ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ LỢI ÍCH CỦA MÔ HÌNH BIOGAS ĐỐI VỚI NÔNG HỘ CHĂN NUÔI HEO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP - Pdf 40

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ

NGUYỄN HỒNG KHÁNH

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ LỢI ÍCH CỦA
MÔ HÌNH BIOGAS ĐỐI VỚI NÔNG HỘ
CHĂN NUÔI HEO TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Kinh Tế Nông Nghiệp
Mã số ngành: 52620115

11 - 2015

1


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ

NGUYỄN HỒNG KHÁNH
MSSV: B1206340

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ LỢI ÍCH CỦA
MÔ HÌNH BIOGAS ĐỐI VỚI NÔNG HỘ
CHĂN NUÔI HEO TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

những thông tin, số liệu cần thiết giúp em vượt qua những khó khăn trong quá
trình thu thập số liệu.
Các bạn lớp Kinh Tế Nông Nghiệp – những người đã quan tâm, động
viên và cùng em chia sẽ những kiến thức, kinh nghiệm cũng như những niềm
vui, nỗi buồn trong suốt thời gian thực hiện luận văn.
Cuối cùng con xin cám ơn tình yêu thương của cha mẹ, anh chị em đã
dành cho con. Cha mẹ, anh chị luôn ở bên cạnh con, yêu thương con vô điều
kiện, âm thầm ủng hộ và động viên, luôn là chỗ dựa tinh thần vững chắc và
tạo mọi điều kiện tốt nhất cho con về mọi thứ để con có thể vững tâm hoàn
thành tốt quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
Cần Thơ, ngày tháng năm 2015
Nguyễn Hồng Khánh

3


CAM KẾT
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả
nghiên cứu của tôi và các kết quả nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ
luận văn cùng cấp nào khác.
Cần Thơ, ngày tháng năm 2015
Nguyễn Hồng Khánh

4


NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP
................................................................................................................................
................................................................................................................................



đóng

dấu)

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ và tên Giáo viên hướng dẫn: Vũ Thùy Dương
Học vị: Thạc sĩ
Chuyên ngành: Kinh Tế Nông Nghiệp
Cơ quan công tác: Khoa Kinh Tế
Họ và tên sinh viên thực hiện đề tài: Nguyễn Hồng Khánh
Mã số sinh viên: B1206340
Chuyên ngành: Kinh Tế Nông Nghiệp
Tên đề tài: “Đánh giá hiệu quả và lợi ích của mô hình Biogas đối với nông
hộ chăn nuôi heo trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp”.
NỘI DUNG NHẬN XÉT
1.Tính phù hợp của đề tài với chuyên ngành đào tạo: .........................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
2.Về hình thức: ......................................................................................................
................................................................................................................................
3.Ý nghĩa khoa học, thực tiễn và tính cấp thiết của đề tài: ..................................
................................................................................................................................
4.Độ tin cậy về số liệu và tính hiện đại của luận văn: ..........................................
................................................................................................................................
5.Nội dung và các kết quả đạt được: ....................................................................
................................................................................................................................

................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
Cần Thơ, ngày tháng năm 2015
Thủ trưởng đơn vị
(Kí tên và đóng dấu)

