPTĐV và xây dựng ĐNĐV. Đồng thời, luận văn kế thừa, tham
khảo kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan đã nghiệm
thu, công bố.
* Cơ sở thực tiễn
Hiện thực CTPTĐV nữ của các đảng bộ xã ở tỉnh Sóc Trăng; tham
khảo các tài liệu, số liệu trong các báo cáo, tổng kết về công tác xây dựng
Đảng có liên quan trực tiếp đến CTPTĐV nữ của Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng từ
năm 2010 đến nay và các số liệu điều tra khảo sát, trưng cầu ý kiến trong quá
trình nghiên cứu của tác giả ở các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng.
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa
học chuyên ngành và liên ngành, trong đó đặc biệt chú ý các phương pháp
logic và lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, điều tra khảo sát, tổng
kết thực tiễn và phương pháp xin ý kiến chuyên gia.
6. Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn cung cấp thêm cơ sở khoa học giúp
cho các cấp ủy, tổ chức đảng của Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng trong lãnh đạo, chỉ
đạo tiến hành CTPTĐV nữ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo,
nghiên cứu trong giảng dạy môn xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước.
7. Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm: Phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo và phần phụ lục.

và 40.191 ha trồng cây lâu năm và cây ăn trái (số liệu được cập nhật theo niên
12


giám thống kê Sóc Trăng 2010). Sóc Trăng có hệ thống sông ngòi chằng chịt,
điều kiện đi lại khó khăn, ảnh hưởng đến việc giao thương hàng hóa. Dân cư
Sóc Trăng chủ yếu gồm ba dân tộc: Kinh (835.629 người, chiếm 64,24%),
Khmer (399.463 người, chiếm 30,71%), Hoa (65.311 người, chiếm 5,02%),
đã cùng chung sức khai phá, xây dựng và bảo vệ vùng đất này.
* Các đảng bộ xã ở tỉnh Sóc Trăng :
Các đảng bộ xã ở tỉnh Sóc Trăng được hình thành khá sớm, với tiền
thân là các chi bộ, sau phát triển thành đảng bộ trong những năm 1930, hiện
nay được tổ chức thành đảng bộ 2 cấp, dưới đảng bộ xã là các chi bộ trực
thuộc và đảng bộ bộ phận, không có chi bộ cơ sở xã. Quy mô các đảng bộ xã
có từ 160 đến 315 đảng viên, sinh hoạt ở các chi bộ ngành, chi bộ khóm, ấp.
Khi mới tách tỉnh, Tỉnh ủy Sóc Trăng có 10 đảng bộ trực thuộc gồm: 06
đảng bộ huyện, 01 đảng bộ thị xã và 03 đảng ủy (Công an, Quân sự, Bộ đội
biên phòng). Đến tháng 12/2013, Tỉnh ủy Sóc Trăng có 16 đảng bộ trực thuộc
gồm: 09 đảng bộ huyện, 02 đảng bộ thị xã, 01 đảng bộ thành phố và 05 đảng
ủy (Công an, Quân sự, Bộ đội biên phòng, Khối các cơ quan, Khối doanh
nghiệp). Đến tháng 12/2013 toàn tỉnh có 693 tổ chức cơ sở đảng với 2.527
chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở (trong đó có 1.934 chi bộ trực thuộc đảng ủy
xã, phường, thị trấn).
Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng đã có nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất
lượng đội ngũ đảng viên như đào tạo, đào tạo lại cho đảng viên, mạnh dạn bố
trí, phân công đảng viên về công tác ở cơ sở nhằm giúp đảng viên được cọ sát
thực tế, rèn luyện trong thực tiễn để đúc kết kinh nghiệm và quan trọng hơn
hết là lựa chọn, tạo nguồn bồi dưỡng quần chúng ưu tú kết nạp vào Đảng, vừa
đảm bảo chất lượng đội ngũ đảng viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, vừa thực
hiện trẻ hóa đội ngũ đảng viên, tăng sinh lực cho Đảng nâng cao năng lực

