ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
----------------------
Nguyễn Thị Nga
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH QUẢN LÝ NGUỒN THẢI GÂY
Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG NƢỚC SÔNG NHUỆ
ĐOẠN CHẢY QUA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Hà Nội – 2012
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chƣơng 1-TỔNG QUAN TÀI LIỆU ....................................................................... 3
1.1. Tổng quan về tài nguyên nƣớc .......................................................................... 3
1.1.1. Tổng quan về tài nguyên nước trên thế giới ..................................................... 3
1.1.2. Tổng quan về tài nguyên nước ở Việt Nam ....................................................... 4
1.2. Tổng quan về tình hình ô nhiễm nƣớc sông trên thế giới và Việt Nam ........ 6
1.2.1. Tình hình ô nhiễm nước sông trên thế giới ....................................................... 6
1.2.2. Tình hình ô nhiễm nước sông ở Việt Nam ......................................................... 7
1.3. Khái quát một số đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội lƣu vực sông Nhuệ .. 9
1.3.1. Điều kiện tự nhiên ............................................................................................. 9
1.3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ................................................................................ 13
Chƣơng 2- ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....................... 18
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu....................................................................................... 18
2.2. Phạm vi nghiên cứu .......................................................................................... 19
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu................................................................................. 19
3.3.9. Các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường ................................................ 60
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................ 62
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 62
KIẾN NGHỊ ............................................................................................................. 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 64
MỞ ĐẦU
Tại Việt Nam, trong khoảng hơn 20 năm trở lại đây, nước mặt tại các thủy
vực nói chung và nước mặt trong các dòng sông có sự thay đổi lớn theo chiều
hướng suy giảm về chất lượng. Các sông lớn như Đồng Nai, sông Cầu, sông Đáy,
sông Nhuệ… đã và đang bị ô nhiễm nghiêm trọng bởi các hoạt động dân sinh và
suy giảm chức năng cung cấp nước cho hoạt động sản xuất, sinh hoạt. Sông Nhuệ là
sông cung cấp nước quan trọng cho hoạt động sản xuất nông nghiệp của nhiều địa
phương. Sông Nhuệ lấy nước từ sông Hồng qua cống Liên Mạc, cấp nước tưới cho
hệ thống thủy nông Đan Hoài. Bên cạnh đó sông Nhuệ còn có nhiệm vụ tiều nước
cho thành phố Hà Nội, thị xã Hà Đông và chuyển nước cho sông Đáy tại thành phố
Phủ Lý. Do đó, việc nghiên cứu, đánh giá chất lượng nước sông là cần thiết cho
công tác quản lý môi trường nước của sông Nhuệ [7].
Trong những năm gần đây, sự phát triển kinh tế - xã hội trong lưu vực sông
Nhuệ diễn ra rất mạnh mẽ, đem lại nhiều lợi ích kinh tế góp phần nâng cao đời sống
cho người dân, giải quyết công ăn việc làm cho một số lượng lớn người lao động.
Tuy nhiên, ngoài những lợi ích mang lại thì tình trạng ô nhiễm môi trường nói
chung và môi trường nước nói riêng trong lưu vực ngày càng nghiêm trọng, dòng
chảy bị hạn chế gây ảnh hưởng đến sức khoẻ cho cộng đồng dân cư sống quanh
vùng. Nguyên nhân của tình trạng này là do: công tác quản lý Nhà nước trong thời
gian qua và ý thức của một số doanh nghiệp, công dân còn hạn chế; nước thải sinh
hoạt, nước thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp, làng nghề chưa qua xử lý thải
trực tiếp ra lòng sông; tình trạng đổ phế thải, rác thải xuống sông còn phổ biến;
sông Nhuệ có tầm quan trọng lớn đối với cuộc sống của nhân dân trong lưu vực, do
như: mây, mưa, trong ao hồ, sông suối, đầm, biển, đại dương, cơ thể sinh vật, các
vật chất, đất đai… Khoảng 97% tổng lượng nước trên hành tinh là nước mặn tồn tại
trong các biển và đại dương, chỉ còn 3% là nước ngọt, nhưng 75% tồn tại dưới dạng
băng, đá. Trong gần 0,8% lượng nước ngọt còn lại thì có đến 90% tồn tại trong đất
và chỉ còn lại 0,08% tổng lượng nước trên hành tinh là nước ngọt (hơi nước và nước
trong các thủy vực lục địa) [8].
