Luận văn sự biến đổi của nghề sơn truyền thống ở các làng bối khê (huyện phú xuyên) và vũ lăng (huyện thanh oai), thành phố hà nội hiện nay - Pdf 40

1

MỤC LỤC
Lời cam đoan.......................................................................................1
Mục lục.................................................................................................2
Danh mục các chữ viết tắt.................................................................3
Danh mục các bảng biểu trong luận án............................................4
MỞ ĐẦU...............................................................................................5
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ NGHỀ SƠN TRUYỀN THỐNG Ở CHÂU
THỔ BẮC BỘ VÀ Ở CÁC LÀNG BỐI KHÊ, VŨ LĂNG
(THÀNH PHỐ HÀ NỘI)
1.1. Nghề sơn truyền thống ở châu thổ Bắc Bộ....................................................................27
1.2. Nghề sơn truyền thống ở các làng Bối Khê và Vũ Lăng...............................................40
Tiểu kết.................................................................................................................................62
Chương 2: NGHỀ SƠN TRUYỀN THỐNG Ở CÁC LÀNG BỐI KHÊ VÀ VŨ LĂNG
TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA HIỆN NAY
2.1. Những tác nhân chủ yếu của quá trình biến đổi nghề sơn truyền thống.......................64
2.2. Những biểu hiện cụ thể của quá trình biến đổi của nghề sơn truyền thống .................68
2.3. Hệ quả của quá trình biến đổi nghề sơn truyền thống...................................................
Tiểu kết.................................................................................................................................99
Chương 3: VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NGHỀ SƠN TRUYỀN THỐNG Ở CÁC LÀNG BỐI
KHÊ, VŨ LĂNG VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
3.1.Định

hướng

phát

triển

nghề

Ảnh

2. HTX

:

Hợp tác xã

3. NCS

:

Nghiên

4. Nxb

:

sinh
Nhà xuất bản

5. PL

:

Phụ lục

6. STT

:


:

nghiệp
Ủy ban

nhân

11. UBND

dân

cứu


3

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU TRONG LUẬN ÁN
Bảng 1: Tổng thu nhập từ các ngành nghề của làng
Bối

Khê

trong

5

năm

gần đây...................................................................61


5

năm

gần đây...................................................................79
Bảng 5: Số lượng lao động tại làng nghề Bối Khê
trong

5

năm

gần đây...................................................................81
Bảng 6: Số lượng lao động tại làng nghề Vũ Lăng trong 5 năm
gần đây.................................................................................................................................81
Bảng 7: Số lượng lao động từ nơi khác đến làm nghề sơn tại làng nghề Bối Khê
trong 5 năm gần đây............................................................................................................ 82
Bảng 8: Số lượng lao động từ nơi khác đến làm nghề sơn tại làng nghề Vũ Lăng
trong 5 năm gần đây.............................................................................................................82
Bảng 9: Số hộ nghèo của làng nghề Bối Khê...........................................................86
Bảng 10: Số hộ nghèo của làng nghề Vũ Lăng........................................................86


4

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ và quá trình toàn cầu hoá đang tác động mạnh
mẽ đến tất cả các quốc gia, dân tộc, hơn lúc nào hết, việc giữ gìn và phát huy giá trị của di