Mức độ hoàn thành nhiệm vụ của đội ngũ đảng viên có sự phát triển tiến bộ
theo từng năm, nếu như năm 2008 tỷ lệ đảng viên đủ tư cách hoàn thành
14


nhiệm vụ là 84,09% thì đến năm 2014 đã có 100% đảng viên đủ tư cách hoàn
thành nhiệm vụ (trong đó 16,48% đảng viên đủ tư cách hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ, 83,52% đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ).
Các đảng bộ xã ở tỉnh Sóc Trăng là nền tảng của Đảng bộ tỉnh, là
loại hình tổ chức chiếm phần lớn tổ chức đảng và đảng viên của Đảng bộ tỉnh,
là nơi trực tiếp quản lý, giáo dục, rèn luyện và phát triển ĐNĐV ở nông thôn.
Các đảng bộ xã là hạt nhân chính trị ở xã, trực tiếp lãnh đạo quần chúng nhân
dân ở địa phương thực hiện các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước, nhất là đường lối phát triển nông nghiệp, xây dựng
nông thôn mới; có vai trò quan trọng trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn
dân, thế trận an ninh nhân dân, quốc phòng toàn dân, là cầu nối giữa Đảng với
nhân dân, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng của quần chúng nhân dân
để phản ánh với Đảng. Các đảng bộ xã cũng là nơi góp phần cung cấp cho
Đảng bộ tỉnh nguồn nhân lực mới để tăng cường số lượng và chất lượng cán
bộ, đảng viên, xây dựng Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng trong sạch, vững mạnh, đáp
ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới.
* Đội ngũ đảng viên nữ ở các đảng bộ xã trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng .
Sức mạnh của Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng được tạo thành từ chất lượng
đội ngũ đảng viên của Đảng bộ. Đội ngũ đảng viên của tỉnh Sóc Trăng phần
lớn được trải qua kháng chiến gian khổ, vượt qua thử thách, rèn luyện và
trưởng thành. Trong điều kiện hiện nay, đội ngũ đảng viên của đảng bộ tiếp
tục phấn đấu rèn luyện, học tập nâng cao trình độ chính trị, trình độ chuyên
môn, kiến thức về quản lý nhà nước, quản lý xã hội, vềkiến thức kinh tế thị
trường, đáp ứng đòi hỏi sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Tính đến năm 2014, dân số toàn tỉnh Sóc Trăng đạt gần 1.303.700

nhân, phụ nữ với kiến thức pháp luật, gia đình hạnh phúc, tổ phụ nữ 5 không
3 sạch, tổ phụ nữ nuôi dạy con ngoan... Đây không chỉ là cơ hội thuận lợi để
chị em thi đua phấn đấu mà còn là điều kiện tốt giúp cơ sở đảng tháo gỡ khó
khăn trong công tác tạo nguồn phát triển đảng viên là nữ. Hiện nay, đảng viên
16


nữ ở địa bàn tỉnh Sóc Trăng được cơ cấu đều khắp các sở ban, ngành từ tỉnh
đến huyện, xã và địa bàn dân cư (kể cả ở khu công nghiệp của tỉnh và các xí
nghiệp trên địa bàn tỉnh). Đảng viên nữ ở các đảng bộ xã trên địa bàn tỉnh Sóc
Trăng phần lớn là phụ nữ trực tiếp lao động, sản xuất nông nghiệp, là đồng
bào dân tộc và theo đạo nên còn nhiều ràng buộc về tập tục.
Sóc Trăng là một địa phương vùng sâu, vùng xa, trình độ dân trí nói
chung của nhân dân Sóc Trăng còn thấp so với cả nước. Tỷ lệ đồng bào dân
tộc và đồng bào theo đạo chiếm khá cao, trong đó một số dân tộc như đồng
bào Khơmer, đồng bào theo đạo Ky tô giáo hoặc Hồi giáo có nhiều quan niệm
khắc khe về quan hệ xã hội của người phụ nữ. Truyền thống văn hóa đã để lại
cho phụ nữ ở địa bàn tỉnh Sóc Trăng đến nay vẫn còn biểu hiện tự ti, an phận,
chưa có ý chí phấn đấu vươn lên; quan niệm “việc nhà là của phụ nữ” còn tồn
tại khá phổ biến trong đời sống xã hội của tỉnh Sóc Trăng, từ đó đẫn đến tình
trạng chị em phụ nữ ít nhận được sự chia sẻ của nam giới cũng như sự ủng hộ
của gia đình và người chồng khi tham gia công tác xã hội. Thực tế cho thấy,
chị em phụ nữ trên địa bàn Sóc Trăng phải chịu nhiều sức ép khi vừa phải
phấn đấu trong chuyên môn, vừa phải gánh vác hầu hết vai trò đảm đương nội
trợ, vì vậy, một bộ phận không nhỏ phụ nữ nảy sinh tư tưởng an phận, chấp
nhận hoàn cảnh và không muốn tham gia phấn đấu trở thành đảng viên hoặc
đảm nhận các vị trí công tác xã hội.
Đảng viên nữ ở các đảng bộ xã trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng còn những
hạn chế bất cập về trình độ văn hóa. Do hoàn cảnh lịch sử để lại, mặt bằng
văn hóa của chị em phụ nữ ở tỉnh Sóc Trăng nhìn chung còn thấp so với nam

