Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong triết học phương Đông và hương Tây. - Pdf 40

Đề tài tiểu luận: Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong triết học phương
Đông và hương Tây.

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ............................................................................................................................................1

...................................................................................................................................................................2

NỘI DUNG.................................................................................................................................................2

KẾT LUẬN..............................................................................................................................................11

TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................................................12

TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................- 13 –

ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong quá trình khám phá thế giới, giải đáp những câu hỏi về nguồn gốc của
con người, nguồn gốc của thế giới và vị trí của con người trong thế giới làm hình
thành ở con người những quan niệm nhất định, trong đó có những yếu tố cảm xúc
và trí tuệ, tri thức và niềm tin... Cùng với sự phát hiển ngày càng đa dạng và phức
Nhóm 2.1 - Lớp KTHN 1605

Page 1


Đề tài tiểu luận: Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong triết học phương
Đông và hương Tây.
tạp của hoạt động thực tiễn, tư duy của con người không ngừng được “mài sắc”.
Sự ra đời của triết học cho thấy tính tích cực của tư duy con người đã đạt được

của tư duy triết học ở trình độ thấp, mang tính chất huyền thoại. Triết học chỉ thực
Nhóm 2.1 - Lớp KTHN 1605

Page 2


Đề tài tiểu luận: Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong triết học phương
Đông và hương Tây.
sự tồn tại với tư cách là một môn khoa học khi nhân loại bước sang xã hội chiếm
hữu nô lệ (ở Phương Tây, tại Hy Lạp khoảng thế kỷ thứ VII trc CN, ở Phương
Đông như Trung Quốc, Ấn Độ...chế độ chiếm hữu nô lệ còn xuất hiện sớm hơn).
Lúc đầu, triết học bao gồm tri thức của hầu hết các môn khoa học, triết học thậm
chí còn coi là “khoa học của các khoa học”. Qua thời gian và lịch sử do nhu cầu
ngày càng đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu thế giới nên các khoa học cụ thể dần dần
tách ra khỏi triết học để trở thành một môn nghiên cứu độc lập. Đổi tượng nghiên
cứu của triết học cũng từng bước được xác lập. Bản thân quan niệm về triết học
cũng có sự thay đổi trong lịch sử.
Triết học ra đời do kết quả của sự tách biệt giữa lao động chí óc và lao động
chân tay. Bên cạnh đó, triết học ra đời còn do tư duy nhân loại đã phát triển ở trình
độ cao - trình độ hệ thống hóa, khái quát hóa và trừu tượng hóa. Triết học ra đời
vào khoảng thế kỷ VIII-VI TCN gắn liền với sự ra đời của các nền văn minh cổ
đại như Trung Quốc, Ấn Độ, Hy lạp... “Triết” theo nghĩa chữ Hán là trí - Sự hiểu
biết của con người, là sự truy tìm bản chất của đối tượng trong quá trình nhận thức
thế giới. “Triết” theo nghĩa Án Độ là Darshna,là sự chiêm ngưỡng, suy ngẫm con
người đến chân lý, là sự hiểu biết nói chung. “Triết học” theo tiếng Hy lạp là
Philosophya ( sự ham mê hiểu biết cộng với sự thông thái). Như vậy dù là ở
Phương Đông hay phương tây, Triết học thời cổ đại đều có nghĩa là sự hiểu biết,
sự nhận thức chung của con người về thế giới.
Theo quan điểm của triết học Mác- Lênin: “Triết học là hệ thống các quan điểm
lý luận chung nhất về thế giới và vị trí của con người trong thế giới”. Ăngghen


tại trong mối liên hệ phổ biến và vận động, phát triển không ngừng.
- Phương pháp siêu hình nhìn nhận thế giới trong sự cô lập, tách rời nhau, tĩnh

