ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------
Nguyễn Văn Cƣờng
ĐÁNH GIÁ TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC THỰC VẬT
HỆ SINH THÁI RỪNG NGẬP MẶN HUYỆN TIÊN YÊN,
TỈNH QUẢNG NINH LÀM CƠ SỞ KHOA HỌC CHO
SỬ DỤNG HỢP LÝ VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Chuyên ngành: Khoa học Môi trường
Mã số: 60440301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. Trần Văn Thụy
Hà Nội - 2015
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................3
Chƣơng 1: TỔNG QUAN .........................................................................................5
1.1. Những nghiên cứu về đa dạng sinh học hệ thực vật .......................................5
1.1.1. Trên thế giới: .....................................................................................................5
1.1.2. Ở Việt Nam: .......................................................................................................6
1.2. Nghiên cứu đa dạng quần xã thực vật ..............................................................7
1.2.1. Trên thế giới ......................................................................................................7
1.2.2. Ở Việt Nam ........................................................................................................9
1.3. Các nghiên cứu về đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng ngập mặn trên Thế
giới và ở Việt Nam ...................................................................................................10
3.3 Định hƣớng sử dụng hợp lý và phát triển bền vững hệ sinh thái RNM
huyện Tiên Yên ........................................................................................................52
3.3.1. Xây dựng quy hoạch chi tiết và đồng bộ để phát huy những giá trị và chức
năng đa dạng của rừng ngập mặn ............................................................................52
3.3.2. Xây dựng kế hoạch giám sát và đánh giá hiện trạng rừng .............................52
3.3.3. Thực hiện các chương trình phục hồi rừng ngập mặn, phù hợp với điều kiện
tự nhiên và diễn thế sinh thái ....................................................................................53
3.3.4. Giám sát tác động môi trường nước của hệ sinh thái .....................................55
3.3.5. Các giải pháp về kinh tế – xã hội ....................................................................56
3.3.6. Phát triển du lịch sinh thái ..............................................................................57
3.3.7. Bảo tồn giá trị đa dạng sinh học .....................................................................58
3.3.8. Nâng cao nhận thức về vai trò, giá trị HSTRNM cho các nhà quản lý ở cấp
địa phương, các tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư vùng RNM ............................58
KẾT LUẬN ..............................................................................................................58
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................59
2
MỞ ĐẦU
Huyện Tiên Yên có vị trí địa lý tự nhiên và kinh tế xã hội quan trọng trong
tỉnh quảng Ninh và khu vực Bắc Việt Nam. Tài nguyên thiên nhiên và kinh tế xã
hội nơi đây chứa đựng tiềm năng to lớn thúc đẩy cán cân phát triển kinh tế không
những cho tỉnh mà còn ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của cả khu vực. Đặc biệt hệ
sinh thái rừng ngập mặn chiếm lĩnh toàn bộ đường bờ và dải ngập nước ven biển
không chỉ quyết định tới môi trường sống, chỉ thị các yếu tố đặc trưng của hệ sinh
thái, mà còn là nguồn tài nguyên kinh tế đa lợi nhuận. Nguồn lợi này, đã được nhân
dân vùng biển sử dụng rộng rãi, đa dạng với các trình độ canh tác khác nhau từ
nhiều thế kỷ.
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kỹ thuật canh tác lúa nước,
3
Hệ sinh thái rừng ngập mặn chứa đựng những mối liên kết giữa các loài động,
thực vật trong thời kỳ tiến hoá lâu dài mà những thành tựu nghiên cứu khoa học,
mới chỉ biết đến một phần chưa đầy đủ. Vì vậy, sử dụng hợp lý hệ sinh thái ngập
mặn, cần tiến hành thận trọng, có kế hoạch nhằm duy trì các liên kết bền vững của
hệ sinh thái, giải quyết các mâu thuẫn phá vỡ các liên kết hữu cơ của hệ sinh thái
đang tăng lên cùng với sự sử dụng của con người.
