Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội dải ven biển ĐBSH làm cơ sở cho phát triển nông nghiệp bền vững (luận văn thạc sĩ) - Pdf 40

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Dải ven biển nằm trong số những hệ sinh thái quan trọng nhất trên trái đất.
Những dải rừng đầm lầy vùng cửa sông, ven biển, các bãi triều, cung cấp dinh
dưỡng cho môi trường nước, góp phần duy trì sức sản xuất của các thuỷ vực, cung
cấp nhiều loại thuỷ sản và hải sản có giá trị cao cho con người. Môi trường sinh thái đất
đai đa dạng vùng cửa sông, ven biển, đầm, hồ với nhiều nguồn nước mặn, lợ, ngọt khác
nhau cho phép phát triển một nền nông nghiệp sinh thái năng động. Bên cạnh những
lợi thế về nhiều mặt, vùng đất ven biển cũng nhạy cảm với các hoạt động của con
người và tác động của thiên nhiên.
Dải ven biển Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) được phân chia bởi ranh giới
của 11 huyện, thị xã, thành phố thuộc các tỉnh/thành phố là: Hải Phòng, Nam Định,
Thái Bình và Ninh Bình, có diện tích tự nhiên 210.533 ha gắn liền với các hệ thống
cảng biển và các cơ sở công nghiệp quan trọng. Vị trí địa lý của vùng thuận lợi cho
phát triển nông nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung.
Do trải dài từ: 19o53’ đến 21o34' vĩ độ Bắc nên có nhiều yếu tố và đặc điểm
tự nhiên khác nhau đã chi phối, tác động tới quá trình phát triển nông nghiệp nói
riêng và phát triển kinh tế xã hội nói chung. Tuy nhiên, dải ven biển ĐBSH chưa
thực sự được quan tâm nghiên cứu một cách đầy đủ, thường là những nghiên cứu
đơn lẻ, không mang tính tổng thể nên việc khai thác sử dụng còn có nhiều hạn chế.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu: “Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên - kinh tế xã
hội dải ven biển ĐBSH làm cơ sở cho phát triển nông nghiệp bền vững” là đòi hỏi
hết sức cấp bách và có ý nghĩa rất lớn về kinh tế, xã hội và môi trường nhằm:
- Đánh giá được đặc điểm của dải ven biển ĐBSH.
- Đề xuất các giải pháp để sử dụng hợp lý dải ven biển ĐBSH cho phát triển
nông nghiệp bền vững.
2. Mục đích của đề tài
- Đánh giá các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường có tác động tới
sản xuất nông nghiệp ở dải ven biển ĐBSH.

1

CHƢƠNG 2 - ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................26
2.1. Đối tượng ...........................................................................................................26
2.2. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................................26
2.3. Nội dung nghiên cứu ..........................................................................................26
2.4. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................................26
CHƢƠNG 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN.............................29
3.1. Điều kiện tự nhiên – kinh tế, xã hội dải ven biển có ảnh hưởng đến sản xuất
nông nghiệp ...............................................................................................................29
3.1.1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên .....................................................29
3.1.2. Đánh giá điều kiện kinh tế - xã hội DVB ĐBSH ............................................44
3.1.3. Nhận xét chung ...............................................................................................58
3.2. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất dải ven biển ĐBSH ...........................................60
3.2.1. Hiện trạng sử dụng đất của vùng nghiên cứu ..................................................60
3.2.2. Cơ cấu cây trồng, vật nuôi và cơ cấu mùa vụ .................................................63
3.2.3. Các loại sử dụng đất chính ..............................................................................69
3.2.4. Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của các loại sử dụng đất ........69
3.2.5. Đánh giá mức độ thích hợp của đất nông nghiệp DVB ĐBSH với các loại sử
dụng đất chính ...........................................................................................................82
3.3. Đề xuất sử dụng hợp lý bền vững ......................................................................84
3.3.1. Các quan điểm đề xuất sử dụng bền vững đất dải ven biển ............................84
3.3.2 Cơ sở khoa học đề xuất sử dụng bền vững đất dải ven biển ............................85
3.3.3 Cơ sở lựa chọn các loại sử dụng đất bền vững ................................................85
3.3.4. Kết quả đề xuất sử dụng bền vững đất nông nghiệp Dải ven biển ĐBSH ......86
3.3.5 Một số giải pháp để thực hiện ..........................................................................90
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................96
I - KẾT LUẬN ..........................................................................................................96
II – KIẾN NGHỊ ........................................................................................................97
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................98

