MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tín chỉ là một phương thức đào tạo tiến bộ trên thế giới, hệ thống này
lần đầu tiên, vào năm 1872 được áp dụng tại Viện Đại học Harvard - Hoa
Kỳ, hệ thống này ra đời như một cách để giải quyết những vấn đề của giáo
dục trung học Hoa kỳ và nó đã đem lại những thành quả to lớn trong nền
kinh tế tri thức và cách đào tạo hiệu quả này đã được nhiều quốc gia học hỏi
và áp dụng. Để bắt kịp với sự tiến bộ của thời đại ,đồng thời nhằm đổi mới
giáo dục đại học ở Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã yêu cầu chuyển đổi
từ việc thực hiện chương trình đào tạo theo nhóm sinh viên được chia thành
lớp theo kiểu Đông Âu (Xô viết) thành việc thực hiện đào tạo theo hệ thống
tín chỉ kiểu Hoa Kỳ, bắt đầu từ năm học 2008-2009 và đòi hỏi phải hoàn tất
việc chuyển đổi này trước năm 2012.
Thực hiện theo Quy chế 43 về Đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính
quy theo hệ thống tín chỉ (Ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐBGDĐT ngày 15 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào
tạo), Trường đại học Khoa học Huế nói chung và Khoa Lý luận Chính trị nói
riêng đã triển khai phương thúc đào tạo tiên tiên này kể từ khóa tuyển sinh
năm học 2008-2009. Trải qua một thời gian, đến nay phương thức đào tạo
tín chỉ đã mang lại những thành quả nhất định, nhưng cùng với đó đã và
đang tồn tại những vấn đề không nhỏ. Vì đây là phương thức đào tạo mới
nên còn nhiều vấn đề liên quan mà cả sinh viên và giáo viên vẫn đang lúng
túng, vì vậy, yêu cầu cấp thiết đặt ra lúc này là cả sinh viên và giáo viên cần
có sự trang bị cơ bản về phương thức đào tạo tín chỉ để quá trình giảng dạy
và học tập diễn ra theo đúng tinh thần của nó, đặc biệt là với đặc thù chuyên
ngành lý luận chính trị, làm sao để thích ứng với điều kiện mới.
Tuy vậy trong điều kiện thực hiện đào tạo theo phương thức mới trong
giai đoạn đầu tiên hiện nay, Nhà trường nói chung cũng như Khoa nói riêng
đang cố gắng để vượt qua quá nhiều rào cản và sức ỳ trong quá trình chuyển
đổi, trong quá trình chuyển đổi vẫn đang tồn tại những bất cập trong hoạt
Dương Tùng).
Trong nước, các công trình nghiên cứu, tài liệu có liên quan đến đề
tài như: Tác giả Hoàng Văn Vân với bài viết "Phương thức đào tạo
tín chỉ: lịch sử, bản chất và những hàm ý cho phương pháp dạy học ở bậc đại học" đã làm rõ : Tín chỉ là một phương thức đào tạo tỏ
ra có nhiều ưu thế so với phương thức đào tạo truyền thống. Ở Việt
Nam cách đây một vài năm đã có một số trường đại học chủ động áp
dụng phương thức đào tạo tiên tiến này. Tuy nhiên, do tính toán chưa
kĩ, chưa có những bước đi phù hợp và nhất là chưa lường trước được
những khó khăn có thể nảy sinh trong quá trình áp dụng cho nên kết
quả của việc áp dụng này thường không theo mong muốn. Với cách đặt
vấn đề như vậy, tác giả trả lời câu hỏi: “Tín chỉ là gì?”, nêu bật những
đặc điểm chính của phương thức đào tạo theo tín chỉ, những lợi thế của
phương thức đào tạo này so với phương thức đào tạo truyền thống và
đề xuất một số gợi ý về phương pháp giảng dạy - học ở bậc đại học
trong hệ thống đào tạo theo tín chỉ, nêu bật vai trò của người dạy và
người học trong hệ hình đào tạo mới, tạo hiệu quả cao trong dạy, học
và nghiên cứu theo phương thức đào tạo theo tín chỉ ở Việt Nam nói
chung và ở ĐHQGHN nói riêng.