Những hướng sử dụng trên cần được xem xét, gắn kết trong sử dụng đồng bộ các hệ
sinh thái khác của môi trường sinh học, mang tính hữu cơ, vừa đảm bảo phát triển
mạnh mẽ hệ sinh thái nông nghiệp trong lãnh thổ, vừa đảm bảo chức năng liên kết
tác động tích cực của nó tới hệ sinh thái ven biển, nhằm duy trì và phát triển bền
vững các hệ sinh thái trong mối liên hệ chức năng thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển
ở trạng thái cân bằng. Xuất phát từ những cơ sở trên, tác giả đã lựa chọn đề tài
“Đánh giá tính đa dạng sinh học thực vật hệ sinh thái RNM huyện Tiên Yên,
`tỉnh Quảng Ninh làm cơ sở khoa học cho sử dụng hợp lý và phát triển bền
vững”.
Mục tiêu của đề tài luận văn là:
- Nghiên cứu đánh giá tính đa dạng sinh học thực vật của hệ sinh thái RNM
huyện Tiên Yên - tỉnh Quảng Ninh.
- Nghiên cứu đánh giá giá trị đa dạng sinh học đối với sự phát triển kinh tế
xã hội địa phương của hệ sinh thái RNM Tiên Yên - tỉnh Quảng Ninh.
- Đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý hệ sinh thái RNM Tiên Yên - tỉnh Quảng
Ninh.
Chúng tôi hy vọng những nội dung nghiên cứu này là những tư liệu hữu ích góp phần
giúp các nhà hoạch định chính sách có các hoạt động ưu tiên cải thiện công tác quy
hoạch phát triển, quản lý và sử dụng hợp lý các dạng tài nguyên thiên nhiên cũng như
bảo vệ nguồn lợi sinh vật, bảo tồn đa dạng sinh học, đồng thời đáp ứng nhu cầu phát
triển kinh tế - xã hội về nhiều mặt của cộng đồng địa phương huyện Tiên Yên.
1114 loài) [4] (ghi theo Lê Trần Chấn – 1990).
Ở Liên Xô, từ năm 1928 đến năm 1932 được xem là giai đoạn mở đầu cho
thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật cụ thể. Vào thời gian này, Tomachev A. I. được giao
5
nhiệm vụ nghiên cứu hệ thực vật vùng Taimua nằm ở tọa độ địa lý 74o20’-25o độ vĩ
bắc và 102o 30’ độ kinh đông (ghi theo Lê Trần Chấn – 1990) [4].
Trong những năm gần đây hàng loạt các tổ chức, các hiệp hội bảo tồn, các
hội nghị quốc tế đã được thành lập, diễn ra các hoạt động vì mục đích cao cả đó.
Nổi bật và đáng chú ý nhất là Hội nghị thượng đỉnh bàn về vấn đề môi trường và đa
dạng sinh vật đã được tổ chức tại Rio de Janeiro (Brazil) tháng 6/1992, 150 nước đã
ký vào Công ước về đa dạng sinh vật [5, 8,9]. Để phục vụ cho mục đích bảo tồn,
WWF (1990) đã cho xuất bản cuốn sách Tầm quan trọng của đa dạng sinh vật (The
importance of biological diversity); IUCN, UNEP, WWF đưa ra Chiến lược bảo tồn
toàn cầu (World conservation strategy, 1990), Hãy quan tâm tới trái đất (Caring for
the earth, 1991); WCMC đã Đánh giá đa dạng sinh vật toàn cầu (Global
biodiversity assessment, 1995).
Bên cạnh đó, hàng ngàn những công trình khoa học và các báo cáo khác lần
lượt được xuất bản và rất nhiều cuộc hội thảo khác nhau đã được tổ chức nhằm thảo
luận về quan điểm, về phương pháp luận cũng như thông báo các kết quả đã đạt
được trong nghiên cứu về đa dạng sinh vật và bảo tồn trên toàn thế giới. Các kết quả
nghiên cứu được công bố trong các báo cáo và hội nghị hội thảo đã cơ bản thiết lập
nên một hệ thống thông tin đa dạng sinh vật trên toàn thế giới đã và đang góp phần
nâng cao nhận thức đa dạng sinh vật và bảo tồn, khôi phục lại một số hệ sinh thái,
hệ thực vật trên các vùng lãnh thổ cấp quốc gia.