tại bất biến, nếu có vận động thì chỉ là sự tăng giảm về số lượng mà không có sự
biến đổi về chất.
Trên cơ sở nhận thức những vấn đề chung nêu trên, chúng ta có thể đánh giá
quan điểm triết học Phương Tây và Triết học Phương Đông cổ đại về mối liên hệ
giữa con người và tự nhiên.
II. TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ TƯ TƯỞNG VỀ SỰ THỐNG NHẤT,
HÀI HÒA GIỮA CON NGƯỜI VỚI TỰ NHIÊN.
Về mặt địa lý, Phương Đông cổ đại trải dài từ Ai Cập, Babilon tới Ấn Độ,
Trung Quốc...Phương Đông cổ đại là một trong những cái nôi của văn minh nhân
loại . Trung Quốc và Ấn Độ là những trung tâm phát triển rực rỡ nhất của nền văn
minh ấy.
1. Triết học Trung Hoa cổ đại:
Triết học Trung hoa cổ đại là một nền triết học lớn của nhân loại, có tới 103
trường phái triết học. Do đặc điểm của bối cảnh lịch sử Trung Hoa lúc đó là xã hội
loạn lạc, đời sống nhân dân cơ cực, đạo đức suy đồi nên triết học Trung hoa cổ đại
tập trung vào giải quyết các vấn đề về chính trị - xã hội. Những tư tưởng biện
chứng thời này chỉ thể hiện khi các nhà triết học kiến giải những vấn đề về vũ trụ
quan.
Một trong những học thuyết triết học mang tư tưởng biện chứng sâu sắc là
Học thuyết Âm - Dương. Đây là một học thuyết triết học được phát triển trên cơ sở
một bộ sách có tên là Kinh Dịch. Một trong những nguyên lý triết học cơ bản nhất
là nhìn nhận mọi tồn tại không phải trong tính đồng nhất tuyệt đối, mà cũng không
phải trong sự loại trừ biệt lập không thể tương đồng. Trái lại tất cả đều bao hàm sự
thống nhất của các mặt đối lập - đó là Âm và Dương. Âm - Dương không loại trừ,
không biệt lập, mà bao hàm nhau, liên hệ tương tác lẫn nhau, chế ước lẫn nhau.
Kinh dịch viết: "Cương nhu tương thôi nhi sinh biến hoá", "Sinh sinh chi vi dịch".

Triết học ấn Độ là hệ thống triết học có sự đan xen hoà đồng giữa triết học với
tôn giáo và giữa các trường phái khác nhau. Các tư tưởng triết học được thể hiện
dưới hình thức là một tôn giáo. Theo cách phân chia truyền thống, triết học ấn Độ
cổ đại có 9 trường phái, trong đó có 6 trường phái là chính thống và 3 trường phái
phi chính thống. Trong tất cả các học thuyết triết học đó thì học thuyết triết học thể
hiện trong Phật giáo là học thuyết mang tính duy vật và biện chứng sâu sắc tiêu
biểu của nền triết học ấn Độ cổ đại.
Phật giáo hình thành từ thế kỷ VI TCN do Tất Đạt Đa, tên hiệu là Thích Ca
Mầu Ni (563 - 483 TCN), khai sáng. Phật giáo cho rằng vạn vật trong thế giới
không do một đấng thần linh nào đó tạo ra mà được tạo ra bởi hai yếu tố là Danh
(tinh thần) và Sắc (vật chất). Trong đó Danh bao gồm tâm và thức, còn Sắc bao
gồm 4 đại (đại địa, đại thuỷ, đại hoả, đại phong). Chính nhờ tư tưởng nêu trên mà
Phật giáo được coi là tôn giáo duy vật duy nhất chống lại thứ tôn giáo thần học
đương thời. Đồng thời Phật giáo đưa ra tư tưởng "nhất thiết duy tâm tao", "vô
Nhóm 2.1 - Lớp KTHN 1605

