TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
*****************
NGUYỄN THỊ THU TRÀ
RÈN KĨ NĂNG CẢM NHẬN BIỆN PHÁP
NHÂN HÓA TRONG CÁC BÀI THƠ
CHO HỌC SINH LỚP 4, 5
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt
HÀ NỘI, 2016
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, cùng với sự cố gắng, nỗ lực của bản
thân, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Phòng Đào tạo Trường Đại
học Sư phạm Hà Nội 2, tới các thầy, cô giáo trong Khoa Giáo dục Tiểu học
đã tạo điều kiện thuận lợi để chúng tôi hoàn thành khóa luận của mình.
Đặc biệt, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới thầy giáo
Th.s Lê Bá Miên đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tận tình để tôi có thể hoàn
thành tốt khóa luận này.
Do hạn chế về thời gian và năng lực của bản thân nên đề tài của chúng
tôi không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp
của quý thầy cô và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Thu Trà
Sách đã dẫn
TV
Tiếng Việt
Tr.
Trang
MỤC LỤC
PHẦN THỨ NHẤT ......................................................................................... 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ........................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 3
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................. 4
6. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 4
7. Trọng tâm của đề tài ...................................................................................... 4
8. Cấu trúc của khóa luận .................................................................................. 4
PHẦN THỨ HAI ............................................................................................. 5
PHẦN NỘI DUNG .......................................................................................... 5
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN ......................... 5
1.1 Cơ sở lí luận ................................................................................................ 5
1.1.1 Những hiểu biết chung về nhân hóa......................................................... 5
1.1.2 Nhân hóa tu từ có nhiều trong thơ ........................................................... 8
1.1.3 Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 4,5...................................................... 9
1.2 Cơ sở thực tiễn.......................................................................................... 12
hình tượng nghệ thuật thật độc đáo. Nhân hóa tu từ xuất hiện khá phổ biến
trong các tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi đem lại những câu thơ hồn
nhiên, nhí nhảnh pha chút hóm hỉnh như đúng tuổi thơ của các em. Nhân hóa
tu từ cũng xuất hiện trong các bài thơ trong chương trình Tiếng Việt lớp 4, 5.
Ở độ tuổi này, các em đã có nhận thức hơn so với học sinh lớp dưới nên cảm
nhận của các em về nhân hóa tu từ cũng như các biện pháp tu từ khác có phần
đặc biệt hơn, với vốn từ ngữ của mình các em sẽ có những cảm nhận riêng
sâu sắc hơn. Những lí do trên đã khiến tôi tìm hiểu về nhân hóa tu từ gần gũi,
thân quen mà chọn: “Rèn kĩ năng cảm nhận biện pháp nhân hóa trong các
bài thơ cho học sinh lớp 4, 5” làm đề tài nghiên cứu.
1
2. Lịch sử vấn đề
Nhân cách hóa là một biện pháp tu từ được nhiều nhà khoa học nghiên cứu.
Nhiều nhà Phong cách học, trong đó một số nhà Phong cách học tên
tuổi đã nghiên cứu nhân hóa trong những giáo trình do họ biên soạn như:
- Đinh Trọng Lạc (chủ biên), Nguyễn Thái Hòa (1993,1995,…) Phong
cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục.
- Đinh Trọng Lạc (1994), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt,
Nxb Giáo dục.
- Cù Đình Tú (1983), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, Nxb
Đại học và Trung học chuyên nghiệp.
Trong các tác phẩm trên, nhân cách hóa được nghiên cứu ở các nội
dung cơ bản như:
+ Khái niệm về nhân cách hóa
+ Cách thức sử dụng ngôn từ để tạo ra nhân hóa
+ Sơ lược chức năng hoặc tác dụng của nhân hóa
Ở các nội dung trên, các nhà khoa học nhìn chung có sự nhất quán về
quan niệm.
Chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhằm hướng đến các mục đích sau:
- Giúp cho học sinh lớp 4, 5 rèn kĩ năng cảm nhận biện pháp tu từ nhân
hóa trong các bài thơ.
- Giúp cho giáo viên hướng dẫn học sinh cảm nhận biện pháp nhân hóa
trong các bài thơ
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu một số cơ sở lí thuyết liên quan tới đề tài làm căn cứ để
xây dựng biện pháp
- Tìm hiểu thực trạng dạy và học biện pháp tu từ này ở trường tiểu học
- Đề xuất một số biện pháp nhằm rèn kĩ năng cảm nhận biện pháp
nhân há trong các bài thơ cho học sinh lớp 4, 5
3
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Rèn kĩ năng cảm nhận biện pháp tu từ nhân
hóa trong các bài thơ cho học sinh lớp 4, 5.