1.1.2. Ở Việt Nam:
Về thành phần loài và đa dạng trong cấu trúc hệ thống hệ thực vật:
Đến nay đã thống kê được gần 12.000 loài thực vật [10, 32], nhiều nhóm có
bậc thấp và 20 loài Rêu còn lại 5.246 loài thực vật có mạch [10]. Tư liệu về hệ thực
vật Việt Nam mới nhất phải kể đến bộ “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” do
tập thể các nhà thực vật Việt Nam biên soạn, đã giới thiệu khái quát và đầy đủ nhất
về hệ thực vật Việt Nam, gồm 3 tập: trong đó tập I (2001) gồm Nấm, Thực vật bậc
thấp, Rêu, Thực vật Hạt trần; tập II (2003) và tập II (2005) khái quát về Hạt kín,
trong đó toàn bộ lớp Một lá mầm được trình bày trong tập III [32]. Đây là những tài
liệu quan trọng, làm cơ sở cho việc đánh giá về đa dạng thực vật Việt Nam.
1.2. Nghiên cứu đa dạng quần xã thực vật:
1.2.1. Trên thế giới
Từ lâu, đối tượng nghiên cứu của khoa học về thảm thực vật đã được xác
định là tổ hợp các cá thể của các loài thực vật khác nhau, có cấu trúc ngoại mạo,
7
chức năng sinh thái và quy luật phân bố địa lý phân biệt được với nhau, có thể định
loại sắp xếp theo các hệ thống phân loại ở các bậc khác nhau, được gọi tên theo các
thuật ngữ nhất định.
Cho tới nay, có thể thống kê một số hệ thống phân loại thảm thực vật phổ
biến trên thế giới như sau: Warming (1895) đã phân chia các quần xã thực vật thành
các “nhóm sinh thái” theo tính chất của môi trường đất. Schimper (1898), phân biệt
cấu trúc và tính thích ứng sinh thái của các bậc phân loại lớn thành các quần hệ:
quần hệ khí hậu, quần hệ thổ nhưỡng, quần hệ vùng núi.
Trong quần hệ khí hậu, Schimper đã phân biệt sáu kiểu: rừng ưa mưa, rừng
gió mùa (mưa rào), rừng savan (savane – forest), rừng cây có gai (thorn forest),
trảng cỏ nhiệt đới (tropical grassland) và sa mạc nhiệt đới (tropical desert). Beard
(1944) (ghi theo Thái Văn Trừng, 1978)[27], đưa ra hệ thống phân loại ba cấp: quần
hệ, loạt quần hệ, và quần hợp. Ông lấy cơ sở từ quần hệ rừng mưa nhiệt đới trong
điều kiện tối ưu, để phân chia thành năm loạt quần hệ: (1) loạt quần hệ xanh theo
mùa, (2) loạt quần hệ vùng núi, (3) loạt quần hệ khô thường xanh, (4) loạt quần hệ
Việt Nam.
Năm 1956, Giáo sư Dương Hàm Hi trong cuốn “Tài nguyên rừng Việt Nam”
có đưa ra bảng phân loại về thảm thực vật rừng Bắc Việt Nam.
Năm 1958, Vidal trong Luận án tiến sỹ của mình đã đưa ra bảng phân loại
thảm thực vật Lào dựa trên hệ thống phân loại thảm thực vật của Aubréville – được
Hội nghị Yangambi (Daia) công nhận năm 1956 [27].
Năm 1960, Vũ Văn Cường trong công bố của mình đã đưa ra các dẫn liệu về
các quần hợp ngập nước quanh vùng Sài Gòn, Nam Việt Nam. Một số quần hợp
được ông đặt tên khoa học theo Braun – Blanquet [27].