Page 5


Đề tài tiểu luận: Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong triết học phương
Đông và hương Tây.
thường", "vô ngã". "Vô ngã" nghĩa là "không có cái ta, cái tôi bất biến", theo đó
không có cái gì là trường tồn là bất biến, là vĩnh hằng, không có cái gì tồn tại biệt
lập. Đây là tư tưởng biện chứng chống lại đạo Bàlamôn về sự tồn tại của cái tôi átman bất biến. "Vô thường" tức là biến, biến ở đây được hiểu như là sự biến đổi
của vạn vật theo chu kỳ: Sinh - Trụ - Dị - Diệt (đối với sinh vật); Thành - Trụ Hoại - Không (con người). Phật giáo cũng cho rằng sự tương tác của hai mặt đối
lập Nhân và Duyên chính là động lực cho làm cho thế giới vận động chứ không
phải là một thế lực siêu nhiên nào đó nằm ngoài con người, thế giới là vòng nhân
quả vô cùng vô tận. Nói cách khác một vật tồn tại được là nhờ hội đủ Nhân,
Duyên.
3. Sự thống nhất, hài hòa giữa con người với tự nhiên

Đề tài tiểu luận: Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong triết học phương
Đông và hương Tây.
hòa hợp của cả ba, con người bởi thế mới sánh ngang trời đất. Con người không
thể biết gì về bản thân trời đất, cũng không thể biến cải bản chất của chân tâm, mà
chỉ có thể dựa vào ảnh trên để suy ra đạo lý vũ trụ. Bởi vậy tuy chia làm ba ngôi
nhưng tam tài luôn phải được coi là nhất thể, Thiệu Ung nói: Khẳng bả tam biệt
lập căn nguyên. Việc duy nhất người ta cần làm là giữ cho gương sạch, khi đó ảnh
mới rõ ràng, đạo mới minh bạch.
Thuyết tam tài là một thuyết về mục đích của mọi hành động con người.
Thuyết này cho rằng con người phải hòa đồng với vũ trụ ngay cả trong những
hành động nhỏ nhất. Phần thực hành không thể tách khỏi tri thức thượng học.
Công Tôn Trừu hỏi: Ðạo thì thật cao đẹp, xong chẳng phải ai cũng tới được Trời.
Chi bằng cứ để cho kẻ thường nhân làm những việc họ dễ đạt được rồi dần dần
khuyến khích họ tiến bộ có hơn không? Mạnh Tử dạy: Người thợ giỏi chẳng thể vì
vài đứa học trò vụng mà bỏ đi mực thước, người thiện xạ chẳng vì vài kẻ bắn kém
mà thay đổi cung tên. Ai muốn đi xa cũng phải bước những bước đầu, xong nếu
cái đích không định được trước, sợ ngay bước đầu đã lạc lối rồi chăng?
Thuyết tam tài cuối cùng còn đề ra được biện pháp cho con người để giữ được
chân tâm, để đạt được mục đích chân-thiện-mỹ, để làm tròn bổn phận tài thành
thiên địa. Bởi vậy thuyết tam tài là một thuyết về nhân đạo. Về điểm này, Nho
giáo và Ðạo giáo có những trọng tâm khác nhau: theo Nho giáo thì vị trí con người
nằm ở giữa tam tài cho hay nhân đạo cốt ở đắc trung. Trung có một nghĩa là ở
giữa. Ðạo giáo thì không nhấn mạnh vào vị trí giữa của ngôi nhân, mà chú trọng
đặc biệt sự thống nhất không thể tách rời của tam tài. Do đó nhân đạo không khác
gì thiên đạo, địa đạo. Con người cứ xem theo đạo lý trời đất mà suy ra nhân đạo.
Nguyên lý thông thuận của Á Ðông này thường được đem ra so sánh với
nguyên tắc làm chủ, chế ngự thiên nhiên của phương Tây.
b. Quan niệm Ấn Độ
Quan niệm của người Ấn Độ cho rằng mối quan hệ giữa con người và vũ trụ là
mối quan hệ giữa tiểu ngã và đại ngã, giữa bộ phận và toàn thể, vừa đồng nhất,