3

khăn, không cụ thể và không sát với thực tế.
Trong chương trình quản lý nguồn tài nguyên ven biển khu vực Đông Á, khi

4


đề cập đến việc phân định ranh giới của dải ven biển, các nhà nghiên cứu của các
nước ASEAN đã nhấn mạnh mối quan hệ giữa các vấn đề sinh thái nhân văn với
các vấn đề địa kinh tế - xã hội trong việc phân định dải ven biển. Với cách tiếp cận
này, các nhà nghiên cứu cho rằng vùng ven biển là vùng kinh tế - xã hội và nhân
văn có liên quan đến quá trình khai thác tài nguyên biển theo quan điểm phát triển
bền vững phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Malayxia
và Phillippine thì xác định ranh giới tương đối của vùng ven biển là vùng nước sâu
50m trên biển đến nơi có hệ sinh thái nước lợ tồn tại (khoảng 10km) còn Bangladet
lại xác định vùng ven biển từ đường đẳng sâu 100 m đến vùng nước lợ ở các cửa
sông lúc triều lên, vào sâu trong lục địa khoảng 12 km ...[25]
Trong các nghiên cứu hỗ trợ cho lĩnh vực Môi trường ở Việt Nam, Tổ chức
bảo tồn thiên nhiên quốc tế IUCN cũng rất quan tâm đến vùng ven biển và cho rằng
“Việc xác định thế nào là vùng ven biển rất khó, song có thể nói đó là vùng tính sâu
vào nội địa tới điểm ảnh hưởng của thủy triều lên các con sông, suối và các vùng
đất ngập nước, hoặc tính sâu vào nội địa 10 km, tùy theo khoảng cách nào lớn hơn”.
Cách hiểu này là tương đối phù hợp với hướng nghiên cứu những vấn đề về điều
kiện tự nhiên và tài nguyên vùng ven biển. song đối với các nghiên cứu về dân cư,
kinh tế - xã hội của lãnh thổ này lại gặp nhiều khó khăn trong việc thu thập và tính
toán các số liệu thống kê [3].
Trong “Từ điển bách khoa các thuật ngữ Địa lý tự nhiên (bốn thứ tiếng Nga,
Anh, Pháp, Đức), vùng ven biển được định nghĩa như sau: “Vùng ven biển là dải
ranh giới giữa đất liền và biển, đặc trưng bởi sự có mặt phổ biến đặc trưng của các
dạng địa hình bờ biển cổ và hiện đại. Ở dạng đầy đủ hơn, bao gồm khái niệm miền
duyên hải - là dải lục địa có các thềm biển cổ, dải bờ - nơi có các dạng bờ hiện đại,

biển bao gồm dải đất liền ven biển tạm giới hạn bằng ranh giới hành chính của các
huyện ven biển (từ Bắc xuống Nam có 105 huyện ven biển thuộc 24 tỉnh thành và
đặc khu, trong đó có 3 thành phố và thị xã và 5 huyện đảo, với diện tích 5,9 triệu ha,
bằng 18,1% diện tích lãnh thổ của cả nước) và phần trên biển gồm toàn bộ vùng
biển và thềm lục địa Việt Nam (trong đó tập trung chủ yếu vào khu vực ven bờ, từ
độ sâu 50m trở vào)[25].
Trong đề án Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế biển, vùng ven biển và các
hải đảo Việt Nam đến năm 2010 do Bộ Kế hoạch và đầu tư chủ trì (1995 - 1996),
khi xác định phạm vi không gian quy hoạch, các tác giả cho rằng: “Kinh tế biển là