Năm 1970, Trần Ngũ Phương [19] sau khi đã quy định thuật ngữ dùng cho
các bậc phân loại cũng đã đưa ra bảng phân loại rừng Bắc Việt Nam. Bảng phân
loại này đã đề cập tới sự phân hóa của thảm thực vật theo đai cao cùng với sự phân
hóa của khí hậu, thổ nhưỡng… và điều kiện nhân tác.
Các bậc phân loại này, về tiêu chuẩn xác định tương đương với bậc quần hệ
của UNESCO. Trong các đai rừng khí hậu trên, Trần Ngũ Phương chia tiếp thành
các kiểu rừng khí hậu, các loại hình khí hậu, các loại hình khí hậu – thổ nhưỡng, và
sau đó là các kiểu phụ khí hậu, kiểu phụ thổ nhưỡng và kiểu phụ thứ sinh nhân tác.
Năm 1970 và 1978, Thái Văn Trừng dựa trên quan điểm sinh thái phát sinh
trình bày bảng phân loại thảm thực vật toàn lãnh thổ Việt Nam, từ bậc nhóm kiểu
9
thảm thực vật tới bậc quần hợp. Dựa vào sự phân hóa của khí hậu, mười bốn kiểu
thảm thực vật khác nhau được phân chia tiếp từ hai nhóm kiểu thảm thực vật này,
tên của mỗi kiểu thảm được gọi bằng chính tên của các kiểu khí hậu sinh vật do ông
xác định. Năm 1985, Phan Kế Lộc vận dụng khung phân loại của UNESCO phân
loại thảm thực vật Việt Nam [17]. Việc vận dụng khung phân loại này cho phép xác
định rõ ràng các đơn vị hình thái cấu trúc thảm thực vật hiện tại, không phân biệt
trạng thái ổn định tạm thời hay cao đỉnh, nguyên sinh hay thứ sinh, thuận lợi cho sự
triển ở độ mặn từ 0-10‰ [35], Khi độ mặn càng cao thì sinh trưởng của cây càng
kém, sinh khối của rễ, thân và lá đều thấp dần, lá sớm rụng (Saenger và cộng sự,
1983) (Trích dẫn từ Nguyễn Hoàng Trí, 1999) [27], [43].
Nhiều tác giả cho rằng đất là nhân tố chính giới hạn sự tăng trưởng và phân
bố cây ngập mặn (Gledhill, 1963; Giglioli và King, 1966; Clark và Hannonn,
1967; S. Aksornkoae và cộng sự, 1985) (ghi theo Ramsar (2000))[43]. Đất rừng
ngập mặn là đất phù sa bồi tụ có độ muối cao, thiếu O2, giàu H2S, rừng ngập mặn
thấp và cằn cỗi trên các bãi lầy có ít phù sa, nghèo chất dinh dưỡng. A. Karim và
cộng sự cho biết sự phát triển của thực vật ngập mặn liên quan đến số lượng phù sa
lắng đọng và cây đạt chiều cao cực đại ở nơi có lớp đất phù sa dày [35]
Năm 1983, [8] đề án “Chương trình nghiên cứu tổng hợp và đào tạo về hệ
sinh thái rừng ngập mặn Châu Á – Thái Bình Dương” của UNDP/UNESCO ra đời
với sự tham gia chính thức của 12 nước trong khu vực. Công trình gồm tập hợp các
báo cáo về tình hình rừng ngập mặn của 11 nước và một số vấn đề gây tình trạng
giảm sút rừng trong khu vực đã được in trong cuốn “Rừng ngập mặn Châu Á và
Thái Bình Dương: Thực trạng và quản lý, 1996”.
Nhiều công trình công bố kết quả nghiên cứu liên quan đến hệ sinh thái
RNM [44,45] đã được tổng hợp, thống kê và đăng tải trong tuyển tập các báo cáo
tại Hội thảo của các dự án thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (Umali,
1986). Trong đó có một số công trình công bố có liên quan đến các lĩnh vực: Cấu
trúc quần xã và khu hệ động thực vật và các thảm thực vật phân bố trong vùng
RNM; Năng suất mạng lưới thức ăn và dòng năng lượng, chu trình dinh dưỡng
trong hệ sinh thái RNM; Các đặc tính thuỷ lý, thuỷ hóa trong hệ sinh thái RNM;
Mối liên quan giữa RNM và các hệ sinh thái, các quần xã động vật đáy, quần xã
biển khơi, quần xã sinh vật vùng triều và đề xuất phương hướng quản lý RNM ở các
quốc gia.