- Phạm vi nghiên cứu: Biện pháp tu từ nhân hóa trong các bài thơ lớp 4, 5
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp thống kê
Phương pháp này chúng tôi sử dụng để khảo sát, nhận diện những
trường hợp có sử dụng nhân hóa trong các tác phẩm thơ trong SGK Tiếng
Việt lớp 4, 5.
6.2. Phương pháp miêu tả
Phương pháp này được chúng tôi dùng khi cần tái tiện những ví dụ có
sử dụng nhân cách hóa
6.3. Phương pháp phân tích phong cách học
7. Trọng tâm của đề tài
Đề tài này đi sâu vào vấn đề về rèn kĩ năng cảm nhận biện pháp tu từ
Tác giả của hai tài liệu trên đã có sự thống nhất khi xếp nhân hóa là
một biến thể của ẩn dụ. Mặc dù cách diễn đạt có khác nhau nhưng về cơ bản,
họ đều cho rằng nhân hóa là cách chuyển những đặc điểm của người sang sự
vật không phải là người.
c, “Từ điển tiếng Việt” năm 2009, Nxb Đà Nẵng đã đưa ra cách giải
thích ngắn gọn: Việc “gán cho loài vật hoặc vật vô chi hình dáng, tính cách
hoặc ngôn ngữ của con người” gọi là nhân hóa.
5
d, Tác giả Trần Mạnh Hưởng qua cuốn: “Luyện tập về cảm thụ văn học
ở Tiểu học” (Nxb Giáo dục, 2002) cho rằng: nhân hóa là biến sự vật thành
con người bằng cách gán cho nó những đặc điểm mang tính cách người làm
cho nó trở nên sinh động, hấp dẫn.”
e, SGK Ngữ Văn lớp 6, tập hai, Nxb Giáo dục, 2002 định nghĩa về
nhân hóa: “Nhân hóa là cách gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật… bằng
những từ ngữ vốn dùng để gọi hoặc tả con người, biểu thị được những suy
nghĩ, tình cảm của con người” (Sđd,trang 56)
Kế thừa các định nghĩa về nhân hóa, chúng tôi đưa ra cách hiểu sau:
nhân hóa là cách dùng từ ngữ vốn chỉ người hoặc biểu thị các hành động, tính
chất của các sự vật không phải là người, dựa trên sự tương đồng nào đó giữa
hai đối tượng nằm giúp người nói (người viết) miêu tả sinh động đối tượng
được phản ánh, đồng thời kín đáo bày tỏ thái độ tình cảm của mình đối với
đối tượng đó.
1.1.1.2. Hai góc nhìn về nhân hóa
Tác giả Đinh Trọng Lạc (1998) trong “99 phương tiện và biện pháp tu
từ tiếng Việt” (Nxb Giáo dục) đã đưa ra lý thuyết về “biện pháp tu từ và
phương tiện tu từ”. Dựa vào đó, người nghiên cứu, học tập có thể nhìn nhận
nhân hóa ở hai góc nhìn:
Chúng ta thấy từ “Ông sấm” là một phương tiện tu từ vì nó vừa giúp tác
giả định danh được đối tượng (ý nghĩa cơ sở của từ “ sấm”) lại vừa biểu thị
được thái độ kính trọng của nhà thơ với đối tượng được nêu.
1.1.1.3. Những cách tổ chức nhân hóa
Các nhà Phong cách học cho rằng nhân hóa có thể tổ chức theo những
cách sau:
a, Dùng từ ngữ xưng hô vốn để thiết lập quan hệ thân hữu của người để
thiết lập quan hệ với những sự vật không phải là người.
Ví dụ:
7
Chị mây kéo đến
Trăng sao chốn cả rồi.
(Ông trời bật lửa, Đỗ Xuân Thanh, TV3, Tập hai)
b, Dùng từ ngữ vốn chỉ hoạt động, tính chất, trạng thái của người để chỉ
hoạt động, tính chất, trạng thái của sự vật không phải là người
Ví dụ:
Dòng sông mới điệu làm sao
Nắng lên mặc áo lụa đào thướt tha.