có những đảng viên mới không phải là để quảng cáo mà là để làm việc thật
sự. Những người đó chúng ta kêu gọi vào hàng ngũ của chúng ta. Đảng ta mở
rộng cửa để đón những người lao động”. Đồng thời, người cũng khẳng định
“phải tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục, giác ngộ quần chúng,
tăng cường CTPTĐV, thực hiện nhiều biện pháp nhằm nâng cao vai trò của tổ
chức cơ sở đảng, không ngừng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo ở cơ
18


sở thì những mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng thời kỳ thực hiện chính sách
kinh tế mới của nhà nước Xô viết mới giành được thắng lợi”.
Quán triệt và vận dụng sáng tạo học thuyết Mác-Lê nin về XDĐ, đặc
biệt khi bàn về CTPTĐV, Hồ Chí Minh khẳng định: Đảng “cũng ở trong xã
hội”, Đảng là một cơ thể sống, tồn tại và phát triển theo quy luật khách quan,
có hấp thu, có đào thải. Đảng phải có một số lượng đảng viên nhất định mới
hình thành nên tổ chức đảng, sự nghiệp cách mạng của Đảng là sự nghiệp vĩ
đại, lâu dài phải do nhiều thế hệ chiến sỹ cộng sản tham gia gánh vác. Đảng
phải liên hệ mật thiết với quần chúng, phải không ngừng nâng cao chất lượng
lãnh đạo, sức chiến đấu tương xứng với đòi hỏi khách quan của tình hình
nhiệm vụ. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu chỉ có thể trên cơ sở số lượng,
chất lượng ĐNĐV tương ứng. Do đó, Đảng phải thường xuyên làm tốt
CTPTĐV. Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích “Nếu Đảng ta không biết chọn
lọc, kết nạp, đề bạt đồng chí mới thì đâu có như ngày hôm nay” [34, tr.467].
Người vạch rõ tính tất yếu, yêu cầu phương châm, phương pháp của
CTPTĐV: “Để làm tròn nhiệm vụ rất nặng nề nhưng rất vẻ vang... Đảng phải
phát triển tổ chức của mình một cách thận trọng, vững chãi và rộng rãi trong
quần chúng” [31, tr.20,21].
Tư tưởng xuyên suốt trong quan điểm của Hồ Chí Minh về PTĐV là coi
trọng chất lượng cùng với việc xác định đúng tiêu chuẩn đảng viên, có
phương hướng lựa chọn và có những quy định chặt chẽ về điều kiện, thủ tục

cấp dựa trên cơ sở Điều lệ Đảng và các chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn của
Đảng về CTPTĐV.
Đối tượng CTPTĐV nữ của các đảng bộ xã ở tỉnh Sóc Trăng là lực
lượng quần chúng nữ ưu tú ở các xã trên địa bàn tỉnh.
Nội dung quy trình phát triển đảng viên nữ của các đảng bộ xã ở tỉnh
Sóc Trăng bao gồm:
Bước 1: Phát hiện, lựa chọn nguồn. Cấp ủy, chi bộ quán triệt và ra nghị
quyết lãnh đạo về CTPTĐV và phổ biến cho quần chúng. Thông qua phong