Nước có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự sống trên trái đất. Nước góp
phần hình thành lớp thổ nhưỡng, thảm thực vật, điều hòa khí hậu…Nước là môi
trường cho các phản ứng hóa sinh tạo chất mới, giúp chuyển dịch nhiều loại vật chất.
Nước có vai trò quyết định trong các hoạt động kinh tế và đời sống văn hóa xã hội
của loài người. Trong lịch sử các thủy vực lớn thường là cái nôi của nhiều nền văn
minh vĩ đại, đồng thời sự suy thoái các thủy vực nước cũng là nguyên nhân chính
dẫn đến suy tàn một số trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa lớn [5].
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc, hiện có
hơn 1,1 tỷ người trên thế giới không có nước sạch sử dụng. Mỗi năm có 5 triệu
người chết vì những bệnh liên quan đến nước. Lượng nước ngọt trung bình cho mỗi
người dân mỗi năm giảm đến gần 1/3. Liên hợp Quốc (LHQ) dự báo với tình hình
sử dụng nước như hiện nay, trong 20 năm tới, thế giới sẽ có 1,8 tỷ người sống ở các
vùng hoàn thiếu nước và 5 tỷ người khác sống trong các vùng khó có thể đáp ứng
nhu cầu về nước. Mặt khác do đô thị hóa người dân ngày càng tập trung vào các
thành phố lớn, dự tính đến năm 2020, các nước ở Nam bán cầu sẽ chiếm 27 trong số
33 thành phố có hơn 8 triệu dân khiến lượng nước tiêu thụ cho sinh hoạt sẽ tăng
40%. Sự lãng phí nước sẽ tăng cùng với mức sống của người dân tăng lên do sử
dụng quá nhiều thiết bi gia dụng [5].
1.1.2. Tổng quan về tài nguyên nước ở Việt Nam
Việt Nam có hệ thống sông, hồ, kênh rạch phong phú, lượng mưa trung bình
hàng năm khá lớn tới trên 2.000 mm. Lượng nước mặt sản sinh một lãnh thổ là 32,5
tỷ m3/năm, nếu kể cả lượng nước chảy từ các quốc gia lân cận vào đạt 889 tỷ
từ bên ngoài chảy vào bình quân đạt 7.660 m3/người/năm. Theo chỉ tiêu đánh giá
của hội tài nguyên quốc tế (IWRA), quốc gia nào có lượng nước bình quân đầu
người dưới 4.000 m3/người/năm là quốc gia thiếu nước. Như vậy, nếu chỉ tính riêng
lượng tài nguyên nước mặt sản sinh trên lãnh thổ thì ở thời điểm hiện nay nước ta
đã thuộc số các quốc gia thiếu nước [1].
Tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu: sự biến đổi khí hậu toàn cầu đã,
đang và sẽ tác động mạnh mẽ đến tài nguyên nước. Theo đánh giá bước đầu vào
khoảng năm 2070 với kịch bản nhiệt độ không khí tăng lên 2,50C đến 4,50C, lượng
dòng chảy sông ngòi ở Việt Nam cũng sẽ biến đổi tùy theo mức độ của lượng mưa.
Nếu lượng mưa giảm 10% thì dòng chảy năm có thể giảm 17% đến 53% đối với
kịch bản nhiệt độ không khí tăng 2,50C và giảm 26% -90% với kịch bản nhiệt độ
không khí tăng 4,50C, mức độ biến đổi mạnh nhất ở Nam Trung Bộ và Đông Nam
Bộ. Trái đất nóng lên có thể làm cho nước biển dâng cao thêm 0,3m-1,0m và do đó
nhiều vùng thấp ở đồng bằng sông Cửu Long, vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ và
ven biển Trung Bộ sẽ bị ngập chìm trong nước biển. Nếu nước biển dâng 1m, diện
tích ngập lụt là 40.000 km2 chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long, 1.700 km2 vùng
đất ngập nước cũng bị đe dọa và 17 triệu người sẽ chịu hậu quả của lũ lụt [6].