học, vật lý học, toán học đã làm cơ sở thực tiễn cho sự phát triển của triết học
trong thời kỳ này. Triết học Hy Lạp cổ đại đã phát triển hết sức rực rỡ, trở thành
nền tảng cho sự phát triển của triết học phương Tây sau này.
Một trong những nhà triết học điển hình có tư tưởng biện chứng là Heraclit
(540 - 480 TCN). Theo đánh giá của các nhà kinh điển Mác - Lênin thì Heraclit là
người sáng lập ra phép biện chứng. Ông cũng là người đầu tiên xây dựng phép
biện chứng dựa trên lập trường duy vật.
Phép biện chứng của Heraclit chưa được trình bày dưới dạng một hệ thống các
luận điểm khoa học mà hầu như các luận điểm cốt lõi của phép biện chứng được
đề cập dưới dạng các câu danh ngôn mang tính thi ca và triết lý. Tư tưởng biện
chứng của Heraclit được thể hiện như sau:
Một là Quan niệm về sự vận động vĩnh cửu của vật chất. Theo Heraclit thì
không có sự vật, hiện tượng nào của thế giới là đứng im tuyệt đối, mà trái lại, tất
cả đều trong trạng thái biến đổi và chuyển hoá. Ông nói: "Chúng ta không thể tắm
hai lần trên một dòng sông vì nước mới không ngừng chảy trên sông"; "Ngay cả
mặt trời cũng mỗi ngày một mới". Theo quan điểm của Heraclit thì lửa chính là
bản nguyên của thế giới, là cơ sở duy nhất và phổ biến nhất của tất cả mọi sự vật,
hiện tượng. Đồng thời lửa cũng chính là gốc của mọi vận động, tất cả các dạng
khác nhau của vật chất chỉ là trạng thái chuyển hoá của lửa mà thôi.
Hai là Heraclit nêu lên tư tưởng về sự tồn tại phổ biến của các mâu thuẫn trong
mọi sự vật, hiện tượng. Điều đó thể hiện trong những phỏng đoán về vai trò của
những mặt đối lập trong sự biến đổi phổ biến của tự nhiên về "sự trao đổi của
Nhóm 2.1 - Lớp KTHN 1605

Page 8


Đề tài tiểu luận: Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong triết học phương
Đông và hương Tây.
những mặt đối lập", về "sự tồn tại và thống nhất của các mặt đối lập". Ông nói:

Arixtốt là người đầu tiên đã hệ thống hoá các hình thức vận động thành 6 dạng:
Phát sinh, tiêu diệt, thay đổi trạng thái, tăng, giảm, di chuyển vị trí .
Tuy nhiên Arixtốt lại dơi vào duy tâm vì cho rằng thần thánh là nguồn gốc của
mọi vận động.
Tóm lại, phép biện chứng thời cổ đại về căn bản là đúng nhưng chủ yếu mới
dựa trên những phỏng đoán, những trực kiến thiên tài. Phép biện chứng tự phát
thời cổ đại đã nhìn thấy bức tranh chung của thế giới trong sự tác động, liên hệ của


Nhóm 2.1 - Lớp KTHN 1605

Page 9


Đề tài tiểu luận: Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong triết học phương
Đông và hương Tây.
các mặt đối lập, song chưa đi sâu vào chi tiết của bức tranh. Vì vậy, nó không
tránh khỏi bị phủ định bởi phép siêu hình trong thời kỳ cận đại.
2. Tư tưởng giải phóng con người, khẳng định tham vọng chinh phục,
thống trị tự nhiên
Tư tưởng về vai trò quyết định của điều kiện tự nhiên trong đời sống xã hội
theo quan điểm duy tự nhiên đã được những nhà tư tưởng cổ đại như Platon,
Aristốt khẳng định để đối lập với quan điểm tôn giáo, thần thoại. Tiêu biểu cho
quan điểm này phải kể đến quyết định luận địa lí hay thuyết địa lí quyết định do
Môngtexkiơ khởi xướng vào thế kỷ XVIII. Trào lưu triết học này đã đặt sự
phát triển của xã hội trực tiếp lệ thuộc vào điều kiện địa lí (khí hậu, thổ
nhưỡng, sông ngòi...) đồng thời khẳng định đạo đức cũng như đặc điểm của một
dân tộc tùy thuộc vào hoàn cảnh địa lí của nước đó. Trên cơ sở đó, các nhà triết
học tư sản như Bớc– con, C.Rítte đã xây dựng thuyết địa lý chính trị để chứng giải
tính vĩnh viễn của sự bất bình đẳng xã hội, biện hộ cho sự bành chướng thuộc địa