21


trào hành động cách mạng của quần chúng nhân dân, các cấp ủy đảng, các tổ
chức quần chúng tìm hiểu, lựa chọn những quần chúng ưu tú, có lịch sử chính
trị rõ ràng, đã tỏ ra rất trung thành và hăng hái trong đấu tranh, có sự liên lạc
mật thiết với quần chúng, tin tưởng vào Đảng và có nguyện vọng trở thành
đảng viên để phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng để đưa vào nguồn
PTĐ. Việc đưa người vào nguồn PTĐ do tổ chức đảng có thẩm quyền quyết
định dựa trên cơ sở phát hiện giới thiệu của đảng viên, tổ chức đảng và các tổ
chức quần chúng, phải tuân thủ các tiêu chuẩn quy định và thể hiện được chủ
trương quan tâm bình đẳng giới của Đảng và Nhà nước.
Bước 2: Tuyên truyền, giáo dục, giác ngộ, rèn luyện, thử thách nguồn
PTĐ. Đây là quá trình nâng cao giác ngộ về Đảng, về mục tiêu lý tưởng của
Đảng và hình thành, phát triển những phẩm chất nhân cách cộng sản cho lực
lượng nguồn PTĐV nữ của các đảng bộ xã ở tỉnh Sóc Trăng. Nội dung bồi
dưỡng, tuyên truyền, giáo dục rèn luyện phải toàn diện, cả phẩm chất và năng
lực, chính trị, đạo đức và phương pháp, tác phong cũng như trình độ chuyên
môn; trong đó lấy đức làm gốc. Phương pháp giáo dục, rèn luyện nguồn
PTĐV nữ của các đảng bộ xã ở tỉnh Sóc Trăng là gắn giáo dục của tổ chức
với phát huy tinh thần tự giác tu dưỡng, rèn luyện của đội ngũ nguồn PTĐ

thì căn cứ theo qui định của Đảng và tùy theo mức độ vi phạm để xem xét xử
lý nghiêm minh, nếu đến mức phải xóa tên trong danh sách đảng viên thì kiên
quyết xóa tên đảng viên dự bị.
Các nội dung trên được tiến hành thường xuyên, liên tục, mỗi nội dung
có vị trí vai trò nhất định, song giữa chúng có quan hệ biện chứng tác động
ảnh hưởng lẫn nhau và cùng tác động ảnh hưởng đến chất lượng hiệu quả
CTPTĐV nữ của các đảng bộ xã ở tỉnh Sóc Trăng. Vì vậy, các cấp ủy, tổ chức
đảng các cấp của các đảng bộ xã ở tỉnh Sóc Trăng phải chú ý thực hiện đầy
đủ, có chất lượng các khâu các bước thì CTPTĐV mới giữ đúng định hướng
và có hiệu quả thiết thực.

23


Hình thức, biện pháp tiến hành CTPTĐV, để thực hiện nội dung đã xác
định, cần triển khai nhiều hình thức biện pháp thông qua hoạt động của cấp
ủy, tổ chức đảng các cấp, các tổ chức, các lực lượng như: quán triệt quan
điểm, chủ trương, phương hướng, mục tiêu, nguyên tắc và phương châm
CTPTĐV của Đảng; tiến hành rà soát đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ
đảng viên nữ và nguồn kết nạp đảng viên nữ trong toàn Đảng bộ và từng chi
bộ; bám sát thực tiễn, phong trào cách mạng ở địa phương; kịp thời phát hiện
quần chúng nữ ưu tú lựa chọn đưa vào nguồn cảm tình đảng; chủ động xây
dựng kế hoạch của từng chi bộ, từng thời gian; tổ chức các lớp cảm tình đảng
để bồi dưỡng nhận thức về Đảng; quản lý, giáo dục, rèn luyện, giao nhiệm vụ
thử thách nguồn kết nạp đảng viên nữ thông qua các hoạt động thực tiễn ở địa
phương; tổ chức lễ kết nạp đảng viên; phân công đảng viên theo dõi kèm cặp
giúp đỡ quần chúng nữ phấn đấu, rèn luyện; kết hợp chặt chẽ tuyên truyền
giáo dục bồi dưỡng giúp đỡ của đảng viên, tổ chức đảng với quá trình tự tu
dưỡng rèn luyện phấn đấu của quần chúng nữ, đảng viên nữ.
Lực lượng tham gia CTPTĐV nữ của các đảng bộ xã ở tỉnh Sóc Trăng