6


sự kết hợp hữu cơ giữa các hoạt động kinh tế trên dải đất liền ven biển, trong đó
biển chủ yếu đóng vai trò vùng khai thác nguyên liệu, là môi trường cho các hoạt
động vận tải, du lịch biển ..., còn toàn bộ các hoạt động tổ chức sản xuất và phục vụ
khai thác biển lại nằm trên đất liền ven biển. Do vậy, khi nói đến kinh tế biển không
thể tách rời vùng biển với vùng ven biển và ngược lại”.
Trong đề án nghiên cứu điều tra cơ bản cấp nhà nước: “Điều tra đánh giá
hiện trạng môi trường tài nguyên nước dải ven biển Việt Nam phục vụ phát triển
kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường”, do viện Địa lý, Trung tâm Khoa học tự
nhiên và công nghệ Quốc gia thực hiện (1996 - 1999), các tác giả đã coi dải ven
biển như “mặt phố” của nước ta. Mặc dù trong nội dung của đề án, các tác giả
không đưa ra một định nghĩa hay vạch giới hạn cụ thể của vùng ven biển. Song,
trong quá trình nghiên cứu, các tác giả đã vận dụng linh hoạt, kết hợp sử dụng ranh
giới hành chính các huyện có đường bờ biển với việc phân tích các mối quan hệ
tương tác biển - lục địa, các điều kiện tự nhiên, các hoạt động kinh tế xã hội của các
huyện gần bờ biển liền kề với các huyện có đường bờ biển để chọn thêm các huyện
xếp vào lãnh thổ nghiên cứu - Vùng ven biển.
Đề tài KC.09.11: “Cơ sở khoa học cho việc phát triển kinh tế - xã hội dải ven

những thuật ngữ khác mang ý nghĩa tương tự như: vùng ven bờ, đới bờ, vùng bờ…
Hầu hết các hướng dẫn Quản lý tổng hợp vùng ven bờ được xuất bản đều
đồng ý rằng vùng ven bờ là khu vực có giao diện khá hẹp giữa biển và đất liền. Đó
là nơi các quá trình sinh thái phụ thuộc vào sự tác động lẫn nhau giữa đất liền và
biển, các tác động này diễn ra khá phức tạp và nhạy cảm [15].
Vùng ven bờ thường được hiểu như là nơi tương tác giữa đất và biển, bao
gồm các môi trường ven bờ cũng như các vùng nước kế cận. Các thành phần của nó
bao gồm các vùng châu thổ, vùng đồng bằng ven biển, các vùng đất ngập nước, các
bãi biển và cồn cát, các rạn san hô, các rừng ngập mặn, đầm phá và các đặc trưng
ven bờ khác. Khái niệm vùng ven bờ thường được xác định một cách tùy tiện, hơi
khác nhau giữa các quốc gia và thường dựa vào giới hạn pháp lý và ranh giới hành
chính. Ngoài ra còn có những sai khác về địa văn (physiography), sinh thái và kinh
tế giữa các vùng khác nhau, do đó không có một định nghĩa được chấp nhận rộng
rãi về vùng ven bờ. Thay vào đó, có nhiều định nghĩa bổ sung phục vụ cho những
mục đích quản lý khác nhau, trong đó vấn đề ranh giới cần được xem xét. Ví dụ ở
một số nước Châu Âu, vùng ven bờ mở rộng ra tới vùng lãnh hải, một số nước khác
thì lấy đường đẳng sâu làm giới hạn. Còn về ranh giới đất liền thì cũng rất mơ hồ do

8


tác động của biển vào khí hậu có thể vào đến vùng nội địa bên trong cũng như vùng
đồng bằng ngập lụt rộng lớn.
Trong đề tài KC.09.27/06-10: “Nghiên cứu cơ sở khoa học, pháp lý và phân
vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển Việt Nam” thuộc Chương trình Khoa học
Công nghệ Biển phục vụ Phát triển Kinh tế - xã hội, các tác giả đã nêu khái niệm
Đới bờ và vùng bờ như sau:
“Đới bờ (coastal zone) và vùng bờ (coastal area) là các mảng không gian
nằm chuyển tiếp giữa lục địa và biển (đại dương), luôn chịu tác động tương hỗ giữa
quá trình lục địa (chủ yếu là sông) và biển (chủ yếu là sóng, dòng chẩy và thuỷ

ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và
Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển
của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng
những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học".
Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ báo cáo
Brundtland (báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển
Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland). Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền
vững là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh
hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai..." 1.
Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả,
xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ. Để đạt được điều này, tất cả
các thành phần kinh tế, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội... phải bắt tay nhau thực
hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường [12].
Báo cáo này cũng đã nhấn mạnh 8 nội dung của PTBV:
1. Quan niệm lại khái niệm tăng trưởng;
2. Thay đổi chất lượng của sự tăng trưởng;
3. Đáp ứng các nhu cầu cốt yếu về việc làm, lương thực, năng lượng, nước
sạch và vệ sinh;
4. Đảm bảo sự bền vững về dân số;
5. Bảo tồn và phát triển tài nguyên;
6. Định hướng công nghệ và quản lý rủi ro;
7. Tích hợp công tác bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế trong quá trình ra
quyết định;
8.Định hướng quan hệ quốc tế trong phát triển kinh tế.

10


Định nghĩa của WCED về PTBV được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay. Một
định nghĩa khác cũng được nhiều người nhắc tới là trong cuốn sách “Hãy cứu lấy



- Tăng trưởng kinh tế phải dựa vào năng lực nội sinh là chủ yếu và phải làm
tăng năng lực nội sinh.

Mô hình PTBV của Jacobs và Sadler, 1990
Hình 1. Mô hình PTBV của WCED, 1987

Hình 2. Mô hình PTBV của Jacob, 1990
Mục tiêu kinh tế

PTBV
Mục tiêu
xã hội

Mục tiêu
sinh thái

Hình 3. Mô hình PTBV của World Bank
PTBV về xã hội: Là quá trình phát triển đạt được kết quả ngày càng cao
trong việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, đảm bảo chế độ dinh dưỡng và

12


chăm sóc sức khỏe cho người dân, mọi người đều có cơ hội trong giáo dục, có việc
làm, giảm tình trạng đói nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho mọi
thành viên của xã hội. Để PTBV về xã hội cần chú ý những nội dung sau:
- Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với giải quyết việc làm cho người lao động.
- Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với xóa đói giảm nghèo.

Năm 1991, nhóm hoạt động về vấn đề lương thực thuộc Uỷ ban Hợp tác của
các tổ chức phát triển Phi chính phủ (NGDOs) ở Cộng đồng châu Âu thống nhất
đưa ra định nghĩa: Nông nghiệp bền vững được thiết lập nhằm đáp ứng cả nhu cầu
của người dân cũng như các mặt hạn chế về tự nhiên và điều kiện sinh thái ở một
vùng xác định. Mục đích là đưa năng suất cây trồng lên mức cao trên cơ sở bền
vững và lâu dài mà không hủy hoại môi trường sống.
Theo tổ chức về môi trường sinh thái thế giới (WOED) đã định nghĩa nông
nghiệp bền vững như sau: nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp thỏa mãn được
các nhu cầu của thế hệ hiện nay mà không làm giảm khả năng ấy đối với các thế hệ
mai sau [16].
b. Việt Nam
Các nghiên cứu về phát triển bền vững bắt đầu được nghiên cứu từ khoảng
cuối thập niên 80 đầu thập nhiên 90 của thế kỷ XX. Thể hiện cụ thể nhất là quyết
định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17-8-2004 của Thủ tướng chính phủ ban hành Định
hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của
Việt nam). Trong 8 nội dung chính của chương trình hành động thì nội dung thứ 4
đã đề cập đến các nội dung về phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam.
Đối với Việt Nam, trong chiến lược phát triển bền vững quốc gia, thời gian
tới ngành Nông nghiệp và PTNT sẽ tập trung vào các lĩnh vực then chốt sau đây:
Về kinh tế:
Đẩy mạnh quá trình chuyển đổi ruộng đất ở những vùng ruộng đất manh
mún, phân tán bằng biện pháp dồn điền đổi thửa; tiến tới xây dựng các mô hình sản
xuất có quy mô lớn hơn phù hợp với yêu cầu sản xuất hàng hóa, phù hợp cho
chuyển giao kỹ thuật, công nghệ.
Phát triển sản xuất gắn với tăng cường hệ thống chế biến và mở rộng thị
trường tiêu thụ nông - lâm - thủy sản; đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu cây
trồng, vật nuôi và cơ cấu lại kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại

14



15


trình sản xuất tiên tiến, để hạn chế dư lượng các hóa chất nông nghiệp, thuốc phòng
trừ sâu bệnh trong sản phẩm nông nghiệp và trong môi trường đất, nước [16].
Từ việc kế thừa những thành tựu nghiên cứu trước đó và căn cứ vào điều
kiện thực tiễn của Việt nam, tác giả đưa ra kết luận như sau:
Phát triển nông nghiệp bền vững (bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp) là
quá trình sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, giải quyết tốt các vấn đề
xã hội gắn với bảo vệ môi trường sinh thái trên cơ sở đảm bảo thỏa mãn các nhu cầu
của con người trong hiện tại và tương lai và được xã hội chấp nhận.
1.2. Các nghiên cứu về điều kiện tự nhiên – kinh tế, xã hội dải ven biển ĐBSH
Ở nước ta, khái niệm về dải ven biển cũng được đề cập từ lâu và dưới nhiều
góc độ khác nhau và trong các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau. Đặc biệt từ giữa
những năm 70 của thế kỷ trước đến nay, trong những công trình khoa học liên quan
đến biển và dải ven biển nước ta, các nhà khoa học Việt Nam đã đưa ra nhiều khái
niệm khác nhau về dải ven biển và các phương án khác nhau để xác định ranh giới
của dải ven biển khác. Sau đây là một số công trình tiêu biểu.
1.2.1. Từ năm 1954 đến 1975
Gồm các công trình đơn lẻ tản mạn, đề cập tới tình chất bồi tụ của châu thổ
như các công trình của Lê Bá Thảo (1964) về một vài vấn đề động học của bãi phù
sa châu thổ Bắc Bộ; Huỳnh Ngọc Hương và Nguyễn Đức Chính (1966) về tam giác
châu thổ hay đồng bằng hạ lưu sông Hồng. Ngoài ra, trong những năm 1961, 1964 1965, 1967 - 1969, Tổng cục Thủy sản kết hợp với các viện nghiên cứu của Liên Xô
cũ và Viện nghiên cứu biển đã tiến hành điều tra vùng triều bờ Tây vịnh Bắc Bộ đã
xác định được thành phần loài động vật đáy, thành phần loài, trữ lượng và diện tích
phân bố của các loài đặc sản, các giống tôm cua cá trên bãi triều và tại các cửa sông
(Ba Lạt, Lạch Giang, Đáy). Năm 1974 - 1976 Viện nghiên cứu biển tiến hành điều
tra động vật vùng triều Hải Phòng. Nhiều loài được xác định thuộc nhóm giun nhiều
tơ, giáp xác, thân mềm, sâu đất, da gai, tay cuốn. Về thảm thực vật, đặc biệt có công

hiểu bản chất thành tạo của vùng cửa sông Hồng hiện đại [26].
Cũng trong thời gian này, còn có các công trình của Phạm Đình Trọng
(1984) nghiên cứu về khu hệ động vật đáy và đặc trưng sinh thái của chúng trong
vùng ngập mặn Hải Phòng - Quảng Yên. Phạm Đình Trọng và nnk (1985) nghiên
cứu về nguồn lợi tôm giống trên đảo Đình Vũ và khả năng sống sót của chúng sau
khu vớt bắt được. Đó là các công trình nghiên cứu theo chuyên ngành sinh thái học