ấn bản sắc văn hóa Việt Nam đối với thế giới. Nghề sơn cùng với chất liệu và sản phẩm
của nó đã trở thành vốn quý của văn hóa dân tộc và nhân loại bởi bên cạnh việc góp tiếng
nói chung với các nước trên thế giới ở tính trang trí, tính ứng dụng, phục vụ đời sống sinh
hoạt và tín ngưỡng của con người thì ở Việt Nam, vào những năm 30 của thế kỷ XX, nghệ
thuật tranh sơn mài đã ra đời trên cơ sở kế thừa và phát triển nghề sơn cổ truyền. Có thể
nói, đó là giá trị mới mang tính nghệ thuật với đầy đủ bản sắc dân tộc và thời đại, truyền
thống và hiện đại, làm phong phú hơn ngôn ngữ biểu đạt của sơn ta. Đến thời điểm này, Hà
Nội là nơi tập trung nhiều làng có nghề sơn nhất cả nước với 8 làng nghề chuyên sâu đang
và đã từng hoạt động. Nếu tính cả những làng nghề có sử dụng sơn ta với ý nghĩa là một
chất liệu cần có trong quy trình chế tác sản phẩm thì Hà Nội hiện có tới gần 40 làng nghề.
Kể từ khi Hà Nội cùng đất nước bước vào thời kỳ Đổi mới, tốc độ tăng trưởng kinh
tế - xã hội khá mạnh mẽ, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng ngày càng được
mở rộng. Song, quá trình phát triển nhanh chóng này đã tạo đà cho những biến đổi sâu sắc
ở tất cả các lĩnh vực trong đó có sự biến đổi của các ngành nghề truyền thống như nghề
sơn theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực. Hai làng Bối Khê (huyện Phú Xuyên) và
Vũ Lăng (huyện Thanh Oai), Hà Nội đã có nghề sơn truyền thống từ lâu đời và sớm khẳng
định được vị trí riêng về chất lượng kỹ thuật và mỹ thuật của các sản phẩm làm ra trong hệ
thống các làng nghề sơn ở châu thổ Bắc Bộ. Nằm ở hai huyện được đánh giá là những khu
vực có sự phát triển kinh tế khá năng động với mật độ làng nghề đông đảo nhất Hà Nội, có
thể coi hoạt động nghề ở hai làng Bối Khê và Vũ Lăng là những trường hợp thể hiện khá rõ
nét xu thế biến đổi nhiều mặt của nghề sơn truyền thống dưới tác động của các điều kiện
chủ quan và khách quan, đã và đang diễn ra rất phổ biến tại các làng nghề trên địa bàn Thủ
đô hiện nay. Sự biến đổi này là tất yếu và cần có để nghề sơn truyền thống ở các làng Bối
Khê và Vũ Lăng có thể tiếp tục duy trì và phát triển trong bối cảnh hiện nay. Trước những
tác động, ảnh hưởng mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, trong khi nhiều làng nghề sơn
truyền thống đã không thể tiếp tục duy trì nghề như Bình Vọng (Hà Nội), Đình Bảng (Bắc
Ninh)…, nghề sơn truyền thống tại hai làng Bối Khê và Vũ Lăng cho đến nay vẫn hoạt
động khá tốt nhờ có sự nhạy bén, chủ động thay đổi các mặt hàng sản phẩm phù hợp với
bối cảnh mới. Tuy nhiên, trong quá trình vận động biến đổi, ngành nghề sơn cổ truyền

biên) [18]; Lược truyện thần tổ các ngành nghề của Vũ Ngọc Khánh [59], Nghề thủ công
truyền thống và các vị tổ nghề của Trần Quốc Vượng và Đỗ Thị Hảo [123]…
Tiếp đến là những công trình nghiên cứu chuyên sâu thiên về khảo tả chất liệu, kỹ
thuật của nghề sơn Việt Nam nói chung và nghề sơn ở các làng nghề truyền thống nói riêng
như Kỹ thuật sơn mài của Phạm Đức Cường [31]; Nghề sơn với nghệ thuật trang trí ứng
dụng ở Việt Nam của Trần Thị Tuyết Hạnh [40]; Tổng tập nghề và làng nghề truyền thống


7

Việt Nam - Tập 6: Nghề chế tác đá, nghề sơn và một số nghề khác do Trương Minh Hằng
chủ biên [43]; Nghề sơn cổ truyền Việt Nam của Lê Huyên [52]; Làng nghề sơn quang Cát
Đằng của Nguyễn Lan Hương [54]; Sơn mài Bình Dương - chất liệu và nghệ thuật thể hiện
của Nguyễn Văn Minh [73]; Kỹ thuật, chất liệu của sơn mài Việt Nam và Nhật Bản thế kỷ
XX của Đặng Thị Thu Hiền [44]; Sơn ta và nghề sơn truyền thống Việt Nam của nhiều tác
giả [115] v.v...
Một số làng nghề làm sơn nổi tiếng ở khu vực Hà Nội đã thu hút được sự chú ý của
các nhà nghiên cứu với nội dung chủ yếu là khảo tả hoạt động của làng nghề trong quá
khứ và hiện tại như: Nghề sơn cổ truyền ở Bình Vọng và Hạ Thái của Trương Duy Bích và
Trương Minh Hằng [6]; Làng nghề Sơn Đồng của Trương Duy Bích và Nguyễn Thị Hương
Liên [7]; Nghề sơn truyền thống làng Hạ Thái - xã Duyên Thái - huyện Thường Tín - tỉnh
Hà Tây của Nguyễn Xuân Nghị [74]; Văn hóa làng Hạ Thái của Hoàng Thị Tố Quyên [94]
v.v...
Tìm hiểu nghề sơn và làng nghề sơn truyền thống ở Việt Nam dưới góc độ biến đổi
bước đầu là chủ đề quan tâm của một số nhà nghiên cứu. Có thể kể đến ba công trình tiêu
biểu là những luận án tiến sĩ đã bảo vệ thành công, đều thuộc chuyên ngành Văn hóa dân
gian và chủ yếu sử dụng phương pháp tiếp cận của chuyên ngành này như tiếp cận không
gian văn hóa, tiếp cận thành tố văn hóa... Trước tiên là luận án Nghề sơn truyền thống tỉnh
Hà Tây của Nguyễn Xuân Nghị, được bảo vệ năm 2008, công trình sau đó cũng được xuất
bản thành sách có cùng tên [75]. Đối tượng nghiên cứu của luận án là nghề sơn truyền