7


MỤC LỤC
Trang

8


DANH MỤC BẢNG
Trang

9


DANH MỤC HÌNH
Trang

10


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ĐBSCL



CHƯƠNG 1

GIỚI THIỆU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Ở các nước phát triển, do kinh tế phát triển nhanh, tỉ lệ tăng dân số ở
mức cao, môi trường sống của con người đang bị đe dọa nghiêm trọng, nhưng
chi phí để giải quyết các vấn đề môi trường còn rất hạn chế. Điển hình là Việt
Nam phát triển trên nền kinh tế nông nghiệp, xuất khẩu gạo đứng hàng thứ 2
trên thế giới. Trong đó, ngành chăn nuôi phát triển khá mạnh về cả số lượng
lẫn quy mô chiếm khoảng 13,6%. Tuy nhiên, việc chăn nuôi thiếu quy hoạch,
nhất là các vùng dân cư đông đúc đã gây ra ô nhiễm môi trường ngày càng
trầm trọng như ô nhiễm nguồn nước mặt, không khí và đất. Do đó, việc xử lý
chất thải chăn nuôi là một yêu cầu cấp thiết nhằm giảm ô nhiễm môi trường và
nguồn dịch bệnh gây ra cho con người và động vật.
Điều kiện vệ sinh môi trường của hầu hết các vùng nông thôn ở các tỉnh
thuộc Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) còn rất kém, phần trăm dân số ở
nông thôn có được nguồn nước an toàn để sử dụng chỉ khoảng 30 – 40%
(Nguyễn Võ Châu Ngân và ctv., 2010) trong khi đó theo tập quán sinh sống,
các sông rạch là nơi tiếp nhận chất thải sinh hoạt và chăn nuôi. Thêm vào đó
việc xây dựng một hệ thống cống rãnh để thu gom và xử lý nước thải đòi hỏi
vốn đầu tư cao và thường thì các hệ thống này ít khi đi liền với việc tái sử
dụng các chất thải (để tưới tiêu, nuôi cá hoặc làm phân bón). Hơn nữa nhu cầu
về năng lượng cũng tăng lên do sự tăng dân số và sản xuất công nghiệp. Mặc
dù hiện nay chúng ta có thể đáp ứng được nhu cầu về năng lượng bằng các
nhiên liệu hóa thạch (than đá, dầu hỏa) hay năng lượng hạt nhân. Tuy nhiên,
trữ lượng của các nhiên liệu hóa thạch có giới hạn và năng lượng hạt nhân
đang bị cắt giảm tại một số nước do nguy cơ gây tác hại cho môi trường quá
cao. Thêm vào đó, với điều kiện địa hình nhiều kênh rạch và mật độ dân số

Đánh giá hiệu quả và lợi ích của mô hình Biogas từ đó đề ra giải pháp
nhằm nâng cao lợi ích và hiệu quả của mô hình Biogas đối với nông hộ chăn
nuôi heo trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu đặc điểm nông hộ và tình hình chăn nuôi heo trên địa bàn
huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
- Đánh giá hiệu quả và lợi ích mô hình biogas đối với nông hộ chăn nuôi
heo trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
- Đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và lợi ích mô hình
biogas trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục tiêu trên, nghiên cứu được thực hiện dựa trên các câu
hỏi sau đây:
- Tình hình chăn nuôi heo của các nông hộ trên địa bàn huyện Châu
Thành, tỉnh Đồng Tháp như thế nào?
- Những hiệu quả và lợi ích gì được mang lại từ mô hình biogas cho
nông hộ chăn nuôi heo trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp?

13


- Những giải pháp nào được đưa ra để giúp người dân nâng cao hiệu quả
mô hình biogas trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp?
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Phạm vi không gian
Đề tài được thực hiện trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
1.4.2 Phạm vi thời gian
Đề tài sử dụng thông tin và số liệu thứ cấp năm 2012 đến 6 tháng đầu
năm 2015 để viết về tình hình cơ bản của địa bàn nghiên cứu.
Số liệu sơ cấp được thu thập tại các xã Hòa Tân, An Nhơn, Tân Phú