bộ xã ở tỉnh Sóc Trăng, góp phần xây dựng đội ngũ những người lãnh đạo,
lực lượng nòng cốt thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo ở địa phương. Trong các
lĩnh vực của đời sống xã hội của tỉnh Sóc Trăng, phụ nữ đã tích cực tham gia
và có đóng góp quan trọng vào các phong trào: “giỏi việc nước, đảm việc
nhà”, “đền ơn đáp nghĩa”, “xóa đói, giảm nghèo”, phụ nữ giúp nhau phát triển
kinh tế gia đình, cần kiệm xây dựng đất nước; phong trào nuôi con khỏe, dạy
con ngoan, vì an ninh Tổ quốc. Lực lượng phụ nữ đã thực sự xứng đáng với
lời ngợi khen, đánh giá của Hồ Chí Minh và Đảng ta: “Non sông gấm vóc
Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cùng già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực
rỡ”... ''Nhân dân ta anh hùng là nhờ có các bà mẹ Việt Nam anh hùng"...
"Dân tộc ta và Đảng ta đời đời biết ơn các bà mẹ Việt Nam đã sinh ra và
cống hiến những người ưu tú, đã và đang chiến đấu anh dũng tuyệt vời bảo
vệ non sông gấm vóc do tổ tiên ta để lại. Kết nạp những phụ nữ ưu tú vào
25


Đảng không chỉ tăng cường cho Đảng những đảng viên nữ ưu tú, phát triển
đội ngũ của Đảng ngày càng hùng hậu, mà với đặc thù và thiên chức của phụ
nữ, những đảng viên nữ sẽ góp phần đưa đường lối của Đảng đến với một lực
lượng đông đảo trong xã hội, vận động họ trở thành quần chúng tích cực thực
hiện thắng lợi mọi chủ trương mà Đảng đề ra.
Thứ hai, CTPTĐV nữ của các đảng bộ xã ở tỉnh Sóc Trăng là một mặt
hoạt động công tác xây dựng Đảng, thực hiện chủ trương giải phóng phụ nữ,
bình đẳng giới trong chế độ XHCN.
Công tác phát triển Đảng nói chung, phát triển đảng viên nữ nói riêng
gắn liền với hoạt động xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trên địa bàn tỉnh Sóc
Trăng, luôn được tiến hành thường xuyên, liên tục, góp phần thực hiện thắng
lợi mục tiêu xây dựng Đảng bộ TSVM, lãnh đạo nhân dân hoàn thành các
nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội.
Trong cách mạng dân tộc dân chủ cũng như trong xây dựng chủ nghĩa

chuyên môn nghiệp vụ và trí tuệ cao, có phẩm chất đạo đức tốt, góp phần
quan trọng bổ sung nguồn cán bộ lãnh đạo nữ cho các tổ chức đảng cấp xã
trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng, hiện thực hoá quan điểm, chủ trương của Đảng
về xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ nữ trong giai đoạn hiện nay.
* Những vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác phát triển đảng viên
nữ của các đảng bộ xã ở tỉnh Sóc Trăng.
Thứ nhất, thường xuyên quán triệt phương châm, phương hướng,
nguyên tắc, thủ tục tiến hành CTPTĐV của Đảng.
Công tác PTĐV nữ của các đảng bộ xã ở tỉnh Sóc Trăng là một bộ phận
không thể tách rời công tác PTĐV của Đảng nên việc quán triệt phương
châm, phương hướng, nguyên tắc, thủ tục PTĐV của Đảng là tất yếu trong
toàn bộ CTPTĐV nữ của các Đảng bộ xã ở tỉnh Sóc Trăng. Chỉ như vậy mới
đảm bảo cho công tác này giữ đúng định hướng chính trị và đem lại hiệu quả
thiết thực. Quán triệt thực hiện vấn đề có tính nguyên tắc này, đòi hỏi các chủ
thể, lực lượng tiến hành CTPTĐV nữ của các đảng bộ xã tỉnh Sóc Trăng phải
27



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status