Đằng.
Gần đây nhất, năm 2013, tác giả Lê Thanh Hương đã bảo vệ thành công luận án
Những thay đổi về kỹ thuật, chất liệu trong nghệ thuật sơn mài Việt Nam hiện đại [58]. Với
đối tượng nghiên cứu là những chất liệu và kỹ thuật sử dụng trong chế tác sản phẩm thủ
công mỹ nghệ ở các làng nghề, cũng như trong sáng tác các tác phẩm sơn mài hội họa của
các họa sĩ chuyên nghiệp (đặc biệt tập trung nghiên cứu giai đoạn từ năm 1925 đến nay),
nhìn tổng thể, công trình này đã trình bày tương đối toàn diện và hệ thống những đặc điểm
cơ bản của nghệ thuật sơn mài Việt Nam cùng vai trò và vị trí của nó trong nền văn hóa
dân tộc. Ở góc độ cụ thể hơn, luận án đã hệ thống hóa khá rõ nét những thay đổi của chất
liệu và kỹ thuật của nghề sơn qua các giai đoạn khác nhau dưới tác động của các yếu tố
khách quan và chủ quan. Đồng thời, xác định rõ hai yếu tố này là những yếu tố căn bản tạo
nên sức sống, bản sắc của nghề sơn truyền thống cũng như có vai trò quan trọng trong việc
ứng dụng, sáng tạo của các nghệ nhân và nghệ sĩ sơn mài. Trên cơ sở đó, luận án đi đến
khẳng định rằng: sự vận động, biến đổi là quy luật khách quan, yếu tố tạo nên sự đa dạng
và phát triển, thể hiện sức sáng tạo phong phú của các thế hệ nghệ sĩ, nghệ nhân. Kết quả
nghiên cứu của luận án này đã góp phần bổ sung vào mảng chủ đề nghiên cứu về sự biến
đổi của nghề sơn trong tiến trình lịch sử văn hóa Việt Nam.


9

Có thể kết luận, mặc dù việc nghiên cứu nghề sơn truyền thống không phải là mảng
vấn đề mới song vẫn còn khoảng trống để các công trình tiếp theo nghiên cứu bổ sung. Bởi
lẽ, nghề sơn truyền thống ở một vài địa phương vẫn chưa được quan tâm tìm hiểu để tương
xứng với tiềm năng của ngành nghề cổ truyền này, trong đó nghề sơn ở các làng Bối Khê huyện Phú Xuyên và Vũ Lăng - huyện Thanh Oai là những trường hợp tương đối điển
hình. Hai làng nghề Bối Khê và Vũ Lăng cho đến thời điểm hiện tại hầu như chưa được
nghiên cứu ngoại trừ việc được nhắc đến có tính chất liệt kê, điểm qua ở một số công trình
như Nghề sơn truyền thống tỉnh Hà Tây của Nguyễn Xuân Nghị [75], bài viết Hà Tây với
truyền thống sơn mài của Nguyễn Văn Chuốt [26] và một số bài trên Internet với nội dung
giới thiệu đôi nét về làng nghề trong hoạt động quảng bá du lịch.

Nội trong diễn trình lịch sử bao gồm các yếu tố như nguồn gốc xuất hiện, kỹ thuật chế tác,
cơ cấu tổ chức nghề, tâm lý làm nghề…
- Xác định những giá trị tiêu biểu của nghề sơn truyền thống ở các làng Bối Khê và
Vũ Lăng, Hà Nội; đối chiếu, so sánh với nghề sơn ở các làng nghề khác của Hà Nội nói
riêng và vùng châu thổ Bắc Bộ nói chung, qua đó làm rõ những nét riêng biệt và những
đóng góp của nghề sơn ở hai làng này cho di sản văn hóa dân tộc.
- Phân tích những biến đổi của nghề sơn truyền thống ở các làng Bối Khê và Vũ
Lăng, Hà Nội dưới tác động của cơ chế thị trường và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa - mà thực chất đó là sự va chạm giữa truyền thống - hiện đại, thích nghi - biến đổi, bảo
tồn - phát triển.
- Xây dựng luận cứ khoa học trong việc định hướng để nghề sơn truyền thống ở các
làng Bối Khê, Vũ Lăng nói riêng cũng như các làng nghề khác ở khu vực Hà Nội và châu
thổ Bắc Bộ nói chung có thể duy trì và phát triển trong thời điểm hiện tại và tương lai theo
hướng: trên cơ sở gìn giữ, kế thừa các giá trị truyền thống vốn có, tiếp thu những thành tựu
hiện đại, tiên tiến để sáng tạo những giá trị mới phù hợp với thời đại mới, qua đó bổ sung
và làm đa dạng thêm bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất
nước trong thời kỳ Đổi mới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là nghề sơn truyền thống ở các làng Bối Khê
(huyện Phú Xuyên) và Vũ Lăng (huyện Thanh Oai), Tp. Hà Nội trong quá trình vận động,
biến đổi theo thời gian để thích nghi tồn tại. Đây vốn là hai làng nghề sơn có lịch sử khá
lâu đời và đã khẳng định được đặc trưng riêng ở các kỹ thuật cơ bản của nghề sơn truyền
thống là sơn mài, sơn thếp và sơn quang. Tuy nhiên, để làm rõ diện mạo và sự đóng góp
của nghề sơn ở các làng nghề trên, luận án sẽ mở rộng tìm hiểu nghề sơn truyền thống ở
một số làng khác trong khu vực Hà Nội cũng như vùng châu thổ Bắc Bộ dưới góc nhìn liên
hệ, so sánh.
3.2. Phạm vi nghiên cứu