Trong vài thập kỷ gần đây chúng ta đã chứng kiến sự biến đổi sâu sắc trong nhận
thức về ĐNN, đặc biệt là sự thay đổi trong cách nhìn nhận về tầm quan trọng của
vùng ĐNN của các cá nhân và tổ chức có liên quan. Trong cuốn “Các chức năng và
của Vũ Văn Cương (1964) (ghi theo Phan Nguyên Hồng) [13,14,15,16] về các
quần xã thực vật ở rừng Sát thuộc vùng Sài Gòn –Vũng Tàu. Tác giả đã chia thực
vật ở đây thành 2 nhóm: nhóm thực vật nước mặn và nhóm thực vật nước lợ. Đưng
13
phân bố ven sông Soài Rạp, Đông Tranh và một số cửa sông nhỏ; Cóc trắng gặp rải
rác ở những nơi đất cao, Vẹt đen gặp ở vùng nước lợ.
Lê Công Khanh (1986) (ghi theo Phan Nguyên Hồng) [13,14,15,16] mô tả
các đặc điểm sinh học để phân biệt các chi, các họ cây có trong rừng ngập mặn. Tác
giả đã xếp 57 loài cây ngập mặn vào 4 nhóm dựa vào tính chất ngập nước và độ
mặn của nước: Nhóm mọc trên đất bồi ngập nước mặn (độ mặn của nước từ 1532‰) có 25 loài, trong đó có Đưng, Cóc trắng; nhóm sống trên đất bồi thường ngập
nước lợ (độ mặn 0,5 - 15‰) có 9 loài, trong đó có Vẹt đen và nhóm sống trên đất
bồi ít ngập nước lợ có 12 loài [12].
Phùng Trung Ngân và Châu Quang Hiền (1987) đã đề cập đến 7 kiểu thảm
thựcvật ngập mặn ở Việt Nam: Rừng Mấm hoặc Bần đơn thuần, rừng Đước đơn
thuần, rừng Dừa nước, rừng hỗn hợp vùng triều trung bình, rừng Vẹt –Giá vùng
đất cao, Rừng Chà là -Ráng đại và trảng thoái hóa (ghi theo Phan Nguyên Hồng)
[13,14,15,16].
Nguyễn Hoàng Trí (1999), Phan Nguyên Hồng và cộng sự (1999) (ghi theo
Phan Nguyên Hồng) [13,14,15,16] cho rằng Đưng không có ở miền Bắc Việt Nam,
chỉ có ở ven biển miền Trung và Nam Bộ. Quần xã Đưng tiên phong ở phía Tây bán
đảo Cam Ranh, gặp ở phía trong quần xã Mấm trắng, Bần trắng trên đất ngập triều
trung bình. Cóc trắng gặp cả ở ba miền, trên vùng đất cao ngập triều không thường
xuyên, nền đất tương đối chặt. Vẹt đen không có ở miền Bắc, gặp ở vùng nước lợ ở
miền Nam. Trang phân bố từ Bắc vào Nam, chịu được biên độ nhiệt khá
khắc nghiệt, hiện được trồng nhiều ở miền Bắc.Đỗ Hữu Thư, Đào Mạnh Sơn, Vũ
Trung Tạng ….[20,21,22,23,24], đã nghiên cứu tổng quan rừng ngập mặn ở Việt
Nam đã xây dựng nên bản đồ phân bố rừng ngập mặn Việt Nam và định hướng quy
nội dung “nghiên cứu về đất ngập nước” một cách chính thức ở Việt Nam [8].