17


và là những tư liệu khá quan trọng để tìm hiểu bản chất sinh thái trong ngiên cứu về
phân hóa cảnh quan sau này.
Từ 1985 - 1990, đề tài 48B.05.02: “Nghiên cứu sử dụng hợp lý các bãi triều
lầy cửa sông ven biển Việt Nam”. Nguyễn Chu Hồi và đồng nghiệp đã tiến hành
nghiên cứu đề tài trong phạm vi phía Bắc Việt Nam. Các đặc trưng về động lực hình
thành xu thế tiến hóa bãi triều, đặc trưng các hệ sinh thái tại khu vực ven bờ đã
được đề cập một cách tổng quan. Các tư liệu trên cạn và dưới nước đã được khớp
nối một cách có hệ thống.
Từ 1990 đến 1995 là giai đoạn nghiên cứu khá quan trọng nhằm tìm hiểu các
đặc trưng cơ bản về hệ sinh thái cửa sông châu thổ sông Hồng. liên quan đến vấn đề
này các các đề tài: KT.03.11:“Sử dụng hợp lý hệ sinh thái trên biển ven bờ Việt
Nam” lấy hệ sinh thái vùng triều cửa sông Hồng làm vùng nghiên cứu trọng điểm;
“Hệ sinh thái vùng triều miền bắc Việt Nam” của Nguyễn Xuân Dục (1994); “sinh
thái thảm thực vật rừng ngập mặn VN”(Luận án tiến sĩ Sinh học) của Phan Nguyên
Hồng (1991); “Nghiên cứu về đồng vật đáy trong hệ sính thái rừng ngập mặn và
đánh giá nguồn lợi sinh vật đáy” của Phạm Đình trọng (1991, 1992, 1994, 1995).
Giai đoạn này cũng được đánh dấu bởi loạt công trình nghiên cứu dải ven bờ
trên quan điểm động lực của Nguyễn Văn Cư: “Động lực vùng ven biển và cửa
sông Việt Nam” phần nghiên cứu cửa sông thuộc đề tài 48B.02.01(1992); “Đặc
điểm các quá trình động lực hiện trạng bồi xói ven biển ĐBSH” thuộc đề tài VIE

Từ năm 1995 đến nay là giai đoạn thăng hoa của các công trình khoa học mà
trong đó quan điểm tổng hợp là nhân tố chủ đạo xuyên suốt ở trong mỗi một công
trình. Với đề án:“ Điều tra cơ bản tài nguyên môi trường nhằm khai thác hợp lý đất
hoang hóa các bãi bồi ven cửa sông Việt Nam”, Nguyễn Văn Cư và đồng nghiệp đã
tiến hành điều tra nghiên cứu các bãi bồi ven biển cửa sông từ Quảng Ninh đến
Ninh Bình trong giai đoạn từ 1996 đến 1998. Kết quả quan trọng của đề án là đã
xây dựng được một bộ tư liệu khá đồng bộ các hợp phân thành tạo CQST từ địa
chất, địa mạo, trầm tích hiện đại tầng mặt, thủy văn, hải văn đến các đặc điểm địa
hóa. Đề án cũng đưa ra các kết quả đánh giá tiềm năng các loại hình tài nguyên như:
khí hậu, đất, khoáng sản, nước mặt, nước dưới đất, tài nguyên sinh vật và đề xuất
một số giải pháp khai thác sử dụng hợp lý đất hoang hóa các bãi bồi ven biển cửa
sông. Trong thời gian này còn có các đề án, đề tài khác như đề tài KT.02.13:“Điều tra
khảo sát chất lượng môi trường và động thái dinh dưỡng vùng cửa sông châu thổ
sông hồng” do Nguyễn Đức cự chủ nhiệm; “Nghiên cứu đề xuất mô hình phát triển