- Một số tác giả bàn về đào tạo tín chỉ ở Việt Nam như: "Về học chế độ
tín chỉ và việc áp dụng ở Việt Nam" (Nguyễn Hoàng Việt); tác giả Trần
Thanh Nguyên "Hình thành các mô đun dạy học - một trong các hướng
đổi mới phương pháp dạy học trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở đại
học"; "Về việc áp dụng học chế tín chỉ trên thế giới và ở Việt Nam"
(Lâm Quang Thiệp); Tổ chức giảng dạy học tập theo chương trình định
sẵn và học chế tín chỉ (Lê Thạc Cán); Tài liệu, công văn của Bộ giáo
dục và Đào tạo về việc thực hiện đổi mới đào tạo theo hệ thống tín chỉ
đối với các trường đại học.
- Chủ trương của Đảng và Nhà nước về đổi mới Giáo dục đào tạo, được
hệ thống tín chỉ để các Trường, Khoa, Trung tâm trực thuộc Đại học
Huế tiến hành chuyển đổi chương trình theo đúng những quy định
chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Đại học Huế. Quy chế đào tạo
đại học ở Đại học Huế và các trường thành viên thuộc Đại học Huế.
Trong tình chung các đơn vị như Khoa Giáo dục chính trị, trường Đại
học Sư phạm, Khoa Kinh tế chính trị thuộc Đại học Huế đã tiến hành tổ
chức các Hội thảo về Đổi mới đào tạo theo hệ thống tín chỉ, với nhiều
bài viết của các Thầy giáo, Cô giáo, các nhà quản lý giáo dục đi vào
phân tích ưu điểm, hạn chế, tìm ra những giải pháp để thực hiện áp
dụng hình thức đào tạo này, đặc biệt áp dụng đổi mới cách giảng dạy và
học tập các môn lý luận chính trị trong tình hình hiện nay.
- Trường Đại học Khoa học đã tổ chức nhiều hoạt động thực hiện các
bước chuyển đào tạo từ hệ niên chế sang hệ tín chỉ : Ban hành Quy chế
học vụ đào tạo hệ chính quy theo học chế tín chỉ; Xây dựng mẫu Đề
cương học phần theo học chế tín chỉ (kèm theo Thông báo 015)
Thông báo 015 (11/1/2008) ban hành hướng dẫn xây dựng đề cương
học phần, phương pháp dạy học và quy trình kiểm tra - đánh giá kết
quả học tập phù hợp với phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ.
Nhà trường và Khoa Lý luận chính trị đã tổ chức các buổi gặp mặt, đối
thoại với sinh viên nhằm phổ biến, tập huấn về hình thức học theo tín
chỉ. Vào tháng 10 năm 2009, Khoa đã tổ chức hội thảo “Về đổi mới
phương pháp dạy - học phù hợp với đào tạo tín chỉ của Khoa Lý
luận chính trị" chỉ ra những khó khăn, thách thức mà giáo viên,
sinh viên gặp phải trong quá trình chuyển đổi, từ đó có phương
hướng, giải pháp cho hoạt động dạy và học của giáo viên và sinh
viên phát triển theo đúng tinh thần tín chỉ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích của đề tài: Tìm hiểu tổng quan về phương thức đào tạo tín
đề tài gồm 2 chương. Cụ thể:
- Chương 1: Tổng quan về phương thức đào tạo tín chỉ
- Chương 2 : Thực trạng và giải pháp của việc học tập theo phương
thức đào tạo tín chỉ ở Khoa Lý luận chính trị, Trường
Đại học khoa học - đại học Huế
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG THỨC ĐÀO TẠO TÍN CHỈ
1.1. Phương thức đào tạo tín chỉ: lịch sử và một số khái niệm