“Khảo sát tình hình sử dụng hầm ủ Biogas tại xã An Phú, huyện Chủ
Chi, thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Trần Tấn Định (2011), đã sử dụng
phương pháp thống kê mô tả để tìm hiểu hiện trạng sử dụng mô hình Biogas ở
xã An Phú, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh từ những số liệu đã thu
thập từ khảo sát thực tế. Tác giả đã đưa ra những thuận lợi và khó khăn trong
quá trình sử dụng. Từ đó đề xuất những giải pháp nhằm khắc phục khó khăn
và nâng cao hiệu quả sử dụng mô hình Biogas tại địa bàn nghiên cứu. Kết quả
phân tích cho thấy đa số nông hộ được điều tra không than phiền về việc lắp
đặt hầm Biogas thì họ sẽ mất đi một phần diện tích đất hay phải chặt bỏ một
số cây trồng lâu năm, bởi vì đa số hầm được xây dựng chìm dưới đất và được
lắp đặt ở nơi thông thoáng. Bên cạnh đó, người xây hầm đã nhận thấy rõ
những lợi ích mà hầm Biogas mang lại rất lớn so với những bất lợi của nó. Cụ
thể là sau khi sử dụng hầm Biogas thì các nông hộ chăn nuôi với quy mô nhỏ
(3 con bò và 10 con heo) tiết kiệm được khoản chi phí chất đốt mỗi tháng là
279.000 đồng/tháng; đối với nông hộ chăn nuôi quy mô lớn (20 con bò và 5
con heo) tiết kiệm được 529.00 đồng/tháng. Ngoài ra, kết quả phân tích cũng
cho thấy những lợi ích về việc tiết kiệm thời gian, bệnh tật khi chất lượng môi
trường được cải thiện… Tuy nhiên, những lợi ích này khó mà ước lượng giá
trị tiền tệ một cách chính xác được.
Lê Thanh Sang (2012) đã nghiên cứu về “Đánh giá hiệu quả mô hình
Biogas đối với nông hộ chăn nuôi heo tại hai tỉnh Vĩnh Long và Tiền Giang”.
Tác giả đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả dựa vào các số liệu thu thập
từ khảo sát thực tế để xác định lượng nhiên liệu, phân bón và thức ăn cho cá
mà nông hộ tiết kiệm được. Kết quả phân tích cho thấy tổng lợi ích tài chính
mô hình Biogas mang lại cho nông hộ tại hai tỉnh là khoảng 4.010.899
đồng/năm. Trong đó, tỉnh Tiền Giang là 5.728.156 đồng/năm cao hơn Vĩnh
Long 2.293.642 đồng/năm. Sở dĩ có sự chênh lệch cao về tổng lợi ích tài
chính ở hai tỉnh như thế là vì hầu hết các hầm ủ ở Vĩnh Long mới áp dụng
chưa có phân bùn để sử dụng nên khoản tiết kiệm về chi phí phân bón cho cây
trồng không xác định được. Nhìn chung, mô hình Biogas không những giúp

thiện nhưng phần chất thải từ túi ủ thì các hộ gia đình trong bài nghiên cứu
chưa biết cách tận dụng hết.
Qua những nghiên cứu của các tác giã đã lược khảo ở trên về hiệu quả và
lợi ích từ mô hình Biogas như giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường, vấn đề
sức khỏe được cải thiện, tiết kiệm chi phí chất đốt, tiết kiệm chi phí phân bón
cho cây trồng và thức ăn cho cá. Nhưng nhìn chung, các tác giả vẫn chưa khai
thác hết các lợi ích mà mô hình Biogas mang lại như tiết kiệm chi phí điện
năng, bán bả phân bùn tạo thêm nguồn thu nhập cho nông hộ. Bên cạnh đó,
các tác giả chưa ước lượng chính xác giá trị tiền tệ từ việc tiết kiệm thời gian
thu nhặt củi, thời gian nấu ăn, vệ sinh đồ dùng nấu ăn, chi phí chữa bệnh. Từ
đó, các nghiên cứu này được tham khảo để thực hiện cho đề tài “Đánh giá
hiệu quả và lợi ích của mô hình biogas đối với nông hộ chăn nuôi heo trên
địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp”. Đề tài cũng sử dụng phương
pháp kiểm định T-test trung bình 2 mẫu không bằng nhau để kiểm tra xem giá
trị trung bình của 1 biến ở 2 mẫu độc lập có bằng nhau hay không đối với chi
phí chăn nuôi heo của nông hộ và các chỉ tiêu tài chính trong hiệu quả chăn
nuôi heo của nông hộ.
16


CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Tổng quan về khí sinh học - Biogas
2.1.1.1 Khí sinh học là gì?
Biogas hay còn gọi là khí sinh học (KSH) là một hỗn hợp khí được sinh
ra từ quá trình phân hủy những hợp chất hữu cơ dưới tác dụng của vi khuẩn
trong điều kiện yếm khí (Nguyễn Lân Dũng và ctv., 2009). Thành phần chủ
yếu bao gồm các loại khí CH4, CO2, NH3, H2S và một số loại khí khác, trong

Vật liệu

Thành phần khí biogas (%)