(Dòng sông mặc áo, Nguyễn Trọng Tạo, TV4, tập hai)
c, Dùng từ ngữ mà con người thường sử dụng để tâm tình, trò chuyện
với nhau để tâm tình, trò chuyện với sự vật không phải là người.
Ví dụ:
Trăng ơi… từ đâu đến?
Hay từ cánh đồng xa.
(Trăng ơi… từ đâu đến?, Trần Đăng Khoa, TV4, tập hai)
1.1.2 Tần số xuất hiện của nhân hóa trong thơ
Có thể khẳng định, thơ là nơi chứa nhiều biện pháp nhân hóa tu từ.
thức) và tư duy lí tính (nhận thức hiện thực khách quan bằng khái niệm, phán
đoán và suy luận thông qua phân tích, so sánh, tổng hợp…).
Quá trình phát triển tư duy của học sinh tiểu học thể hiện rõ ở từng độ
tuổi gắn với từng lớp học. Nếu như ở các lớp đầu tiểu học, các em thiên về tư
duy bằng trực quan sinh động, thì đến những lớp cuối tiểu học các em dần có
khả năng tư duy trừu tượng bằng khái niệm, phán đoán qua các thao tác phân
tích, tổng hợp.
Tư duy bằng biểu tượng là khâu trung gian giữa tư duy cảm tính và tư
duy trừu tượng. Muốn tư duy bằng biểu tượng, con người phải tri giác, dựa
vào tri giác để từ đó đầu óc phân tích những kích thích bên ngoài…, rồi tổng
hợp để có hình ảnh về đối tượng cần nhận thức.
Học sinh đã biết tiến hành so sánh, các em đã biết đi tìm sự giống và
khác nhau khi so sánh, nhưng các em thường hoặc chỉ tìm thấy giống nhau ở
9
những đối tượng đã quen thuộc hoặc là chỉ tìm thấy sự khác nhau ở những đối
tượng mới lạ, rất hiếm khi cùng một lúc các em vừa tìm thấy cái giống nhau
và khác nhau.
Trong lĩnh hội khái niệm, đặc điểm tư duy của các em cũng được thể
hiện khá rõ, các em có thể hiểu khái niệm dựa vào bản chất của chúng.
b, Đặc điểm tri giác của học sinh lớp 4,5
Tri giác của học sinh tiểu học vẫn mang tính không chủ định. Trong
quá trình tri giác các em thường tập trung vào một vài chi tiết nào đấy của đối
tượng và thường cho đố là tất cả.
Tính cảm xúc cũng là một đặc trưng trong tri giác của học sinh tiểu
học. Tri giác của các em phụ thuộc vào đặc điểm chính của đối tượng. Cái
trực quan, cái rực rỡ, cái sinh động được tri giác rõ ràng hơn những hình ảnh
tượng trưng và sơ lược.
Ngôn ngữ viết được hình thành và phát triển mạnh. Tuy nhiên, ngôn
ngữ viết của các em vẫn nghèo hơn ngôn ngữ nói. Do hiểu từ ngữ chưa chính
xác, nắm ngữ pháp chưa chắc nên khi viết các em còn dùng từ sai, viết câu
chưa đúng, chưa biết chấm câu…
Trên cơ sở đó, kĩ năng đọc của các em được hoàn thiện. Tuy nhiên, các
em vẫn gặp khó khăn khi đọc hiểu do không có sự hỗ trợ của các biểu hiện
bên ngoài của ngôn ngữ (ngữ điệu, nét mặt,…) và do các em chưa hiểu được
các thủ thuật: từ nhấn mạnh, dấu biểu cảm, trật tự từ…
1.1.3.2 Tình cảm, cảm xúc của học sinh lớp 4,5
Tình cảm là một mặt quan trọng trong đời sống tâm lí của con người. Đối
với học sinh tiểu học, tình cảm, cảm xúc còn có vị trí đặc biệt vì nó là khâu quan
trọng gắn liền nhận thức và hoạt động của các em. Tình cảm tích cực không chỉ
kích thích các em nhận thức mà còn thúc đẩy các hoạt động. Tình cảm không tự
nhiên mà có, nó thường bộc lộ trong những hoàn cảnh “có vấn đề”.
Tình cảm, cảm xúc của các em thường gắn bó với những sự vật, hiện
tượng cụ thể, sinh động, gần gũi, thân quen. Hơn nữa, học sinh tiểu học
thường yêu cái đẹp, cái ngộ nghĩnh.