1.1.1. Lịch sử phương thức đào tạo tín chỉ
Phương thức đào tạo tín chỉ là sản phẩm trí tuệ của người Mỹ do
Charles Eliot - Viện trưởng Viện đại học Harvard khởi xướng vào cuối thế
kỉ 19, khi mà ở Mỹ số lượng học sinh trung học phổ thông ghi danh vào học
đại học ngày càng tăng, gây áp lực không nhỏ cho quá trình xét tuyển của
các trường đại học. Hệ thống tín chỉ, do đó, được thiết kế ra để ghi lại và giải
thích một cách tường minh năng lực học tập của học sinh trung học phổ
thông, giúp các chuyên viên trong các phòng đào tạo của các trường đại học
có căn cứ tin cậy để tuyển chọn được những sinh viên có chất lượng theo
những chuẩn mực mà trường đại học của mình đề ra, và chương trình này
được tài trợ bởi tổ chức phi chính phủ rất có quyền lực có tên là Quỹ
Carnegie Vì sự Tiến bộ trong Chất lượng Giảng dạy (Carnegie Foundation
for the Advancement of Teaching). Đại học Harvard là trường đầu tiên trên
thế giới áp dụng phương thức đào tạo này vào năm 1872. Từ đó, hệ thống tín
chỉ dần dần thâm nhập vào các trường đại học, lúc đầu chỉ để ghi lại điểm số
của các môn học lựa chọn, sau đó, do áp lực của các nhà tài trợ, các tổ chức
từ thiện yêu cầu phải làm rõ hay lượng hóa năng lực chuyên môn và kĩ năng
nghề nghiệp của sinh viên và hiệu quả đào tạo của trường đại học, hệ thống
tín chỉ được mở rộng ra tất cả các môn học thuộc các khối kiến thức khác
trong chương trình đại học và trở thành một phương thức đào tạo chính thức,
ba nguyên nhân. Thứ nhất, nhu cầu cần phải xử lí sự đa dạng và sự gia tăng
về số lượng học sinh trung học phổ thông ghi danh vào học ở các trường đại
học trong khi vẫn duy trì những tiêu chuẩn về học thuật. Thứ hai, động cơ
thay đổi xuất phát ngay trong nội bộ hệ thống giáo dục đại học Mỹ, thực sự
muốn có một cuộc cải cách về giáo dục đại học với những chương trình đại
học “mở”, chứa đựng những môn học mà xã hội cần, có độ “mềm dẻo” nhất
định để người học có thể chọn những chuyên ngành phù hợp, những môn
học họ thấy cần thiết để phục vụ cho phát triển nghề nghiệp trong tương lai,
một kiểu chương trình khác về cơ bản với chương trình đào tạo truyền thống
với những đặc điểm “đóng” và “khô cứng” được mang đến từ Châu Âu
trong đó người học vào trường và ra trường đồng loạt, không có bất kì sự lựa
chọn nào khác về chuyên ngành và về các môn học. Thứ ba, áp lực từ những
tổ chức và cá nhân từ bên ngoài trường đại học: chính phủ, các nhà tài trợ,
các nhà sử dụng nguồn lực sinh viên tốt nghiệp, v.v. buộc các trường đại học
phải có những đơn vị đo chất lượng dạy - học tường minh hơn, có trách
nhiệm hơn.
Theo thời gian, từ lúc tín chỉ khởi đầu được thiết kế ra để chuẩn hóa
những thước đo khả năng học tập của học sinh phổ thông trung học, đáp ứng
số lượng học sinh trung học phổ thông ghi danh vào học đại học ngày càng
tăng, đến nay nó đã được phát triển và trở thành một hệ thống đào tạo, một
thước đo toàn diện trong giáo dục đại học ở Mỹ.