1.2. Tổng quan về tình hình ô nhiễm nƣớc sông trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Tình hình ô nhiễm nước sông trên thế giới
Trên thế giới nhiều quốc gia đang phải đối mặt với hiện tượng ô nhiễm
nguồn nước sông. Tại Trung Quốc khoảng 62,6 tỷ tấn nước thải đổ ra các dòng
sông mỗi năm, sông Yangzte (Dương Tử) nhận 22 tỷ tấn, sông Hoàng Hà nhận 3,9
tỷ tấn, trong đó 62% là nước thải công nghiệp, 36% hầu như chưa qua xử lý. Lưu
vực sông Yangzte chiếm 20% diện tích lãnh thổ Trung Quốc với dân số xấp xỉ 425
triệu người, đóng góp một phần tư GDP của Trung Quốc, tức là khoảng 410 tỷ USD.
Hiện nay, sông Yangzte cũng phải đối mặt vói hàng loạt các thách thức môi trường:
bão lũ, xói lở đất, ô nhiễm nước và suy giảm đa dạng sinh học, đặc biệt là hệ sinh
thái thủy sinh [9].
Lạch Tray, sông Bạch Đằng, sông Cầu) không có con sông nào đạt quy chuẩn nước
mặt loại A1 (nguồn cung cấp nước sinh hoạt), một số sông (sông Cầu, sông Ngũ
Huyện Khê, sông Cà Lồ) không đạt quy chuẩn nước mặt loại B1 (dùng cho mục
đích tưới tiêu thủy lợi) do có các thông số BOD5 và COD vượt quy chuẩn kỹ thuật
quốc gia về chất lượng nước mặt QCVN 08:2008/BTNMT [4].
1.2.2.2. Môi trường nước sông tại vùng KTTĐ miền Trung
Các con sông lớn trong vùng chảy qua các khu công nghiệp và đô thị có hàm
lượng các chất ô nhiễm tập trung cao ở phía hạ lưu: hàm lượng COD và BOD5 đạt
QCVN 08:2008/BTNMT loại B1, phần lớn các kim loại nặng và các muối dinh
dưỡng đạt QCVN 08:2008/BTNMT loại B1 [4].
Nước thải tại các khu công nghiệp được quan trắc có hàm lượng chất rắn lơ
lửng, chất hữu cơ, Coliform, Nitơ tổng số vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP). Nước
thải tại các khu đô thị: độ đục, hàm lượng chất rắn lơ lửng, hàm lượng chất hữu cơ,
hàm lượng N-NH4+ , Nitơ tổng vượt TCCP [4].
1.2.2.3. Môi trường nước sông tại vùng KTTĐ phía nam
Lưu vực sông Vàm Cỏ Đông: là lưu vực chịu ảnh hưởng ít nhất của nước
thải công nghiệp trên toàn vùng KTTĐ phía Nam, tuy nhiên chất lượng nước tại đây
cũng đã có dấu hiệu ô nhiễm. Ở một vài điểm, COD và hàm lượng chất dinh dưỡng
đó vượt QCVN 08:2008/BTNMT loại B [4].
Lưu vực sông Sài Gòn: Chất lượng nước liên quan chặt chẽ đến sức khỏe
cộng đồng. Theo đánh giá của Tổ chức Y tế thế giới, 80% bệnh tật ở con người xuất
phát từ việc sử dụng nguồn nước không sạch và vệ sinh môi trường kém. Hiện nay,
nguồn nước sinh hoạt của người dân trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh sử dụng
chủ yếu là nước máy đã qua xử lý từ nguồn nước thô lấy tại sông Sài Gòn - Đồng
Nai, và một phần trên kênh Đông.