Chúng tôi xem đây là một trong những khái niệm hàm chứa khá đầy đủ và chi tiết
những tiêu chí cơ bản của một ngành nghề truyền thống. Ngoài ra, khái niệm này cũng đã
được nghiên cứu và mở rộng hơn, phù hợp với bối cảnh phát triển mạnh mẽ của khoa học
kỹ thuật và công nghệ hiện đại, kéo theo việc can thiệp, hỗ trợ sản xuất sản phẩm thủ công


12

truyền thống của các quy trình công nghệ mới cũng như các loại nguyên vật liệu mới [126,
tr.12]. Từ trường hợp nghiên cứu của luận án, có thể thấy nghề sơn cũng là một trong số
hơn 2000 nghề thủ công truyền thống của đất nước. Trên cơ sở kế thừa những quan điểm
về nghề truyền thống của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi đưa ra định nghĩa về nghề
sơn truyền thống trong bối cảnh hiện nay và coi đó là khái niệm mang tính công cụ của
luận án.
Nghề sơn truyền thống là một trong những nghề tiểu thủ công nghiệp xuất hiện lâu
đời trên đất nước ta, được truyền từ đời này qua đời khác và tồn tại đến ngày nay, ở đó,
ngoài những tinh hoa nghệ thuật và kỹ thuật truyền thống được sáng tạo và lưu truyền bởi
các thế hệ nghệ nhân còn bao gồm cả những phương pháp chế tác được cải tiến hoặc
những loại máy móc hiện đại được sử dụng để hỗ trợ sản xuất, song về cơ bản vẫn tuân thủ
công nghệ truyền thống và sản phẩm vẫn thể hiện những nét văn hóa độc đáo của dân tộc.
Làng nghề sơn truyền thống
Tương tự như sự đa dạng trong quan niệm về nghề truyền thống, làng nghề trên
phương diện tổng thể cũng được nhiều nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm tùy theo chuyên
ngành và mục tiêu nghiên cứu, song đa số các ý kiến đều đi đến thống nhất nền tảng cơ bản
của làng nghề là:
Nghề phải nuôi sống dân cư hoặc một bộ phận dân cư của cộng đồng làng; Sản
xuất ra các sản phẩm thủ công; Có đội ngũ thợ thủ công chuyên nghiệp hoặc
bán chuyên nghiệp lành nghề; Có bí quyết và quy trình làm nghề nhất định;
Sản phẩm của làng nghề là sản phẩm tiêu biểu của vùng miền [114, tr.28].
Theo một cách hiểu, làng nghề truyền thống được khái quát dựa trên hai khái niệm

văn hóa) đều nằm trong quá trình vận động và biến đổi không ngừng. Sự vận động, biến
đổi này có thể do tự thân nội tại sự vật hiện tượng, cũng có thể do các tác nhân bên
ngoài[114, tr.34]. Hiểu một cách đơn giản nhất, theo Từ điển Tiếng Việt, biến đổi là sự đổi
khác [98, tr.95] hay biến đổi là thay đổi thành khác trước [82, tr.61]. Trong khoa học xã hội
nhân văn - đặc biệt là xã hội học, thuật ngữ biến đổi thường được quan tâm dưới góc độ
biến đổi xã hội. Xoay quanh chủ đề biến đổi xã hội, có nhiều quan điểm lý thuyết về biến
đổi xã hội như thuyết tiến hóa, thuyết duy chức năng, thuyết duy xung đột… Trong đó,
những vấn đề mà các nhà xã hội học quan tâm thường là: quá trình biến đổi một hiện tượng
xã hội diễn ra như thế nào, xu hướng biến đổi, nguyên nhân của sự biến đổi… [114, tr.34].
Trong những năm gần đây, thuật ngữ biến đổi còn được biết đến phổ biến hơn trong các
công trình nghiên cứu về sự biến đổi văn hóa của các nhà khoa học Việt Nam và nước
ngoài như Lương Văn Hy [130], Nguyễn Duy Bắc [4], Nguyễn Thị Phương Châm [17],
Lương Hồng Quang [90], Louise S. Spindler [132], Ronald Inglehart, Wayne E. Baker
[131]… với rất nhiều quan điểm khác nhau về biến đổi văn hóa. Một trong số đó, tác giả
Nguyễn Duy Bắc trong một công trình nghiên cứu đã cho rằng: “… Một cách hiểu rộng
nhất, đó là một sự thay đổi so sánh với một tình trạng văn hóa hoặc một nền văn hóa có