Vượt ra ngoài biên giới nước Mỹ, đào tạo theo tín chỉ bắt đầu được áp
dụng mạnh mẽ trước hết ở các nước Tây Âu từ những năm 1960. Trước đó,
chương trình truyền thống trong các trường đại học ở châu Âu, đặc biệt là ở
Tây Âu hầu như do giáo viên quyết định. Nó có xu hướng áp đặt, có rất ít
khả năng cho người học lựa chọn các môn học. Hơn 40 quốc gia châu Âu có
các các cơ sở đào tạo đại học, vì vậy việc áp dụng phương thức đào tạo theo
tín chỉ cũng khác nhau. Trong nhiều nước, đặc biệt là các nước bắc Âu các
Với chủ trương đa dạng hóa giáo dục đại học để hướng tới một “xã
hội tri thức châu Âu”, năm 1992 Hệ thống chuyển đổi tín chỉ Châu Âu
(European Credit Transfer System – ECTS) được phát động. Đây là một
chương trình thí điểm kéo dài trong 6 năm, thu hút sự tham gia của 145
trường đại học, tập trung vào 5 khu vực học thuật: quản trị kinh doanh, hóa
học, lịch sử, cơ khí, và y học. Sau 6 năm, ECTS phát triển mạnh và đã được
mở rộng vượt ra khỏi chương trình thí điểm, thu hút sự tham gia của nhiều
trường đại học, nhiều ngành khoa học. Đến nay số lượng thành viên tham
gia vào Hệ thống ECTS đã lên đến con số hàng nghìn.
Ở Châu Á, tín chỉ cũng được áp dụng mạnh mẽ, bắt đầu từ Nhật Bản,
Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia, Indonesia,
Phillipine, Trung Quốc. Phương thức đào tạo theo tín chỉ cũng được áp dụng
mạnh mẽ ở các nước thuộc Khối Liên hiệp Anh ở Nam Thái Bình Dương
như Australia, New Zealand, v.v...
Ở Việt Nam, trước năm 1975 một số trường đại học chịu ảnh hưởng
của Mỹ tại Miền Nam Việt Nam đã áp dụng học chế tín chỉ : Viện Đại học
Cần Thơ, Viện Đại học Thủ Đức … Đại học Bách khoa TP.HCM đã khôi
phục nó từ năm 1993 và tiếp theo đó lần lượt trường Đại học Đà Lạt, Đại
học Cần Thơ, Đại học Thuỷ sản Nha Trang, trường Đại học Bách khoa Hà
Nội, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hồ Chí Minh, v.v..
Thực hiện theo Quy chế 43 về Đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính
quy theo hệ thống tín chỉ (Ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐBGDĐT ngày 15 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào
tạo), năm 2008, Đại học Huế chuyển từ đào tạo hệ niên chế sang đào tạo
theo hệ tín chỉ, Đại học Khoa học - Đại học Huế nói chung và Khoa lý luận
nói riêng cũng đã chuyển đổi từ khóa tuyển sinh năm học 2008-2009.
Việc áp dụng hệ thống đào tạo theo tín chỉ phản ánh quan điểm lấy
người học làm trung tâm, người học là người tiếp nhận kiến thức nhưng
đồng thời cũng là người chủ động tạo kiến thức, hướng tới đáp ứng những
minh bạch của hệ thống giáo dục, và giúp cho việc so sánh giữa các hệ thống
giáo dục đại học trên thế giới được dễ dàng hơn.
Đối với công tác quản lý, phương thức đào tạo theo tín chỉ cũng có
nhiều ưu thế, đó là: nó vừa là thước đo khả năng học tập của người học, vừa
là thước đo hiệu quả và thời gian làm việc của giáo viên; nó là cơ sở để các
trường đại học tính toán ngân sách chi tiêu, nguồn nhân lực; là cơ sở để báo
cáo các số liệu của trường đại học cho các cơ quan cấp trên và các đơn vị
liên quan; là một phương tiện để giám sát bên ngoài, để báo cáo và quản lí
hành chính.
Để sinh viên cũng như giáo viên có thể hiểu, tiếp cận với hệ thống đào
tạo tín chỉ, trước hết cần phải làm sáng rõ những thuật ngữ liên quan, thông
qua những chủ trương, quy chế chúng tôi tập trung làm rõ một số khái niệm
về tín chỉ.