19


kinh tế - môi trường vùng cửa sông Bạch Đằng” do Đặng Trung Thuận chủ nhiệm
(1995); “Thành lập bản đồ địa mạo vùng biển nông ven bờ Nga sơn - Hải Phòng (030m nước) tỳ lệ 1: 500.000” do Vũ Văn Phái chủ nhiệm (1996); “ Động vật đáy trong
hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển phía Tây vịnh Bắc Bộ” của Phạm Định Trọng.
Do tính chất phức tạp về điều kiện tự nhiên, sự đa dạng về tiềm năng tài
nguyên, do nhu cầu cấp bách của sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng ghiên cứu,
đề án “Khai thác tổng hợp và sử dụng hợp lý tài nguyên dải ven biển Bắc Bộ mang
tính chất ứng dụng được thực hiện do Nguyễn Gia thắng (1998) làm chủ nhiệm
[25].
Năm 2004, đề tài “Cơ sở khoa học cho việc phát triển kinh tế - xã hội dải ven
biển Việt Nam, đề xuất các mô hình phát triển cho một số khu vực trọng điểm” của
Bộ Khoa học Công nghệ đã cho ra đời bộ cơ sở dữ liệu tương đối đầy đủ, hệ thống
và tin cậy về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và kinh tế - xã hội dải ven biển Việt

Diện tích tự nhiên của vùng ven biển là 5.967.700 ha, chiếm 18,7% tổng diện
tích đất cả nước. Trong đó, đất nông nghiệp chiếm 26,3% DTTN (khoảng 1.568
triệu ha), đất lâm nghiệp chiếm 24,5% (khoảng 1.463,5 triệu ha), đất bị hoang hóa
chiếm 27,2% (khoảng 1.622 triệu ha), đất làm muối chiếm 2,9% (khoảng 0,172
triệu ha). Đặc điểm nổi bật là vùng đất nông nghiệp ven biển tuy không lớn nhưng
đã cung cấp hơn 25% tổng sản lượng lương thực toàn quốc (Đoàn Văn Tước, 1994).
Mối nguy hại có ảnh hưởng đến việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên đất
vùng ven biển là các quá trình xói lở, bào mòn làm cho tốc độ tổn thất đất ngày càng
tăng. Theo con số ước tính hiện nay đang có khoảng 469 km bờ biển bị xói lở. Tốc độ
xói lở dao động trong khoảng 10 - 50m/năm. Tình trạng xói lở đang có nguy cơ ngày
càng tăng (Nguyễn Ngọc Sinh, Hứa Chiến Thắng, 1995). Qúa trình bào mòn đất cũng
đang xảy ra rất mạnh. Ước lượng xói mòn đất dao động trong khoảng 13.000 - 40.000
tấn/km2 , phụ thuộc vào lượng mưa, lưu lượng dòng, độ che phủ của thảm thực vật, tính
chất đất đai và phương thức sử dụng của con người (Ngô Ngọc Cát, 1994). Trong
nhiều vùng tình trạng xói lở, bào mòn bờ biển trầm trọng hơn [13].
Hiện tượng hạn hán, lũ lụt, ngập úng, bị chua phèn và mặn hóa... ngày càng
tăng. Tính riêng đồng bằng sông Mêkong, đã có hơn 46 - 58% tổng diện tích đất làm
nông nghiệp bị ngập úng (khoảng 1,2 - 1,5 triệu ha), có hơn 38% đất nông nghiệp
(khoảng 1 triệu ha) bị chua phèn và có đến 29% đất nông nghiệp (khoảng 744 ngàn

21


ha) bị nhiễm mặn. Đó là những thiệt hại đáng kể. Cũng cần phải lưu ý đến nguồn lợi
đất ngập nước (khoảng 350.000 ha) đang bị phá hủy, góp phần làm cho nguồn lợi
sinh vật và chất lượng môi trường ngày càng suy giảm.
Bên cạnh quá trình làm tổn thất đến nguồn lợi đất phải lưu ý đến các quá trình
có tính tiềm năng làm gia tăng diện tích như quá trình bồi tụ, quá trình tạo thành các bãi
bồi ở cửa sông. Các quá trình này xảy ra mạnh mẽ ở vùng cửa sông Tiền (hệ thống
sông Mê Kông). Ở vùng bán đảo Cà Mau, hàng năm có thể lấn ra biển 50 - 100m.