14

trước dưới tác động của những nhân tố chính trị - kinh tế - xã hội” [4, tr.36]. Liên hệ với đề
tài luận án chúng tôi nhận thấy quan niệm này rất gần với vấn đề nghiên cứu sự biến đổi
nghề sơn truyền thống tại hai làng nghề Bối Khê và Vũ Lăng, do vậy, chúng tôi chọn khái
niệm này như là cơ sở lý luận thứ ba của luận án.
Dựa trên cơ sở lý luận là các khái niệm về biến đổi nói chung và biến đổi văn hóa
nói riêng, theo chúng tôi, nghề sơn truyền thống với tư cách là một hiện tượng văn hóa, ở
góc độ nào đó có thể hiểu sự biến đổi nghề sơn truyền thống chính là sự biến đổi/thay đổi
các thành tố cơ bản cấu thành nghề sơn truyền thống như nguyên vật liệu, quy trình chế
tác, sản phẩm, thị trường tiêu thụ - khách hàng, hoạt động tổ chức sản xuất kinh doanh,
nguồn nhân lực, vấn đề truyền dạy nghề, đời sống sinh hoạt của thợ nghề… dưới sự tác

được thể hiện trong một số công trình nghiên cứu của các tác
giả: Mai Thế Hởn [47], Trần Minh Yến [126], Dương Bá Phượng
[86]... Liên hệ với đề tài luận án, chúng tôi cũng đã nhận thấy một
quá trình biến đổi có tính chất đa dạng về mô hình và cấp độ biến
đổi trong các khía cạnh của nghề sơn truyền thống ở các làng
nghề Bối Khê và Vũ Lăng trước sự chuyển biến sâu sắc trong đời
sống kinh tế - xã hội và quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa
nông nghiệp, nông thôn.
4.2. Phương pháp tiếp cận
Xuất phát từ đối tượng nghiên cứu của luận án là nghề sơn truyền thống trong quá
trình biến đổi đa dạng và phức tạp, chúng tôi lựa chọn phương pháp tiếp cận liên ngành
Văn hóa học với hy vọng đó là phương pháp tiếp cận hữu hiệu nhất cho đề tài luận án bởi
xét về mặt lý thuyết thì: “Văn hóa học - như là một khoa học độc lập mang tính tổng hợp
và liên ngành” [99, tr.226], theo đó “Văn hóa học xem xét văn hóa với tư cách là một hiện
tượng xã hội tổng thể, vì thế nó cần phải nghiên cứu cùng một lúc nhiều phương diện của
một hiện tượng và bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau” [99, tr.192]. Phương pháp tiếp cận
liên ngành có sự đóng góp khoa học của nhiều chuyên ngành khác nhau sẽ là một trong
những công cụ lý thuyết hỗ trợ để nhìn ra những yếu tố biến đổi của nghề sơn truyền thống
ở hai làng Bối Khê và Vũ Lăng từ cả hai góc độ hiện tượng và bản chất. Phương pháp tiếp
cận liên ngành Văn hóa học được triển khai áp dụng cụ thể trong nghiên cứu sự biến đổi
nghề sơn truyền thống ở hai làng Bối Khê và Vũ Lăng như sau:
Với đối tượng nghiên cứu là nghề sơn truyền thống ở các làng Bối Khê và Vũ Lăng
trong quá trình vận động biến đổi tương đối đa dạng, chúng tôi coi trọng sự trải nghiệm cá
nhân trên thực địa với phương pháp điền dã dân tộc học. Bởi vì, phương pháp này sẽ giúp


16

thu thập được nguồn thông tin phong phú, đa dạng để giải quyết các vấn đề của luận án.
Hơn nữa, những kết quả nghiên cứu từ thực địa cũng đóng vai trò quan trọng để các vấn đề