Tài liệu tham khảo

CH4

CO2

O2

N2

H2S

Thực vật

55- 58

37 – 38


Theo Nguyễn Lân Dũng và ctv., (2009) nguồn nguyên liệu để sản xuất
KSH thì rất đa dạng và phong phú, thường là chất hữu cơ như phân động vật
và các loài thực vật như bèo, lục bình, rơm rạ, các chất thải hữu cơ như chất
thải sinh hoạt, đặc biệt là chất thải trong chăn nuôi. Bên cạnh đó các nguyên
liệu có nguồn gốc sinh học giàu cellulose đều có thể sử dụng làm nguyên liệu
sản xuất KSH bao gồm chất thải hữu cơ như rác thải sinh hoạt hữu cơ, bùn
cống rãnh, nước thải công nghiệp (đường, rượu bia, lò mổ, chế biến tinh bột,
giấy, cao su, dược phẩm,…). Các nguyên liệu này thường là những nguyên
liệu gây ô nhiễm môi trường. Vì vậy, việc sử dụng những nguyên liệu này làm
nguyên liệu sản xuất KSH đã góp phần tích cực trong việc giảm thiểu ô nhiễm
môi trường. Trong quá trình phân giải, chỉ một phần nguyên liệu được chuyển
đổi thành KSH, phần còn lại không phân giải hết được gọi là phụ phẩm KSH
(Nguyễn Lân Dũng và ctv., 2009).
Nguyên liệu có nguồn gốc từ chăn nuôi:
Nguồn nguyên liệu có nguồn gốc từ chăn nuôi được sử dụng phổ biến
hiện nay như là phân người, phân gia súc, gia cầm và các bộ phận cơ thể của
động vật như xác động vật chết, rác và nước thải các lò mổ, các cơ sở chế biến
thủy, hải sản (Nguyễn Lân Dũng và ctv., 2009). Bên cạnh đó, phân động vật
có hàm lượng chất hữu cơ cao cũng được xem là nguồn nguyên liệu phong
phú cho quá trình sản xuất KSH, do đã được xử lý sơ bộ trong bộ máy tiêu
hóa nên dễ dàng phân hủy và nhanh chóng cho KSH (Chamber et al., 2000).
Ngoài ra, các loại chất thải này đã được sử lý trong bộ máy tiêu hóa của động
vật nên dễ phân giải và nhanh chóng tạo KSH. Tuy vậy, thời gian phân giải
của phân không dài (khoảng 2 - 3 tháng) và tổng sản lượng khí thu được cũng
không lớn. Chất thải gia súc như trâu, bò, lợn phân giải nhanh hơn chất thải
gia cầm và chất thải người, nhưng sản lượng khí của chất thải gia cầm và chất
thải người lại cao hơn.

18


15 – 20
18 – 25
1,2 – 4,0
0,02 – 0,05
0,18 – 0,34

18 – 20
16 – 18
24 – 33
25 – 50
20 – 34

24 – 25
24 – 25
12 – 13
5 – 15
2,9 - 10

15 – 32
12 – 32
40 – 60
50 – 60
60 – 70

4–6
80 - 85

12 – 25
48 - 117


lầy và xác định nó như một hydrocarbon. Chỉ trong năm 1822, nhà nghiên cứu
19


Avogadro đã thiết lập công thức hóa học của khí methane (CH 4). Nhà vi
khuẩn học nổi tiếng của Pháp, Pasteur vào những năm 1884 đã tiến hành thử
nghiệm với phân rắn. Ông là người đầu tiên đề xuất việc sử dụng các phân từ
các chuồng nuôi gia súc ở Paris để sản xuất khí đốt giúp chiếu sáng đường
phố.
 Ấn Độ

Cùng với sự phát triển của công nghệ, năm 1897 Ấn Độ đã xây dựng nhà
máy đầu tiên tại một bệnh viện cho bệnh nhân phong ở Bombay. Khí đốt của
nhà máy được xử dụng cho chiếu sáng, và vào năm 1907 đã được cung cấp
các công cụ để sản xuất điện.
 Đức