11
Như vậy, tình cảm, cảm xúc là những trạng thái tâm lí, không thể đồng
nhất với tư duy nhưng lại có quan hệ mật thiết với tư duy. Tìm hiểu đặc điểm
tâm lí của học sinh tiểu học ta thấy rất rõ điều đó. Với các em, nhờ kết quả
của tri giác, biểu tượng cao hơn nhận thức sự vật, hiện tượng bằng khái niệm,
các em hiểu hơn về chúng, từ đó có thái độ tình cảm yêu ghét đúng đắn hơn.
Mặt khác, nhờ tình cảm yêu thích sự vật này hay sự vật kia nên ở mỗi em khả
năng liên tưởng, tưởng tượng dần tốt hơn và biểu tượng được thực hiện thuận
lợi, dễ dàng. Đặc biệt, nhờ tình cảm yêu thích cái đẹp, cái ngộ nghĩnh và cả
những cái mới, nếu được hướng dẫn, các em có khả năng thực hiện tưởng
Trước cổng trời, Về ngôi nhà đang xây, Đất nước, Cao Bằng,
Cửa sông.
1.2.2 Thực trạng dạy - học biện pháp tu từ nhân hóa trong sách Tiếng Việt
lớp 4, 5
a, Mục đích khảo sát: Tìm hiểu thực trạng dạy học biện páp tu từ nhân hóa ở
lớp 4, 5 trên cơ sở đó đưa ra những biện pháp nhằm rèn kĩ năng cảm nhận
nhân hóa tu từ trong các bài thơ cho học sinh lớp 4, 5
b, Nội dung khảo sát
Để tìm hiểu thực trạng dạy - học biện pháp tu từ nhân hóa chúng tôi đã
tiến hành điều tra, tìm hiểu thông tin qua các thầy, cô giáo ở trường Tiểu học
Định Trung, Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc và thu được những kết quả sau:
Những thuận lợi
- Về nhà trường:
+ Ban giám hiệu nhà trường quan tâm chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo
dục học sinh, có nhiều biện pháp hỗ trợ giáo viên trong các hoạt động sư
phạm. Nhà trường tổ chức việc dạy 2 buổi/ ngày.
+ Đa số giáo viên dạy khối 4, 5 có nhiều kinh nghiệm giảng dạy
+ Giáo viên tận tụy, luôn tìm tòi những phương pháp phù hợp với đối
tượng học sinh để giảng dạy
+ Cơ sở vật chất nhà trường về cơ bản đáp ứng được yêu cầu thực hiện
nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục học sinh
- Về học sinh:
+ Các em đã làm quen với nhan hóa tu từ qua các bài tập trong phân
môn Luyện từ và câu ở lớp 3, vì vậy, đa số các em đã nắm dược kiến thức cơ
bản về nhân hóa (khái niệm, cách thức…).
13
HÓA TU TỪ TRONG CÁC BÀI THƠ CHO HỌC SINH LỚP 4, 5
Nhiều học sinh còn lúng túng trong việc nhận biết biện pháp tu từ nhân
hóa. Mặt khác, do khả năng nhận thức mới ở mức độ đơn giản nên các em
cảm nhận biện pháp này chưa tốt. Bản thân giáo viên cũng lúng túng khi dạy
học nội dung này.
Để khắc phục tình trạng trên chúng tôi đưa ra những biện pháp để rèn
kĩ năng cảm nhận biện pháp nhân hóa cho học sinh lớp 4,5 như sau:
2.1 Rèn cho học sinh nắm chắc khái niệm về nhân hóa
Trước hết, giáo viên cần giúp cho học sinh hiểu rõ khái niệm về nhân
hóa, cũng như tác dụng của biện pháp tu từ này.
Nhân hóa là gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật… bằng những từ ngữ vốn
được dùng để gọi hoặc tả con người, làm cho thế giới loài vật, cây cối, đồ vật trở
nên gần gũi với con người, biểu thị được những suy nghĩ, tình cảm của con
người. Nhân hóa làm cho các sự vật trở nên sống động gần gũi với con người.