Trong nhiều năm qua, hệ thống quan trắc, giám sát chất lượng nước cấp cho
sinh hoạt đã được đặt tại các trạm thượng lưu sông Sài Gòn như Bến Củi, Bến Súc,
Thị Tính và Phú Cương, hai trạm khác là Hóa An đặt trên sông Đồng Nai và trạm
1.3.1.1. Vị trí địa lý và diện tích
Sông Nhuệ nằm giữa đồng bằng Bắc bộ, phía Bắc lưu vực sông Nhuệ là sông
Hồng, phía Tây là sông Đáy, phía Nam là sông Châu Giang. Sông chảy qua địa bàn
thành phố Hà Nội và hai huyện của tỉnh Hà Nam [12].
Diện tích của toàn bộ lưu vực là 107.530 ha, trong đó: Hà Nội chiếm 87.820
ha và tỉnh Hà Nam chiếm 19.710 ha.
Sông Nhuệ (đoạn chảy qua thành phố Hà Nội) bắt nguồn từ sông Hồng tại
cửa cống Liên Mạc - Từ Liêm và chảy qua các quận, huyện gồm: Từ Liêm, Hà
Đông, Thanh Trì, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hoà, Phú Xuyên và cuối cùng đổ
vào sông Đáy ở khu vực thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam [12].
Lưu vực sông Nhuệ có hướng dốc từ Bắc xuống Nam là nguồn cấp nước tưới
phục vụ sản xuất nông nghiệp và thoát nước của thành phố. Tình hình phân bố diện
tích các quận, huyện trong lưu vực sông Nhuệ [12].
Bảng 1.1. Phân bố diện tích trong lƣu vực sông Nhuệ
Diện tích (ha)
TT
Quận, Huyện
Tổng số
Trong lƣu vực
1
Từ Liêm
7.532
9.468
6.420
6
Hà Đông
1.630
1.630
7
Thanh Oai
14.180
12.021
8
Ứng Hoà
18.370
15.841
9
13
Thành phố Phủ Lý (Hà Nam )
3.420
3.420
106.971
84.760
Cộng
(Nguồn: Sở Tài Nguyên và Môi trường Hà Nội) [12]
1.3.1.2. Đặc điểm địa hình
Lưu vực sông Nhuệ nằm hoàn toàn trên vùng đồng bằng thấp thuộc
châu thổ sông Hồng, không có đồi và núi. Địa hình có dạng lòng máng cao ở phần
sông Hồng, sông Đáy và thấp dần vào trục sông Nhuệ theo hướng Tây Bắc - Đông
Nam. Độ cao của khu thượng nguồn sông Nhuệ ở Từ Liêm khoảng 5-7m, tại khu
lân cận quận Hà Đông cao 4-7m, khu Thường Tín cao 1,1-3,5m. Độ dốc của lòng
sông Nhuệ có cao độ mặt phổ biến từ +2,0 đến +6,0 m. Cao trình biến đổi từ +1,0 m
đến + 9,0 m. Vùng ven sông Hồng và sông Đáy là đất cát lẫn phù sa mịn, hoặc đất
cát pha thịt, biến đổi dần sang đất thịt pha cát và tới khu vực lân cận sông Nhuệ là
đất thịt, đất thịt pha sét. Từ cao trình +2,5 m trở lên, đất thuộc loại trung tính, ít
chua, độ pH từ 5,5 - 6,0 chiếm khoảng 70% diện tích lưu vực. Phần đất trũng thấp
hơn +1,5m tập trung ở hạ lưu vực, đất bị chua, độ pH thấp hơn 5,5 một số nơi có hiện
tượng gây - sét hoá do bị ngập nước thường xuyên [12].
- Chế độ mưa ẩm:
Do địa hình lưu vực sông Nhuệ đa dạng và phức tạp nên lượng mưa cũng biến đổi
không đều theo không gian. Phần hữu ngạn của lưu vực có mưa khá lớn (X>1800
mm), nhất là vùng đồi núi phía Tây (X>2000 mm). Trung tâm mưa lớn nhất ở
thượng nguồn sông Tích thuộc núi Ba Vì (X = 2200-2400mm). Phần tả ngạn lưu
vực, lượng mưa tương đối nhỏ (X=1500-1800 mm), nhỏ nhất ở thượng nguồn sông
Đáy, sông Nhuệ (X = 1500 mm), và lại tăng dần ra phía biển (X = 1800 - 2000 mm)
[12].