1.1.2 Một số khái niệm về đào tạo tín chỉ
• Tín chỉ
Trong kho tàng các tư liệu nghiên cứu, có khoảng hơn 60 định nghĩa
về tín chỉ. Có định nghĩa coi trọng khía cạnh định tính, có định nghĩa coi
trọng khía cạnh định lượng, có định nghĩa nhấn mạnh vào chuẩn đầu ra của
sinh viên, có định nghĩa lại nhấn mạnh vào các mục tiêu của một chương
trình học. Một định nghĩa về tín chỉ được các nhà quản lí và các nhà nghiên
cứu giáo dục ở Việt Nam biết đến nhiều nhất là của học giả người Mỹ gốc
Trung Quốc James Quann thuộc Đại học Washington. Trong buổi thuyết
trình về hệ thống đào tạo theo tín chỉ tại Đại học Khoa học Công Nghệ Hoa
Trung, Vũ Hán mùa hè năm 1995, học giả James Quann trình bày cách hiểu
của ông về tín chỉ như sau:
Tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một
người học bình thường để học một môn học cụ thể, bao gồm (1) thời gian
Thứ nhất: Hoạt động dạy - học được tổ chức theo ba hình thức: Lên
lớp, thực hành và tự học tương ứng với ba kiểu giờ tín chỉ: Giờ tín chỉ lên
lớp, giờ tín chỉ thực hành và giờ tín chỉ tự học. Theo đó một giờ tín chỉ lên
lớp bao gồm 1 tiết (50 phút) giáo viên giảng bài và 2 tiết sinh viên tự học;
một giờ tín chỉ thực hành bao gồm 2 tiết giáo viên hướng dẫn, giúp đỡ sinh
viên thực hành thực tập và 1 tiết sinh viên tự học; một giờ tín chỉ tự học bao
gồm 3 tiết sinh viên tự học.
Thứ hai: Trong ba kiểu giờ tín chỉ, lượng kiến thức sinh viên thu được
có thể khác nhau nhưng để thuận lợi cho việc tính toán thì ba kiểu giờ tín chỉ
này được coi là có giá trị ngang nhau.
Thứ ba: Một tín chỉ gồm 15 giờ tín chỉ, thực hiện trong một học kỳ,
kéo dài 15 tuần, mỗi tuần 01 giờ tín chỉ.
Thứ tư: Có thể có môn học chỉ gồm một kiểu giờ tín chỉ, nhưng có thể
có những môn học nhiều hơn một kiểu giờ tín chỉ.
Thứ năm: Người học trong phương thức đào tạo theo tín chỉ được cấp
bằng theo hình thức tích luỹ đủ tín chỉ.
Thứ sáu: Người học được cấp bằng không chỉ phụ thuộc vào số tín chỉ
tích luỹ được mà còn phụ thuộc vào điểm trung bình chung qui định cho
từng học kỳ, từng kiểu văn bằng.
Thứ bảy: Trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, tự học được xem
như một thành phần hợp pháp trong cơ cấu giờ học của sinh viên, những nội
dung tự học cũng được đưa vào thời khoá biểu và đưa vào các bài kiểm tra,
bài thi.
Như vậy với khái niệm tín chỉ đã nhấn mạnh đến vai trò quyết định
của sinh viên, được đo lường bằng toàn bộ thời gian tự học của sinh viên
(chủ động tìm kiếm kiến thức liên quan bài học trước và sau khi lên lớp, tự
học chủ động ngay trên lớp dưới sự hướng dẫn của giảng viên, tự nắm bắt
nội dung bài học trong giờ thảo luận nhóm dưới sự hướng dẫn của giáo
nhưng sinh viên được tự chọn theo hướng dẫn của trường nhằm đa dạng hoá
hướng chuyên môn hoặc được tự chọn tuỳ ý để tích luỹ đủ số học phần quy
định cho mỗi chương trình. Ngoài ra còn có học phần thay thế, học phần
tương đương.