Tại Đức một kỹ sư từ nhà máy xử lý nước thải Imhoff vào năm 1906
trong khu vực Ruhr, bắt đầu xây dựng hệ thống kỵ khí cho xử lý nước thải,
được gọi là “emshersky”. Năm 2000 với việc xây dựng công trình KSH tăng
từ 100 thiết bị/năm lên 200 thiết bị/năm và hầu hết các công trình có thể tích
phân hủy từ 1.000 đến 1.500 m3, công suất khí 100 đến 150 m3. Có trên 30
công trình quy mô lớn với thể tích phân hủy 4.000 đến 8.000 m 3. KSH sản
xuất được sử dụng để cung cấp cho các tổ máy đồng phát điện và phát nhiệt có
công suất là 20, 150, 200 và 500 KWe. Năm 2009, tại Đức đã có hơn 4.500
nhà máy điện biogas cấp trên 1,500 MW hòa lưới điện quốc gia, quy mô các
nhà máy tăng qua từng năm. Nếu năm 1999, một nhà máy điện biogas có công
suất trung bình là 60 kW/nhà máy thì đã tăng đén 300kW/nhà máy vào năm
2009, vì đầu tư quy mô này có lãi hơn và lợi nhuận tăng cao khi kết hợp bán
nhiệt và điện. Trong nhiều năm qua, Đức là nước tiên phong trong phát triển

quốc có 7.630.000 bể tạo khí biogas.
Chương trình biogas Trung Quốc chẳng những làm cải tiến việc sản xuất
và tiêu dùng năng lượng cho gia đình mà còn nhằm kết hợp ngày càng mạnh
việc sản xuất lương thực, lặp lại chu trình những thải bã hoa màu và ngăn cản
việc gây nhiễm. Các hệ thống phối hợp sản xuất năng lượng và thực phẩm đã
được phát triển ở các làng mạc. Tại Xin Bu ở xã Lein, trên đồng bằng sông
Châu Giang gần Quảng Đông, 1.500 làng đang dùng lò chế tạo đặc biệt để sấy
gỗ với nhiệt lượng 35-40% lò đun nước bằng sức nóng mặt trời, đặt trên mái
nhà cung cấp 60-100 lít nước 50oC hàng ngày về màu đông và 70 oC về màu
hè. Như vậy, tiết kiệm 20-30% methan tùy mỗi gia đình sử dụng. Có nơi dùng
biogas làm lò sấy khô ở các trại nuôi Tằm. Ngoài ra, những cặn bã du thừa từ
việc lên men methan, chất thải được dùng làm phân bón để trồng Nấm, dùng
làm thức ăn cho cas, góp phần làm sạch sản phẩm phụ và loại bỏ các phế thải
(Larovier, 1985).
 Nepal

Sức tiêu thụ ác năng lượng truyền thống tại các hộ gia đình ở vùng nông
thôn: 85% (75% từ củi đun, chất đốt từ nông nghiệp).
Tổng số mô hình biogas đã lắp đặt 104.080.
Số huyện đã xây dựng các mô hình biogas: 65 huyện.
Lịch sử của biogas bắt đầu từ năm 1965, nền tảng là sự hướng dẫ chỉ đạo
của Late Father B.R.Saubolle trường Xavier’s tại Godavari ở Kathmandu,
Nepal. Tuy nhiên trên thực tế biogas chỉ quan tâm đến sau khi giá nhiên liệu
đột ngột tăng cao. Nó bắt đầu từ năm 1975 với tên gọi là “Năm nông nghiệp”.
21


Trong thời gian này có tổng số 200 gia đình lắp đặt với quy mô là loại hầm
nổi hình vòm cầu. Năm 1977, cùng với sự gia nhập của công ty Gobar, biogas
sinh học được sử dụng phổ biến. Tuy nhiên, cuối năm 1978 chỉ có 708 hầm

hội hóa, nâng cao mức sống của nhân dân, các dạng năng lượng mới và tái tạo
nói chung, trong đó có KSH nói riêng lại được chú ý tới.
Thiết bị sản xuất KSH được lựa chịn để thử nghiệm ban đầu thuộc loại
nắp nổi bằng tôn, bể phân hủy xây bằng gạch và cổ bể có gioăng nước để giữ
kín khí được tích trong nắp chứa khí. Tuy nhiên, những công trình này đã phải
22


bỏ dở vì những lý do kỹ thuật và quản lý. Đến cuối năm 1979, công trình KSH
ở nông trường Sao Đỏ (Mộc Châu, Sơn La) có thể tích phân hủy Vd = 27m 3
đã hoàn thành và hoạt động tốt. Kết quả này là nguồn cổ vũ khích lệ lớn đối
với cán bộ nghiên cứu, những nhà quản lý và nhân dân, đặt cơ sở cho việc
triển khai tiếp tục công nghệ KSH sau này.
 Thời kỳ 1981 - 1990

