DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Chữ viết tắt
Ban chấp hành
BCH
Bí thư đảng ủy
BTĐU
Cán bộ, đảng viên
CB, ĐV
Chủ nghĩa đế quốc
CNĐQ
Chủ nghĩa xã hội
CNXH
“Diễn biến hòa bình”
“DBHB”
Trong sạch vững mạnh
Thực trạng và một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở huyện Thanh Oai,
thành phố Hà Nội
Chương 2.
44
YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT
CẤP XÃ Ở HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ
HÀ NỘI HIỆN NAY
2.1.
65
Tình hình, nhiệm vụ và yêu cầu nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ cấp xã ở huyện Thanh Oai, thành phố
Hà Nội hiện nay
2.2.
65
Những giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp xã ở Thanh Oai, thành phố Hà Nội hiện nay
74
cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Công việc thành công, hay thất bại đều do
cán bộ tốt hay kém.
Tại Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Đảng ta đã
ban hành nghị quyết về đổi mới nâng cao chất lượng hệ thống chính trị xã,
phường, thị trấn. Nghị quyết đã nhấn mạnh vai trò của đội ngũ cán bộ, công
chức và đề ra một loạt chủ trương, biện pháp để xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức xã, phường, thị trấn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng.
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, là một nội dung của công tác cán
bộ. Vì vậy, phải quán triệt quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc, nội dung công tác
cán bộ của Đảng vào xác định phương hướng, mục tiêu và cơ cấu, yêu cầu về
nâng cao chất lượng; làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ, những quan điểm, đường lối của Đảng về công tác cán bộ qua từng
giai đoạn của cách mạng; quán triệt mục tiêu phương hướng xây dựng đội ngũ
cán bộ, đánh giá vị trí, vai trò, thực trạng, cơ cấu đội ngũ cán bộ hiện nay,
3
những ưu khuyết điểm và tìm ra những nguyên nhân và đưa ra các giải pháp cơ
bản xây dựng đội ngũ cán bộ trong giai đoạn cách mạng mới.
*Vai trò, vị trí cán bộ xã: Xã là một đơn vị cấp hành chính cuối cùng
trong bốn cấp của hệ thống quản lý hành chính, là cấp thấp nhất theo sự phân
cấp quản lý nhưng thấp nhất không đồng nghĩa với ít quan trọng nhất. Do vậy,
xây dựng đội ngũ cán bộ xã là nhiệm vụ rất quan trọng. Có thể đánh giá vị trí,
vai trò của cán bộ cấp xã trên một số khía cạnh sau:
Đội ngũ cán bộ xã là người giữ vai trò quyết định trong việc hiện thực
hoá sự lãnh đạo và quản lý của Đảng và Nhà nước về mọi mặt của đời sống
kinh tế - xã hội ở cơ sở. Đội ngũ cán bộ xã là người giữ vai trò quyết định trong
việc quán triệt, tổ chức thực hiện mọi quyết định của cấp uỷ cấp trên, cấp uỷ
cùng cấp và mọi chủ trương, kế hoạch, sự chỉ đạo của chính quyền cấp trên,
cũng như mọi chương trình, kế hoạch của chính quyền xã. Cán bộ xã là cầu nối
cán bộ được đánh giá qua 3 tiêu chí: Số lượng cán bộ; chất lượng cán bộ và cơ
cấu đội ngũ cán bộ. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ xã trong giai đoạn
hiện nay cần: Đảm bảo đủ số lượng, xây dựng và đảm bảo thực hiện cơ cấu hợp
lý (về tuổi; về giới; về chuyên môn nghiệp vụ; về dân tộc; về khu vực địa
lý…), đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ được
giao; mỗi cán bộ đều có đủ tiêu chuẩn về năng lực; đạo đức; lấy kết quả hoàn
thành nhiệm vụ của cán bộ làm thước đo chủ yếu để đánh giá
*Về nội dung công tác cán bộ ở xã: Nội dung công tác cán bộ ở xã bao
gồm: Công tác đánh giá cán bộ, việc đánh giá, nhận xét cán bộ giữ vai trò
quan trọng, có tác dụng phát huy những ưu điểm, khắc phục những khuyết
điểm, hạn chế, thiếu sót của mỗi cán bộ để bố trí, sử dụng cán bộ hợp lý, góp
phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị. Tuy nhiên đánh giá cán bộ là
công việc rất khó, đòi hỏi phải công tâm khách quan. Phải căn cứ vào tiêu
chuẩn cán bộ và việc hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ để đánh giá, trọng dụng
những người có đức, có tài.