Mùa mưa trùng với thời lỳ mùa hè, từ tháng 5 - 10, lượng mưa chiếm 80 85% tổng lượng mưa năm, đạt từ 1200-1800 mm với số ngày mưa vào khoảng 6070 ngày.
Lượng mưa các tháng mùa khô đều dưới 100 mm/tháng, trong đó tháng 12, 1, 2, 3
dưới 50 mm/tháng. Trong thời kỳ này, dòng chảy nhỏ, chủ yếu phụ thuộc vào thời
gian mở cống Liên Mạc [12].
b. Đặc điểm thủy văn
Lưu vực sông Nhuệ có hệ thống sông ngòi và đầm hồ dày đặc, trong đó bao
gồm nhiều sông lớn nhỏ khác nhau. Các sông lớn chảy ở phía ngoài như sông Hồng,
sông Đáy.
Sông Hồng có lưu lượng trung bình năm 780.436 m3/s, mực nước dao động
hàng năm từ 2–13m. Năm 1971 là năm lũ lớn nhất, lưu lượng nước đạt đến
1.124.177 m3/s, mực nước cao nhất đo được tại trạm Hà Nội là 14,3m. Năm 1996
mực nước lũ cao nhất là 12,34m.
Sông Đáy chảy ở phía ngoài rìa phía Tây Nam vùng nghiên cứu. Lòng sông
rộng 100-200m. Lưu lượng nước nhỏ và chảy chậm. Mực nước dao động từ 2 -5m.
Sông Nhuệ là con sông tự nhiên có nhiều khúc uốn quanh co, các khúc uốn đã
được đào và nắn thẳng lại vào những năm 1935 -1940. đoạn sông đào này cắt qua 2
con sông tự nhiên.
Dọc trục chính sông Nhuệ còn có một hệ thống sông, kênh, mương làm
nhiệm vụ tưới và tiêu nước phục vụ nông nghiệp gồm :
Sông Đăm: dài trên 6 km, chảy qua khu vực Phúc Lý, Phúc Diền, Cổ Nhuế
1.3.2.3. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội
Tình hình kinh tế - xã hội của Hà Nội năm 2011 được phát triển toàn diện và
đạt được những kết quả khá. Năm 2011, tổng sản phẩm nội địa (GDP) tăng 11% so
với năm 2010, trong đó ngành công nghiệp tăng 11,6%, các ngành dịch vụ tăng
11,1%, Ngành nông, lâm, thuỷ sản tăng 7,2%.
Lưu vực sông Nhuệ đoạn chảy qua địa phận Hà Nội hiện có khoảng 39 làng
nghề, với nhiều loại ngành nghề khác nhau. Các làng nghề phát triển mang tính tự
phát, thiếu mặt bằng sản xuất, vốn đầu tư đổi mới công nghệ, thông tin thị trường, sản
phẩm chưa có thương hiệu [16].
Danh sách các làng nghề được thể hiện trong bảng 1.2
Bảng 1.2. Danh sách các làng nghề trên lƣu vực sông Nhuệ thuộc TP Hà Nội
1
Làng dệt in hoa La Nội
xã Dương Nội
Hoài Đức
2
Làng dệt in hoa Ỷ Lan
xã dương nội
Hoài Đức
Hoài Đức.
xã Tân Hòa
Quốc Oai
xã Minh Khai
Hoàn Đức
Dương Liễu
Hoài Đức.