17

Ngoài ra, chúng tôi còn lưu ý đến những bối cảnh (quá khứ và hiện tại) mà nghề
sơn truyền thống tồn tại với những sự kiện, những vấn đề ảnh hưởng tác động lên nó. Để
nghiên cứu bối cảnh của nghề sơn, chúng tôi chủ trương mở rộng trọng tâm của nghiên cứu
ra khỏi từng cá nhân đơn lẻ cũng như kiến thức và thực hành của họ. Thay vào đó, việc
nghiên cứu, tìm hiểu các động lực xã hội như sự khó khăn về kinh tế, các nhu cầu đòi hỏi
về mặt chính trị, xã hội, văn hóa... Đây chính là những yếu tố sẽ giúp giải thích các hành
động của chủ thể văn hóa, tránh được cái nhìn phiến diện, chủ quan khi nghiên cứu. Có thể
nói rằng nghiên cứu về bối cảnh chính là tìm câu trả lời cho câu hỏi “Ai đang nói (hoặc
làm) gì và tại sao?”.
Ở những đề tài có liên quan đến việc lý giải sự biến đổi của một trong những hiện
tượng, quá trình văn hóa như luận án thì sự kết hợp các phương pháp lịch đại và đồng đại
sẽ giúp cho nhà nghiên cứu có cái nhìn “tọa độ“ (tức cách nhìn đối chiếu những yếu tố của
hiện tượng trong không gian và thời gian xác định) trong các phân tích, tổng hợp và diễn
giải các sự kiện, hiện tượng văn hóa [99, tr.202-203]. Vận dụng vào trong luận án, chúng
tôi khảo cứu nghề sơn truyền thống tại hai làng Bối Khê và Vũ Lăng ở 3 tọa độ: nghề sơn
truyền thống thời kỳ trước năm 1954, nghề sơn truyền thống từ sau năm 1954 đến trước
năm 1986 và nghề sơn truyền thống từ năm 1986 đến nay. Ở mỗi tọa độ này, các thành tố
của nghề sơn truyền thống sẽ được đề cập trong từng bối cảnh xã hội cụ thể. Tổng hợp các
vấn đề nghiên cứu từ ba tọa độ này sẽ tìm ra được những kết luận chân thực về những yếu
tố bất biến và khả biến của nghề sơn truyền thống ở hai làng cũng như lý giải được những
tác nhân của quá trình biến đổi này. Như vậy, luận án với đối tượng nghiên cứu là nghề sơn
truyền thống dưới góc nhìn văn hóa học thì việc kết hợp hai hướng đồng đại và lịch đại
chính là cách để có thể hiểu và giải thích được các hiện tượng văn hóa một cách sâu sắc.
Xuất phát từ các vấn đề nghiên cứu đặt ra trong luận án, ngoài hai luận điểm khoa
học được sử dụng làm điểm tựa lý thuyết mang tính định hướng đã nêu ở trên, chúng tôi
cũng quan tâm đến một trong những mô hình lý thuyết có tầm quan trọng hàng đầu trong

hiện tượng văn hóa được chúng tôi tiếp cận với tư cách là một phương diện đời sống xã
hội. Quá trình mô tả văn hóa là tất yếu phải có, song cái đích cuối cùng mà luận án cần
phải đạt được chính là tìm ra được bản chất của quá trình biến đổi này là gì và lý giải nó
bằng tư duy logic được tổng hợp từ kiến thức liên ngành của văn hóa học. Với ý nghĩa là
một phương diện đời sống xã hội thì văn hóa vốn là cái biến đổi liên tục như cuộc sống
vốn có, nhưng ở mức độ nào đó, vẫn bảo lưu nhiều giá trị có sức sống trường tồn. Đó là
những giá trị tổng hòa chân - thiện - mỹ cộng hưởng trong một khách thể văn hóa qua thời
gian được giữ lại, trở thành khuôn mẫu và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
mà người ta gọi là bản sắc. Thực chất, sự biến đổi nghề sơn truyền thống ở hai làng nghề
chính là một biểu hiện trong đa dạng của biến đổi văn hóa mà ở đó bao gồm cả các yếu tố
khả biến (biến đổi) và các yếu tố bất biến (không hoặc ít biến đổi). Xét về mặt lý thuyết,
các yếu tố khả biến với danh nghĩa là cấu trúc bề mặt, là những biểu hiện bên ngoài và biến


19

đổi liên tục mà người ta gọi là những biến số, là yếu tố động của văn hóa. Thực tế, văn hóa
được bao chứa trong các hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội và trên bình diện đó các sáng
tạo, hoạt động văn hóa bao giờ cũng mang tính xã hội và thường xuyên biến đổi. Liên hệ
với khách thể nghiên cứu của đề tài luận án là nghề sơn truyền thống ở các làng Bối Khê
và Vũ Lăng, những yếu tố biến đổi chủ yếu là nhóm yếu tố dễ chịu sự ảnh hưởng, tác động
của các điều kiện kinh tế - xã hội như nguyên liệu, quy trình chế tác, sản phẩm, thị trường
tiêu thụ - khách hàng, hoạt động tổ chức sản xuất và kinh doanh, nguồn nhân lực, đời sống
sinh hoạt của nhân dân làng nghề, môi trường…
Các yếu tố bất biến với danh nghĩa là cấu trúc chiều sâu, là cấu trúc bên trong của
văn hóa và ít biến đổi mà người ta gọi là hằng số, là yếu tố tĩnh của văn hóa. Nó là cái gốc
điều chỉnh mọi sinh hoạt đời sống giữ cho xã hội tính liên tục, tính ổn định và nằm sâu
trong tâm thức, trong đức tin tâm linh của con người, khắc họa nên bản sắc văn hóa của tộc
người này khác với tộc người khác. Qua khảo sát tại các làng nghề Bối Khê và Vũ Lăng,
có thể nhận thấy các yếu tố không hoặc ít biển đổi trong quá trình vận động của nghề sơn