Trong hai kỳ kế hoạch 5 năm, từ 1981 - 1985 và 1986 – 1990 công nghệ
KSH đã trở thành một trong những lịch vực ưu tiên trong Chương trình nghiên
cứu cấp nhà nước về Năng lượng mới (mã số 52C).
 Thời kỳ 1991 đến nay

Sau khi kết thúc kế hoạch 1986-1990, chương trình 52C giải thể. Hoạt
động nghiên cứu và triển khai về năng lượng mới không được đưa vào chương
trình Năng lượng của nhà nước, việc phát triển năng lượng mới bị chững lại.
Từ năm 1993 đến nay, công nghệ KSH được phát triển mạnh mẽ trong
khuôn khổ các dự án về vệ sinh môi trường, nông nghiệp và phát triển nông
thôn với nhiều kiểu thiết bị KSH mới. Thiết bị dạng túi chất dẻo PE theo mẫu
của Cô-lôm-bi-a, được phát triển nhờ Dự án SAREC-S2-VIE22 do viện Chăn
nuôi Quốc gia, Hội làm vườn Trung ương (VACVINA). Cục Khuyến nông và
Khuyến lâm và Đại học Nông – Lâm thành phố Hồ Chí Minh triển khai. Thiết
bị nắp cố định có vòm bán cầu bằng compozit, phần dưới xây bằng gạch lúc

truyền thông khi bể điều áp được phân thành hai phần riêng biệt là ngăn điều
áp và ngăn thải cặn.
So với những mô hình biogas đang được lưu hành hiện nay, hệ thống
hầm biogas quy mô hộ giai đình này có một số điểm ưu việt:
- Thi công đơn giản;
- Có kết cấu bền vững, bảo đảm chống rò rỉ nước và khí do được tăng
cường bằng keo chống thấm, vì thế tăng khả năng sinh khí;
- Có khả năng tự tống cặn bã nên không bị ùn tắc cặn, có khả năng tự
phá váng bề mặt;
- Mức độ sinh khí nhanh, sản lượng khí cao, ổn định trong mọi điều kiện
thời tiết;
- Thiết bị khử H2S tiến tiến đã nâng cao chất lượng biogas, làm tăng tuổi
thọ của thiết bị sử dụng như bếp, nồi cơm, đèn…
- Diện tích chiếm đất nhỏ, tiết kiệm nhân công;
- Giúp bảo vệ sức khỏe con người, tiêu diệt vi trùng gây bệnh;
- Các thiết bị sử dụng khí đồng bộ và chuyên dụng nên bảo đảm độ tin
cậy;
- Dịch vụ hậu mãi hoàn thiện. Bảo hành hầm sinh khí, bể điều áp trong
10 năm. Bảo dưỡng hệ thống trong 15 năm;
- Thiết bị đo áp lực, bếp đun, đèn, ấm đun siêu tốc, bình tắm nóng lạnh,
máy phát điện được chế tạo chuyên dụng cho biogas.
24


Ngay sau khi nghiệm thu kỹ thuật, Trung tâm Năng lượng mới và tái tạo
đã chính thức bàn giao hầm biogas cho hộ gia đình sử dụng và bảo quản. Kết
quả theo dõi vận hành bước đầu cho thấy khả năng sinh khí rất tốt, đồng hồ áp
lực luôn ở mức 12 - 13 kPa (1Pa ~ N/m 2), ứng với nhiệt độ ngoài trời dao
động từ 25 - 34oC. Ngoài cung cấp chất đốt cho đun nấu, còn phải kể đến hiệu
quả về mặt xã hội và bảo vệ môi trường.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status