Về kiểm kê và phân tích các chức năng, giá trị của ĐNN có các công trình của
Lê Diên Dực, Vũ Văn Dũng và Nguyễn Hữu Thắng. Trong công trình nghiên cứu của
Lê Diên Dực (1989) [9] , đã kiểm kê và công bố 32 vùng ĐNN quan trọng, cần được
bảo vệ của nước ta. Trong các nghiên cứu làm cơ sở khoa học cho việc quy hoạch các
Khu bảo tồn ĐNN ở Việt Nam, Vũ Văn Dũng và Nguyễn Hữu Thắng đã thống kê
tương đối đầy đủ các kiểu ĐNN là ao hồ (tự nhiên và nhân tạo), đầm phá cần quy
hoạch thành các khu bảo tồn. Sau đó là hàng loạt các công trình kiểm kê và phân loại
ĐNN của Nguyễn Hoàng Trí (1995), Phan Nguyên Hồng (1989 - 1998), Vũ Trung
Tạng (1994), Mai Đình Yên (1993), Đặng Ngọc Thanh (1995 - 2000) ….. đã làm rõ
15
nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn của nghiên cứu ĐNN, đánh giá tổng quan các loại
hình ĐNN, tiềm năng, tình hình quản lý, sử dụng, các áp lực, mối đe doạ, chiến lược
bảo
vệ
và
phát
triển
bền
vững
hiện trạng đất ngập nước Việt Nam sau 15 năm thực hiện công ước Ramsamsar” [5]
Năm 2006, Cục Bảo vệ Môi trường đã báo cáo về nghiên cứu: “Chương trình
bảo tồn đa dạng sinh học vùng đất ngập nước sông Mê Kông: Hệ thống phân loại
Đất ngập nước Việt Nam” do tác giả Hoàng Văn Thắng, Lê Diên Dực thực hiện [5].
Năm 2015, Trần Văn Thụy, Pham Minh Dương, Nguyễn Thái Bình, Nguyễn
Văn Cường đã công bố các dẫn liệu về đa dạng sinh học hệ sinh thái bãi bồi trong
đó các nghiên cứu về các quần xã thực vật ngập mặn huyện Tiền Hải, tỉnh Thái
16
Bình [26]. Công trình này là bước định hướng nghiên cứu quan trọng cho hướng
nghiên cứu đề tài luận văn ở huyện Tiên Yên.
Những năm gần đây, các hoạt động nghiên cứu về ĐNN ở Việt Nam chủ yếu
tập trung vào các vấn đề: Vai trò môi trường của các hệ sinh thái đất ngập nước ở
Việt Nam đối với đa dạng sinh học trong bối cảnh biến đổi khí hậu (Tổng cục Môi
trường, 2012) nhằm những định hướng chiến lược về bảo tồn, sử dụng, quản lý và
phát triển bền vững các vùng ĐNN trong tương lai.
Nhìn chung những nghiên cứu trên là định hướng cơ bản cho mục tiêu nghiên
cứu của đề tài nhằm tiến tới xây dựng các giải pháp cho phát triển bền vũng lãnh thổ
khu vực nghiên cứu.
1.4. Tổng quan khu vực nghiên cứu
1.4.1. Vị trí địa lý khu vực nghiên cứu
Hệ sinh thái rừng ngập mặn huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh được xác định
trong phạm vi các xã ven biển cụ thể như sau: các xã Hải Lạng, Tiên Lãng, Đông
Ngũ, Đông Hải, Đồng Rui, được giới hạn trong tọa độ địa lý từ 21°10’34” 21°21’34” vĩ độ Bắc và 107°21’19” – 107° 37’45” kinh độ Đông.