cuối thế kỷ XV, với sự ra đời của “khoa học tự nhiên thực sự” Châu Âu đã đạt đến
sự tiến bộ khổng lồ trong lĩnh vực tự nhiên nhờ những phát kiến mới của Niutơn,
Lốccơ, Hốpxơ... Họ khẳng định khả năng chinh phục tự nhiên tuyệt đối của con
người.
Quan điểm này tiếp tục được phát triển trong triết học cổ điển Đức. Triết học
cổ điển Đức đã kế thừa và phát triển tư tưởng triết học thời kỳ Phục hưng và Khai
sáng là đề cao con người, đặc biệt là trí tuệ con người. Tuy nhiên, bị chi phối bởi
thế giới quan duy tâm nên con người đã bị cực đoan hóa đến mức là chúa tể sáng
tạo ra giới tự nhiên. Trong triết học Hêghen thì ý thức con người đã được thần
thánh hóa thành lực lượng siêu nhiên và chi phối toàn vũ trụ. Ông cho rằng: giới tự
nhiên được ý niệm tuyệt đối tha hóa cùng một lúc trong không gian. Như thế giới
tự nhiên không có quá trình phát triển theo thời gian, phủ nhận sự tồn tại của tự
nhiên là độc lập với ý thức con người.
Quan điểm duy xã hội còn được tiếp tục phát triển bởi các nhà triết học tư sản
thế kỉ XX thông qua thuyết kĩ trị. Thuyết “kỹ trị” đây là trào lưu xã hội học ra đời
ở nước Mỹ trên cơ sở những tư tưởng của nhà kinh tế học tư sản I Vêblen vào
được phổ biến rộng rãi trong những năm 30. Ở nước Mỹ và một số nước Châu Âu,
các hội nhà kỹ trị được thiết lập. Họ tuyệt đối hóa vai trò của khoa học kỹ thuật, đề
cao việc sử dụng máy móc, sản phẩm công nghiệp…
Quan điểm duy xã hội (con người) chỉ đề cao việc chinh phục một chiều của
con người trong mối quan hệ với tự nhiên. Đó là điều “phi lý và trái tự nhiên”,
sự thống trị ấy chính là nguyên nhân dẫn đến sự hủy hoại tự nhiên, làm mất cân
bằng sinh thái. Vì thế, đây là điều kiện để chính tự nhiên “báo thù” con người.
* Nhìn chung, theo quan điểm truyền thống phương Tây, tính tích cực chủ
động, sáng tạo của con người được đề cao trong quan hệ với tự nhiên. Trên tinh
thần đó con người đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc chinh phục tự
nhiên, cải tạo hoàn cảnh. Nhưng cũng chính những điều đó đã để lại hậu quả nặng
nề về mặt môi sinh mà các thế hệ ngày nay và mai sau phải gánh chịu.

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ấn Độ Xưa và Nay. Tràn Thị Lý (chủ biên) cùng tập thể tác giả. Nxb

KHXH, 1997.
2. c. Mác và Ph Ăng ghen: Toàn tập (1995), Tập 21 Nxb Sự Thật, Hà Nội.
3. Đại Cương Triết Học Phương Đông cổ Đại, Doãn Chính (Chủ biên). Nxb

CTQG,1998.
4. Giáo Trình Triết Học Mác-Lê Nin (dùng cho các trường ĐH&CĐ), Bộ giáo

dục và đào tạo (2002), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
5. Giáo Trình Triết Học (Dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không

thuộc chuyên ngành Triết học), Nxb lý luận chính trị, Hà Nội, 2007.
6. Lịch Sử Triết Học, Tràn Đăng Sinh (chủ biên), Nxb Đại học sư phạm, 2009.

Nhóm 2.1 - Lớp KTHN 1605

Page 12




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status