xã Cộng Hòa
Quốc Oai
xã Phùng xá
Thạch Thất
xã Thanh Cao
Thanh Oai
Phường Vạn Phúc
Hà Đông
10
Làng nghề chế biến NSTP Dương Liễu
11
Làng nghề chế biến tinh bột thôn Cộng
Hòa
12
Làng nghề cơ khí Phùng Xá
13
Làng nghề dệt khăn dệt vải dệt len thôn
Thanh thần
14
Làng nghề dệt lụa Vạn Phúc
15
Làng nghề điêu khắc thôn Dư Dụ
16
Làng nghề điêu khắc tượng xã Tiền
Phòng
xã Chuyên Mỹ
Phú Xuyên
21
Làng nghề khảm trai thôn Ngọ,
xã Chuyên Mỹ
Phú Xuyên
22
Làng nghề khâu bóng da thôn Lê
xã Tam Hưng
Thanh Oai
xã Tam Hưng
Thanh Oai
xã Khánh Hà
Thường Tín
xã Thanh Thùy
xã Hòa Bình
Thường Tín
28
Làng nghề luyện kim gò hàn Phú Thứ
xã Phú Thứ
Từ Liêm
29
Làng nghề mây tre đan thôn Nghĩa Hảo
xã Phú Nghĩa
Chương Mỹ
30
Làng nghề mây tre đan Văn La
xã Văn Võ
Chương Mỹ
31
Hoài Đức
35
Làng nghề rèn thôn Đa sỹ
xã Kiến Hưng
Hà Đông.
36
Làng nghề sơn màu Hạ Thái
xã Duyên Thái
Thường Tín
37
Làng nghề thêu thuộc xã Thắng Lợi
xã Thắng Lợi
Thường tín
38
Làng nghề thêu ren thôn Đỗ Quan
các cấp học thấp, Hà Nội có sự quan tâm đầu tư thích đáng. Cơ sở vật chất của các
trường lớp trong hệ thống giáo dục ở Hà Nội hiện đã được đầu tư nâng cấp đạt loại khá
trở lên, 100% số trường phổ thông trung học của Hà Nội được đầu tư trang thiết bị làm
việc và học tập tốt. Tỷ lệ trường phổ thông trung học có phòng học máy vi tính ở Hà
Nội hiện nay là 100%.
Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao của người dân Hà Nội cũng được
Nhà nước quan tâm phát triển rất phong phú và đa dạng: rạp chiếu bóng, nhà văn hóa,
cung văn hóa, thư viện quốc gia, thư viện thành phố, các sân bóng…..Các phong trào
văn hóa quần chúng cũng được quan tâm phát triển mạnh. Mạng lưới thông tin đại
chúng được mở rộng, đời sống văn hóa cơ sở cũng ngày càng được nâng cao hơn.
Chƣơng 2 - ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là môi trường nước sông Nhuệ đoạn chảy qua Hà Nội
được thể hiện trong hình 2.1 bản đồ lưu vực sông Nhuệ.
Hình 2.1. Bản đồ lƣu vực sông Nhuệ
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Lưu vực sông Nhuệ có chiều dài 74 km và trải dài qua 5 tỉnh thành phố lớn
là Hà Nôi, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Hòa Bình. Phạm vi nghiên cứu của đề
tài tập trung lưu vực sông Nhuệ đoạn chảy qua Hà Nội.
Lý do chọn phạm vi nghiên cứu là vì:
Lưu vực sông Nhuệ trải dài trên diện tích lớn, hơn nữa nước trong lưu vực
sông chủ yếu là do nước mưa, nước từ các hoạt động sản xuất của các cơ sở, làng
nghề, ...
Các hoạt động phát triển kinh tế xã hội trong lưu vực đang diễn ra nhanh và
mạnh, gây ra nhiều tác động xấu tới môi trường.
của Hà Nội để phân tích các chỉ tiêu: pH, DO, TSS, COD, BOD5 ,NO2-, ... và so
sánh với QCVN 08:2008/BTNMT; đồng thời đánh giá qua chỉ số chất lượng nước
WQI. Vị trí lấy mẫu và ký hiệu mẫu được thể hiện trong bảng 2.1 sau:
Bảng 2.1. Vị trí lấy mẫu và kí hiệu mẫu
TT Kí hiệu mẫu
Tọa độ
Kinh độ
Vĩ độ
Vị trí lấy mẫu
1
NR1
580051
2332232
Đập Liên Mạc
2
NR2
580245
2329157
Cầu Trắng
6
NR6
584028
2317053
Cầu Tả Thanh Oai
7
NR7
583542
2315487
8
NR8
583945
2312354
Cầu Sắt Tả Thanh Oai
2305554
Cầu Là - Tân Minh
12
13
14
15
NR12
NR13
NR14
NR15
587088
588171
590581
592829
2301998
2296654
2293555
2288471
16
NR16
593398