1.4.2. Điều kiện địa hình, địa mạo
Phần đất liền của khu vực ven biển huyện Tiên Yên khá đặc trưng cho một
vùng duyên hải hẹp (chỉ rộng khoảng 10-15 km), chủ yếu trên nền phù sa cổ, chạy
không liên tục vì bị ngăn cách bởi các đồi thấp, kéo dài ra biển, tiếp giáp với một
1.4.3. Điều kiện khí hậu, thủy văn, hải văn
a. Đặc điểm khí hậu
Khu vực Tiên Yên thuộc chế độ khí hậu của vịnh Bắc Bộ và các vùng lân
cận. Khí hậu khu vực này thuộc kiểu nhiệt đới gió mùa với mùa hè nóng và ẩm (kéo
dài từ tháng 4 đến tháng 10), mùa đông khô và lạnh (từ tháng 11 đến tháng 3 năm
sau). Theo số liệu đo được tại các trạm khí tượng thủy văn đặt tại khu vực này thì
khu vực Tiên Yên có những đặc điểm khí hậu như sau.
- Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình năm từ 2000-2012 phần lớn có xu hướng tăng cao hơn
trung bình nhiều năm của thời kỳ cơ sở, có 8/13 năm tăng cao hơn và 3/13 năm có
nhiệt độ trung bình năm tương đương. Sự gia tăng nhiệt độ trung bình năm dao động từ
0,3oC (năm 2002, 2005) đến 0,8oC (năm 2008) [Đinh Hồng Duyên và nnk 2013]
Mùa hè (từ tháng 4 đến tháng 10) có nhiệt độ khá cao, nhiệt độ không khí
trung bình dao động từ 27°C - 29°C, nhiệt độ cao tuyệt đối có thể lên đến 38°C (đo
tại trạm KTTV Tiên Yên, tháng 7 năm 2010).
18
Mùa đông (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau): Do ảnh hưởng của gió mùa
Đông Bắc nên mùa đông ở khu vực này khá lạnh, nhiệt độ trung bình tháng lạnh
nhất (tháng 1) dao động từ 14,2°C - 16,7°C, có nhiều ngày nhiệt độ < 10°C. Nhiệt
độ thấp tuyệt đối đo từng đo được trạm KTTV Tiên Yên là 6,6°C.
- Chế độ mưa
Khu vực Tiên Yên là một trong những nơi có nhiều mưa ở các tỉnh phía bắc,
là nơi có tổng lượng mưa tương đối lớn ở đồng bằng Bắc bộ. Tổng lượng mưa trong
năm đo tại Bình Liêu (Tiên Yên) từ năm 2008-2010 là từ 1182.0-2645.4 mm. Có
khoảng 130-160 ngày mưa/năm, có một số ngày mưa lớn trên 100 mm.
Mưa tập trung chủ yếu vào các tháng 5-9, chiếm đến 75% lượng mưa của cả
năm, với lượng mưa tháng từ 112.9 - 1035.3 mm, các tháng có mưa nhiều nhất là tháng
là ở những vùng có các hoạt động khai khoáng.
c. Chế độ hải văn
- Chế độ thuỷ triều
Vùng nghiên cứu nằm trong vịnh Bắc bộ, có chế độ thuỷ triều là nhật triều
điển hình, biên độ tới 3-4 m. Trong vịnh Bắc Bộ có dòng hải lưu chảy theo hướng
bắc nam kéo theo nước lạnh lại có gió mùa đông bắc nên đây là vùng biển lạnh nhất
nước ta, nhiệt độ có khi xuống tới 13°C.
Thuỷ triều ở Tiên Yên mạnh nhất vào các tháng 1, 6, 7 và 12. Trong những
tháng này mực nước thực tế lên đến hơn 4m. Thuỷ triều yếu nhất vào các tháng 3, 4,
8 và 11. Số ngày trong năm có mực nước cao trên 3,5m là trên 100 ngày.
- Chế độ sóng
Vùng biển Tiên Yên được che chắn bởi các hòn đảo ở phía Đông - Đông Nam
nên sóng gió không lớn như vùng biển Trung Bộ. Do vậy, khu vực này ít có những
biến động thời tiết lớn và nguy hiểm như bão, sóng không cao như ở ngoài khơi.
Mùa đông: hướng sóng chủ yếu là hướng Bắc với tần suất khoảng 30 - 38%.
Độ cao của sóng cao nhất chỉ ở mức 0,5 - 0,7m với tần suất rất thấp, xuất hiện vào
tháng 12. Tần suất sóng lặng và sóng lăn tăn chiếm tới 97 - 99%.