• Giờ tự học của sinh viên trong đào tạo tín chỉ
Trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, tự học, tự nghiên cứu của
sinh viên được coi trọng, được tính vào nội dung và thời lượng của chương
trình. Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết lý thuyết, 30 - 45 tiết thực
hành, thí nghiệm hoặc thảo luận và 30 giờ chuẩn bị cá nhân. Như vậy cứ 1
tiết lên lớp thì sinh viên phải dành ít nhất 2 giờ tự học, tự nghiên cứu. Tự
học sẽ kích thích sinh viên tìm hiểu bản chất vấn đề, vận dụng được lý
thuyết vào thực tiễn, nâng cao khả năng biện luận, phân tích, tổng hợp, so
sánh. Đọc tài liệu trước khi lên lớp sinh viên có thể nắm được từ 30 – 60%
các kiến thức thuộc về mục tiêu bài giảng, nắm được bao nhiêu còn tùy
thuộc vào từng bài học, tùy thuộc vào năng lực, sức tập trung của từng sinh
viên. Các vấn đề còn chưa nắm được, chưa hiểu được sẽ trở thành vấn đề
đặc biệt quan tâm trong giờ học có giảng viên hướng dẫn.
• Giờ thảo luận của sinh viên trong đào tạo tín chỉ
Seminar hay thảo luận nhóm là phương pháp học tập thực sự tích cực
nhất của sinh viên. Để chuẩn bị cho seminar sinh viên phải tự tìm kiếm tri
thức trong sách giáo khoa và tài liệu tham khảo, tự phân tích tổng hợp và
vận dụng tri thức đã có để giải quyết nhiệm vụ. Qua đó sinh viên phát triển
mạnh được phương pháp tự học, phương pháp nhận thức khoa học, phương
pháp tự nghiên cứu, rèn luyện được tư duy sáng tạo.
Sinh viên đại diện hoặc được chỉ định sẽ báo cáo thảo luận trước lớp
hoặc nhóm, hình thức báo cáo có thể nói trước lớp, trình bày trên bảng, trình
chiếu hoặc kết hợp các hình thức trên. Sinh viên của nhóm sẽ phát biểu để
bổ sung báo cáo cho đầy đủ hoặc trả lời các phản biện của sinh viên các
theo hệ thống tín chỉ, Đại học Huế đã triển khai "Đề án đào tạo bậc đại học
theo học chế tín chỉ" (tháng 4 /2008) yêu cầu "Giai đoạn trước mắt và trung
hạn (2007-2010), Đại học Huế cùng các trường thành viên, khoa trực thuộc
tích cực chuẩn bị các điều kiện về nhân lực, cơ sở vật chất, học hỏi, tiếp thu
những kinh nghiệm của các đơn vị trong nước đã và đang đào tạo theo hệ
thống tín chỉ để tiến hành thực hiện theo kiểu cuốn chiếu bắt đầu từ khóa
tuyển sinh năm 2008 và tiếp tục cho những khóa sau. Kết hợp nhuần nhuyễn
việc tổ chức đào tạo tín chỉ và đào tạo niên chế kết hợp tích lũy học phần
theo Quy chế 25 như hiện nay ở các khóa tuyển sinh trước. Trong giai đoạn
quá độ này, các đơn vị đào tạo vừa làm vừa hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng,
phương pháp nghiệp vụ, quy trình quản lý,… để đến năm 2010, toàn bộ Đại
học Huế đào tạo theo học chế tín chỉ triệt để.".
Thực hiện theo quy định của Bộ giáo dục và đào tạo, Đại học Huế, từ
khóa học 2008 - 2009, Khoa Lý luận Chính trị cùng với Đại học Khoa học
đã chuyển đổi phương thức đào tạo từ đào tạo niên chế sang học chế tín chỉ
từ khóa K32. Hiện Khoa có 4 lớp (Triết K32, Triết K33, Triết K34, Triết
K35) với 167 sinh viên.
1.2.1. Mục tiêu đào tạo cử nhân triết học theo phương thức tín chỉ
Mục tiêu của chương trình đào tạo cử nhân ngành Triết học là trang bị
cho sinh viên hệ thống những kiến thức cơ bản, cơ sở, chuyên sâu của ngành
triết học, giúp sinh viên nắm vững lập trường, quan điểm, phương pháp tư
duy khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, để họ có
thể vận dụng tương đối tốt vào việc nhận thức và giải quyết những vấn đề
hiện thực xã hội; đồng thời, có khả năng hội nhập với khoa học triết học thế
giới.