Ví dụ như:
“Hai người thôn gánh lợn chạy đi đầu
Con bò vàng ngộ nghĩnh đuổi theo sau”
(Chợ Tết, Đoàn Văn Cừ, TV4, tập hai)
Con bò vàng được tác giả miêu tả bằng từ “ngộ nghĩnh” từ được dùng
để miêu tả đặc điểm của con người, đó là nhân hóa. Với việc sử dụng hình
ảnh nhân hóa, chú bò trông thật sinh động, ngộ nghĩnh, đáng yêu. Ngoài chú
bò ngộ nghĩnh, hình như những tia nắng cũng trở nên tinh nghịch hơn vào
phiên chợ Tết. Chúng cứ “nháy” những ánh nắng mãi không thôi trong đồng
ruộng lúa. Còn những dãy núi, những ngọn đồi có thêm phần mềm mại, uyển
chuyển, điệu đà:
15
“Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh
“Đầu tiên là mận ngọt
Đón môi ta dịu dàng”.
(Cao Bằng, Trúc Thông, TV5, tập hai)
Mận Cao Bằng cũng biết đón khách bằng vị ngọt của nó. Nhưng nó rất khéo
léo khi đón người khách một cách “dịu dàng”. Với tính từ này, ta có thể thấy
sự nhẹ nhàng, nâng niu của vị ngọt của mận nơi đây. Nhân hóa cùng với tính
từ mang tính gợi hình, gợi cảm làm cho mận thường ngày cũng có hình dáng,
cũng biết hành động, cũng có tính cách.
Có thể thấy, nhân hóa làm cho loài vật, cây cối vốn vô tri vô giác trở
nên sinh động, có hồn, có hình dáng, có cảm xúc.
Ngoài nội dung cơ bản trên, giáo viên có thể mở rộng thêm với học
sinh: Nhân hóa hay nhân cách hóa là một biến thể của ẩn dụ, ở đó người ta
chuyển đổi ý nghĩa của các từ ngữ chỉ thuộc tính của con người sang đối
tượng không phải là con người.
“Lưng trần phơi nắng phơi sương
Có manh áo cộc tre nhường cho con”
(Tre Việt Nam, Nguyễn Duy, TV4, tâp một)
Nếu chỉ đọc hai câu thơ, chắc hẳn có người sẽ nghĩ hai câu thơ ấy đang
nói về người cha. Đúng, nói về người cha, nhưng đây là người cha “tre”. Cây
tre đã được nhân hóa bằng cách miêu tả cây tre bằng những từ ngữ chỉ thuộc
tính của con người “lưng trần, manh áo cộc, nhường”. “Lưng trần” chỉ bộ
phận của cơ thể người, “manh áo cộc” chỉ một trang phục của con người,
“nhường” là một hoạt động của con người, nhưng lại được dùng để miêu tả
cây tre, cho chúng ta thấy, cây tre cũng có những đức tính như một người cha,
nó cũng chịu khó khăn mệt nhọc, vất vả, nó cũng biết cho con của mình
những gì tốt đẹp nhất. Ta dường như có thể cảm nhận được tình cảm cha con
17
các cách thức khác nhau, giáo viên nên hướng dẫn học sinh nhận biết biện
pháp nhân hóa dựa trên các cách thức đó.
Về các cách nhân hóa:
- Với nội dung: dùng từ ngữ vốn gọi người để gọi sự vật.
Trước hết, giáo viên cho học sinh tập hợp những danh từ chỉ quan hệ
thân thuộc như: ông, bà, anh, chị, em, cô, chú…
Sau đó, hướng dẫn học sinh nhận biết những danh từ chỉ quan hệ thân
thuộc của con người trong nhóm trên khi đi với một danh từ chỉ con vật, đồ
vật, sự vật tự nhiên thì con vật, đồ vật, sự vật tự nhiên đó đã được nhân hóa.
Ví dụ:
Nhác trông vắt vẻo trên cành
Anh chàng Gà Trống tinh nhanh lõi đời
(Gà Trống và Cáo, La Phông - Ten, TV4, tập một)
Tác giả đã dùng từ “anh chàng” chỉ một thanh niên để chỉ con gà trống,
cho ta thấy hình ảnh một chú gà trống đẹp, mạnh mẽ với vóc dáng, thân hình
khỏe mạnh.
- Với cách dùng những từ vốn chỉ hoạt động, đặc điểm của con người
để chỉ hoạt động, đặc điểm của vật, giáo viên cần cho học sinh tập hợp những
động từ chỉ hoạt động, những tính từ chỉ tính chất, đặc điểm, trạng thái của
con người; hướng dẫn học sinh những từ chỉ hoạt động, tính chất, trạng thái
của con người được gán cho đối tượng không phải là người thì đối tượng đó
đã được nhân hóa.
Ví dụ:
“Rễ siêng không ngại đất nghèo
Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù
Vươn mình trong gió tre đu
Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành”
19
20