nghề đều cho biết: hiện nay họ đang chế tác đồ sơn theo công nghệ mới nhưng nếu được
yêu cầu chế tác sản phẩm bằng chất liệu sơn ta hoàn toàn theo lối truyền thống thì họ vẫn
có thể thực hành được một cách thuần thục.
Từ những yếu tố bất biến và khả biến của nghề sơn truyền thống ở các làng Bối
Khê và Vũ Lăng đã chỉ ra ở trên, có thể nhận thấy mối quan hệ tương tác giữa hai hệ thống
có vẻ như đối nghịch này được thực hiện theo nguyên tắc: các yếu tố động dù thường
xuyên biến đổi vẫn theo một trật tự nhất định nào đó. Cụ thể, đó là quá trình biến đổi
xuyên suốt lịch sử tồn tại và phát triển của nghề sơn truyền thống - quá trình ấy dường như
đã trở thành quy luật, luôn đi tìm câu trả lời cho câu hỏi mang tính sống còn của nghề sơn
truyền thống là “sản xuất cho ai?”. Đôi khi, cái quy định sự biến đổi vừa trực tiếp vừa gián
tiếp của nghề sơn truyền thống chính lại là hệ giá trị nằm sâu bên dưới, mà sâu xa nhất
chính là tâm thức “sinh nghề tử nghiệp”, bằng mọi giá để giữ và duy trì được nghề truyền
thống của các nghệ nhân làng nghề.
Có thể kết luận, ở nghề sơn truyền thống của hai làng Bối Khê và Vũ Lăng, bên
cạnh những yếu tố biến đổi khá đa dạng, một số giá trị có vẻ mang tính chất tĩnh tại song
thực chất vẫn bị biến đổi dù rất chậm chạp. Hiện tượng tâm thức nghề nghiệp là một trong
những ví dụ điển hình. Và như thế, nghề sơn truyền thống với ý nghĩa là một hiện tượng
văn hóa mà văn hóa với ý nghĩa là phương diện đời sống xã hội sẽ không phải là cái gì
nhất thành bất biến, mà cũng như mọi sự vật hiện tượng khác, đều biến đổi. Khác với
những biến đổi chính trị, kinh tế… thường là sự biến đổi mang tính đột phá, cách mạng,
nhiều khi là bột phát, biến đổi văn hóa như hiện tượng biến đổi của nghề sơn truyền thống
ở hai làng nghề mang tính tiệm tiến bởi vì văn hóa là sự kế thừa và phải thỏa mãn những
nhu cầu cơ bản của con người - nhu cầu thẩm mỹ (làm đẹp) và nhu cầu thực dụng (sử


21

dụng). Đó chính là mối quan hệ giữa tính liên tục và sự đứt đoạn, giữa truyền thống và
cách tân. Sau cùng, chính sự tương tác giữa những yếu tố bất biến với những yếu tố khả
biến của nghề sơn truyền thống ở hai làng Bối Khê và Vũ Lăng đã góp phần đưa đến một



22

được coi là mới và “nóng” hiện nay. Đặc biệt, đề tài luận án
nghiêng theo hướng nghiên cứu trường hợp là hướng nghiên
cứu đang được chú trọng và ưu tiên trong khoa học xã hội nhân
văn.
- Nghiên cứu nghề sơn truyền thống ở các làng nghề Bối
Khê và Vũ Lăng góp phần bổ sung những thông tin tư liệu về
nghề sơn ở khu vực Hà Nội, qua đó góp phần vào việc nghiên
cứu sắc thái đa dạng của nghề sơn truyền thống ở châu thổ Bắc
Bộ.
- Nghiên cứu thực trạng biến đổi của nghề sơn truyền thống
ở các làng Bối Khê và Vũ Lăng, Tp. Hà Nội hiện nay góp phần
cung cấp cho chính quyền và các nhà quản lý văn hóa các cấp
những cứ liệu khoa học trong việc xây dựng các chính sách và
giải pháp tháo gỡ có tính khả thi, giúp cho nghề sơn truyền thống
ở hai làng nghề nói riêng và các làng nghề sơn khác ở châu thổ
Bắc Bộ nói chung tồn tại và phát triển, góp phần thực hiện mục
tiêu “dân giàu, làng xã mạnh” trong công cuộc công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
6. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu (22 trang), Kết luận (4 trang), Tài liệu tham khảo (11 trang) và
Phụ lục (28 trang), nội dung của luận án được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1. Khái quát về nghề sơn truyền thống ở châu thổ Bắc Bộ và ở các làng
Bối Khê, Vũ Lăng (Thành phố Hà Nội) (37 trang).
Chương 2. Nghề sơn truyền thống ở các làng Bối Khê và Vũ Lăng trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay (37 trang).
Chương 3. Vấn đề phát triển nghề sơn truyền thống ở các làng Bối Khê, Vũ Lăng

xã Vinh Quang, huyện Hoài Đức, Hà Nội, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy một đoạn gỗ
dài khoảng 2m được sơn, vẽ đỏ sẫm ở hai đầu [54, tr.36]. Đặc biệt, các nhà khoa học đã
khai quật mộ cổ Việt Khê có niên đại khoảng thế kỷ III - IV trước Công nguyên ở huyện
Thuỷ Nguyên, Hải Phòng và phát hiện các di vật được làm bằng nhiều chất liệu được phủ
sơn như: chiếc mái chèo dài 88cm được phủ hai lớp sơn đen và vàng; tráp gỗ được sơn hai