Thứ nhất, về kiến thức: Cử nhân Triết học được cung cấp một cách hệ
thống, khoa học các kiến thức về lý luận chung, chuyên ngành, nghiệp vụ
của ngành Triết học cũng như của một số khoa học liên ngành.
+Khoa học xã hội và nhân văn
: 10 tín chỉ
+Ngoại ngữ không chuyên
: 07 tín chỉ
- Khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp : 74 tín chỉ, trong đó:
+Khối kiến thức cơ sở khối ngành
: 16 tín chỉ
. Bắt buộc:
12 tín chỉ
. Tự chọn:
04 tín chỉ
+ Khối kiến thức cơ sở của ngành
: 32 tín chỉ
. Bắt buộc:
24 tín chỉ
TT
PHẦN
TÊN HỌC PHẦN
SỐ
DỰ
TÍN
KIẾN
CHỈ
KH
GD
A
I
1
2
3
II
4
5
6
7
LUA1012 Pháp luật Việt Nam đại cương
XHH1012 Xã hội học đại cương
LIS1012
Văn hóa Việt Nam đại cương
LIS1012
Lịch sử văn minh thế giới
TLH1012 Tâm lý học đại cương
Ngoại ngữ không chuyên (7)
ANH1013 Anh văn căn bản 1
ANH1022 Anh văn căn bản 2
ANH1032 Anh văn căn bản 3
GDTC
Giáo dục thể chất (học trong 5 học kỳ)
GDQP
Giáo dục quốc phòng (học trong 5 tuần lễ)
KIẾN THỨC GIÁO DỤC CHUYÊN NGHIỆP
Kiến thức cơ sở khối ngành (16)
Học phần bắt buộc
ANH2013 Anh văn chuyên ngành
38
10
5
2
3
11
3
2
2
2
HK2
HK3
HK4
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
VIII
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
Khối kiến thức cơ sở của ngành (32)
Học phần bắt buộc
TRI3012
Đạo đức học đại cương
TRI1012
Mỹ học đại cương
TRI3022
LSTH Ấn độ cổ - trung đại
TRI3033
LSTH Trung Quốc cổ - trung đại
TRI3042
LS tư tưởng Việt Nam
TRI3052
LSTH Hy Lạp - La Mã cổ đại
TRI3063
LSTH Tây Âu trung - cận đại
TRI3072
LSTH cổ điển Đức
TRI3082
Sự RĐ&PT của triết học MLN
TRI3092
Một số trào lưu THPT hiện đại
TRI3102
Những vấn đề triết học trong KHTN
Học phần tự chọn (8 trong 14 tín chỉ)
TRI3112
PPL nghiên cứu LSTH (*)
TRI3122
Lịch sử mỹ học (*)
CTR3012 Lịch sử tư tưởng chính trị (*)
2
2
2
2
2
2
32
24
2
2
2
3
2
2
3
2
2
2
2
8/14
2
2
2
2
2
2
2
18
2
3
HK6
HK6
HK6
HK6
HK6
HK6
HK6
HK5
HK6
HK7
HK6
HK7
HK5
HK7
HK6
54
55
TRI4092
TRI4102
Chuyên đề CMKH-KT và LLSX hiện đại (*)
2
Chuyên đề Nhận thức luận và Phương pháp nhận 2
HK7
HK7
Chuyên đề Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh (*)
TRI4162
Chuyên đề Đạo đức học (*)
TRI4172
Chuyên đề Lý luận tôn giáo (*)
THỰC TẬP, KIẾN TẬP
TRI3131
Thực tập kiến tập
TRI4181
Thực tập tốt nghiệp
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TRI4197
Khóa luận tốt nghiệp
Tổng cộng
2
2
2
2
2
2
2
1
1
7
7
121
HK7
HK7