Các cây trồng chính trong vụ đông gồm: ngô, khoai lang, khoai tây, rau, đậu, đỗ các
loại. Trong những năm gần đây, diện tích gieo trồng các loại cây trồng vụ đông ở
vùng ven biển ĐBSH – Quảng Ninh có xu hướng tăng lên nhằm đa dạng hóa sản
phẩm nông nghiệp, tăng diện tích gieo trồng, tăng hệ số sử dụng đất.
Mức đầu tư cho các loại sử dụng đất đều ở mức độ cao đến rất cao (2 loại
đậu tương xuân - khoai lang, lạc xuân - khoai lang là ở mức trung bình). Do đó hầu
hết các loại hình đều cho tổng giá trị thu nhập cao. Tuy nhiên, tỷ suất lợi nhuận và
giá trị ngày công các loại sử dụng đất sau đạt giá trị cao đến rất cao:
- Nuôi trồng thuỷ sản trên đất mặn sú, vẹt, đước.
- Cói và nuôi trồng thuỷ sản trên đất mặn nhiều, đất mặn ít và trung bình.
- Nuôi trồng thuỷ sản trên đất phèn trung bình, đất phèn ít trung bình mặn
nhiều và đất phèn trung bình mặn trung bình.
Ngược lại, các loại sử dụng đất chuyên lúa tỷ suất lợi nhuận và giá trị ngày
công thấp, loại sử dụng đất lúa - màu giá trị ngày công cao hơn đất chuyên lúa.
Trong số 239.953 ha được hình thành từ 3 nhóm đất với 10 loại đất gồm: cồn cát,
đất cát biển, đất cát đọng mùn, đất mặn ngập triều, đất mặn sú vẹt, đước, đất mặn
nhiều, đất mặn ít và trung bình, đất phèn trung bình, đất phèn ít và trung bình mặn
nhiều, đất phèn trung bình mặn trung bình. Do có ý nghĩa đối với nuôi trồng thủy
sản và việc mở rộng diện tích nên đất mặn ngập triều được đưa vào hệ thống phân
loại và nghiên cứu cụ thể. Diện tích các loại đất vùng nghiên cứu có sự biến động là
do quá trình hoạt động sản xuất và định hướng đầu tư phát triển của nhà nước.
Hiện trạng sử dụng đất vùng nghiên cứu đa dạng với nhiều loại cây trồng
theo hướng khai thác triệt để và có hiệu quả. Đất bằng chưa sử dụng và mặt nước
chưa sử dụng có diện tích 43.842 ha chiếm 18,3% diện tích điều tra.

23


Tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản là thế mạnh của vùng. Tổng diện
tích thích hợp ở mức S1 và S2 là 151.830 ha, nếu hệ số sử dụng là 60% thì diện tích



dựng các định hướng phát triển nông nghiệp toàn diện ở tất cả các khu vực của các
tỉnh trong vùng ĐBSH. Tuy nhiên, chưa có những nghiên cứu cụ thể hơn về các
điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội nói chung cũng như điều kiện đất đai nói riêng
theo hướng tìm ra các đặc điểm đặc trưng nhất, các yếu tố hạn chế nhất có ảnh
hưởng đến sản xuất nông nghiệp của dải ven biển. Đây là tiểu vùng có diện tích đất
hoang hóa, nguy cơ tai biến lũ lụt và sạt lở bờ biển lớn ở khu vực ven biển phía Bắc.
Chính vì vậy, trong những năm vừa qua cũng đã có rất nhiều nghiên cứu về tiềm
năng của dải ven biển nhưng những nghiên cứu này còn đơn lẻ về một vấn đề cụ thể
nào đó trên phạm vi của từng tỉnh, chưa mang tính tổng thể trên phạm vi cả vùng và
chưa nghiên cứu trong mối quan hệ tổng hợp với các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã
hội và môi trường cho nên quá trình khai thác sử dụng còn nhiều hạn chế.
Đây là những vấn đề đặt ra và là hướng nghiên cứu chính của đề tài luận văn
góp phần sử dụng hợp lý đất cho nông nghiệp của dải ven biển vùng ĐBSH.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status