24

lớp sơn đen và trang trí dải hoa văn màu sơn cánh gián; một số hiện vật bằng đồng có cán
gỗ và phần cán gỗ cũng được phủ sơn; một số mảnh da động vật được phủ sơn [52, tr.2324]. Ngoài ra, trong ngôi mộ cổ này người ta còn tìm thấy các dụng cụ đồ nghề như bát
dùng đánh sơn chín, mỏ vầy quấy sơn và một số mảnh ván gỗ nếu đem lắp ráp theo khuôn
mộng còn lại thì tựa như cái bàn vặn sơn hiện nay [31, tr.10]. Các cứ liệu khảo cổ học trên
là bằng chứng khách quan cho phép chúng ta nhận biết rằng: Đồ sơn đã xuất hiện ở châu
thổ Bắc Bộ khoảng thế kỷ IV trước Công nguyên [52, tr.28].
Bước vào thời kỳ phong kiến, dưới các triều đại mà đạo Phật đang độ hưng thịnh
(thời Lý, Trần) thì việc xây chùa, đắp tượng rất phổ biến và đó chính là mảnh đất tốt để cho
nghề sơn được trọng vọng và phát triển. Hiện nay, nhiều di tích còn giữ được những tác
phẩm nghệ thuật điêu khắc cổ có tô sơn như các tượng Phật bằng gỗ chạm nổi, bằng đất
đắp được sơn son thếp vàng, các đồ thờ, cửa võng, ngai thờ… Đó là còn chưa kể đến các
đồ dùng phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của nhân dân như hoành phi, câu đối,
tráp quả, hòm sắc, ống quyển, đèn nến, thẻ bài, bát bửu v.v…
Vào thế kỷ XV - XVI, nghề sơn đã phát triển huy hoàng và hình thành nhiều làng
chuyên sống bằng làm nghề sơn ta với kỹ thuật độc đáo và bí quyết nhà nghề riêng như
Đình Bảng (Bắc Ninh), Cát Đằng (Nam Định). Đặc biệt là làng nghề Bình Vọng (Hà Tây
cũ) được nhiều làng nghề nhìn nhận là đất tổ của nghề sơn bởi hầu hết người làm nghề đều
tôn cụ Trần Lư, hiệu là Trần Thượng Công (đời Lê Nhân Tông) là bậc thầy đầu tiên về
ngành nghề này [31, tr.9]. Tuy nhiên, như tư liệu khảo cổ học đã chứng minh, nếu nghề sơn
ở Việt Nam xuất hiện cách đây từ hơn 2000 năm, thì có lẽ, cụ Trần Thượng Công cũng chỉ
là người góp phần cải tiến kỹ thuật sơn chứ không phải là người sáng tạo ra nghề này.

như sơn quang Cát Đằng, sơn mài Hạ Thái, sơn khảm Bối Khê, sơn thếp Vũ Lăng, Sơn
Đồng... Cũng không ít trường hợp nhiều làng cùng sử dụng một loại hình kỹ thuật chế tác,
theo đó mỗi làng nghề sẽ có cách riêng của họ ở khâu này hay khâu khác song về cơ bản
đều tuân thủ quy trình truyền thống đã được định hình. Vậy nên chúng tôi xin được xem
phần trình bày dưới đây là mang tính đại diện chung nhất cho các loại hình kỹ thuật chế tác
của nghề sơn truyền thống Việt Nam chứ không áp dụng riêng cho bất cứ làng nghề cụ thể
nào.
1.1.2.1. Sơn quang
Kỹ thuật sơn quang đơn giản là việc người ta tận dụng những tính năng ưu việt của
nhựa sơn như có độ rắn đặc biệt, không thấm nước, chịu được axít, chịu nhiệt, độ kết dính
cao nên có độ bền tốt cùng với độ bóng rất bắt mắt để phủ một hai nước sơn lên bề mặt các
đồ dùng vật dụng bằng gỗ, tre, nứa… như thuyền, thúng mủng, bàn ghế, bình phong… Với
những đặc tính này thì sơn ta cũng được ứng dụng rộng rãi trong các công trình kiến trúc
phục vụ cho tôn giáo tín ngưỡng là đình chùa đền miếu từ xưa tới nay. Ở kỹ thuật sơn



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status