20
Mùa hè: hướng sóng chủ yếu là Đông Nam với tần suất khoảng 20 - 40%,
lặng sóng và sóng lăn tăn chiếm 88 -94%. Cấp độ cao sóng từ 0,25 - 0,5m chiếm 49%. Cấp độ cao của sóng, cao nhất lên đến 2,0 -2,5m vào tháng 7 và tháng 8 do ảnh
hưởng trực tiếp của bão gây ra, đôi khi có thể gây thiệt hại đối với cơ sở hạ tầng
nuôi trồng hải sản của khu vực này.
- Nhiệt độ nước biển và độ mặn
Mùa đông: nhiệt độ nước biển trung bình khoảng 20,5 - 21,5°C, cao nhất từ
23,5 - 24,5°C, trung bình thấp nhất khoảng 18 - 19°C. Thời kỳ này độ mặn có giá trị
cao, cao nhất vào tháng 1 và tháng 2, nằm trong khoảng 31 - 32‰. Bởi vì thời kỳ
này ít mưa nhất, lượng mưa nhỏ, nước biển ít bị pha loãng. Biên độ dao động độ
Huyện Tiên Yên , tính đến thời điểm hiện nay có số dân 44.352 người, phân
bố không đồng đều, các xã ven biển có dân cư tập trung khá lớn. Thành phần dân
tộc bao gồm người Kinh chiếm tỷ lệ lớn nhất, tiếp đến là dân tộc Dao, Tày, Hoa,
Sán Chay, Sán Dìu, số còn lại là dân tộc Thái, Mường, Nùng, H’Mông và một số
dân tộc khác không đáng kể.
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên vẫn ở mức tương đối cao trong khoảng 1,4. Những
năm gần đây, tỷ lệ tăng dân số cơ học do hiện tượng di cư tự do ngày càng được hạn
chế nhưng vẫn đang tiếp diễn với tốc độ chậm. Chính những điều này tạo ra áp lực
lớn đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ diện tích RNM tại khu vực
nghiên cứu.
Thu nhập của người dân chủ yếu từ các sản phẩm nông nghiệp và đánh bắt hải
sản. GDP bình quân đầu người còn thấp, không đều giữa các khu vực, cao nhất là
TX. Móng Cái (1.416 USD/người/năm), các huyện khác thì thấp hơn (Hải Hà 455
USD/người/năm, Đầm Hà 483 USD/người/năm...). …do thiếu vốn, thiếu công cụ
sản xuất tiên tiến; cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng, do đó ảnh hưởng đến nền kinh tế
hàng hoá, trình độ dân trí chưa cao dẫn đến đời sống xã hội gặp nhiều khó khăn.
Các cư dân địa phương quanh RNM Tiên Yên ngoài việc làm nông nghiệp thì
một bộ phận khá lớn sống nhờ vào đánh cá và nuôi trồng hải sản với đa số là
phương pháp thủ công. Nghề cá và nuôi trồng thuỷ, hải sản giữ một vai trò to lớn
trong vùng, góp một phần không nhỏ trong giá trị sản xuất ngành nông nghiệp.
22
Theo số liệu thống kê của huyện Tiên Yên, năm 2009, có trên 1200 lao động
của huyện tham gia khai thác và nuôi trồng hải sản, với khoảng 230 phương tiện
đánh bắt các loại. Các phương tiện đánh bắt bao gồm các tàu thuyền nhỏ hoạt động
ven bờ như giã tôm, te xiệp, lưới rê 3 lớp. Trong đó, ở khu vực Tiên Yên - Hà Cối,
nổi bật nhất là ngư trường Mỹ - Miều, là vùng biển bao quanh khu vực Hòn Mỹ Hòn Miều. Trong ngư trường này có luồng tàu vào cảng Dân Tiến và luồng tàu vào
cảng Vạn Gia. Ngư trường Mỹ - Miều là vùng biển nông, có độ sâu từ 1 - 8 m