5
*Trình độ học vấn phổ thông của cán bộ chủ chốt xã: Về trình độ chuyên
môn: Thực tế cho thấy, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ còn thấp. Mặt
khác, số được đào tạo qua các chuyên nghành chưa đáp ứng với yêu cầu thực
tiễn ở cơ sở, không theo đúng với quy hoạch, còn chắp vá.Về trình lý luận
chính trị, trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ xã vẫn còn thấp, số chưa
qua đào tạo còn cao. Đối với cán bộ chủ chốt mà số chưa qua đào tạo cao như
vậy là điều rất đáng lưu ý bởi họ phải là những người có lập trường chính trị
vững vàng, có khả năng lĩnh hội chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng,
pháp luật của Nhà nước. Đội ngũ cán bộ này tham gia công tác chủ yếu là ở
lòng nhiệt tình cách mạng, một lòng một dạ đi theo Đảng chứ chưa hoàn toàn
dựa vào niềm tin có cơ sở khoa học vào chủ nghĩa xã hội, vào sự lãnh đạo của
còn chậm so với mục tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ cơ sở. Đồng thời, các cấp
ủy đảng chưa chú ý đúng mức đến việc luân chuyển và thực hiện chính sách sát
hợp với đối tượng này.
*Các xã trên địa bàn huyện Thanh Oai: Từ ngày 1 tháng 8 năm 2008, toàn bộ
tỉnh Hà Tây được sáp nhập vào Hà Nội theo Nghị quyết của Kỳ họp thứ 3
Quốc hội khóa XII ngày 29 tháng 5 năm 2008. Theo đó, huyện Thanh Oai là
huyện ngoại thành của thành phố Hà Nội. Phía Bắc và phía Tây Bắc Huyện
Thanh Oai giáp quận Hà Đông (với Sông Nhuệ chảy ở rìa phía Đông Bắc
huyện, là ranh giới tự nhiên), phía Tây giáp huyện Chương Mỹ (với Sông Đáy
là ranh giới tự nhiên), phía Tây Nam giáp huyện Ứng Hòa, phía Đông Nam
giáp huyện Phú Xuyên, phía Đông giáp huyện Thường Tín và phía Đông Bắc
giáp huyện Thanh Trì. Diện tích tự nhiên của huyện là 129,6 km². Dân số là
175.800 người, theo thống kê năm 2009. Huyện Thanh Oai có huyện lỵ là thị
trấn Kim Bài và các xã: Cao Viên, Bích Hòa, Cự Khê, Mỹ Hưng, Tam Hưng,
Bình Minh, Thanh Mai, Thanh Cao, Thanh Thùy, Thanh Văn, Đỗ Động, Kim
Thư, Kim An, Phương Trung, Dân Hòa, Tân Ước, Liên Châu, Hồng Dương,
Cao Dương, Xuân Dương. Thanh Oai là một vùng quê với rất nhiều làng nghề
như nón lá làng Chuông, quạt nan, mây tre, giang đan làng Vác, xã Cao Viên,
7
làng Bình Đà xã Bình Minh ngày xưa rất nổi tiếng với nghề làm pháo, nghề cơ
khí ở làng Rùa xã Thanh Thùy. Gần chục năm trở lại, các khu công nghiệp mở
ra thu hút nhiều lao động địa phương. Hiên nay thành phố Hà Nội đang triển
khai xây dựng nhiều dự án trên địa bàn huyện: trục đường phát triển phía Nam
với các khu độ thị như (Mỹ Hưng, Thanh Hà A, Thanh Hà B), dự án đường
vành đai 4, cụm công nghiệp Cao Viên, Bình Đà.
Thanh Oai có nét đặc trưng của nền văn hóa đồng bằng Bắc Bộ với rất
nhiều đình chùa cổ kính và những làng nghề lâu đời, đặc sắc nhất làng làm nón
lá ở Phương Trung (Làng Chuông), điêu khắc ở Võ Lăng (Dân Hoà), Dư Dụ
chốt cấp xã ở huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội, có năng lực công tác ở mức
thành thạo ngày càng tăng, chất lượng công tác được đảm bảo, thực hiện tốt các
nhiệm vụ được giao. Kết quả trưng cầu ý kiến đánh giá về mức độ hoàn thành
chức trách, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở huyện Thanh Oai,
thành phố Hà Nội cho thấy, có 65 % ý kiến được hỏi đánh giá tốt, 20% ý kiến
đánh giá khá, 10 % ý kiến đánh giá trung bình, chỉ có 05 % ý kiến đánh giá kết
quả hoàn thành chức trách, nhiệm vụ ở mức yếu.
Kết quả đánh giá chất lượng đảng viên năm 2015 có 100% cán bộ chủ
chốt đều đạt tiêu chuẩn đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ, trong đó
có 59% cán bộ chủ chốt cấp xã là đảng viên đủ tư cách hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ. [phụ lục 4].
Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội
có phẩm chất đạo đức cách mạng và lối sống trong sạch lành mạnh, trung thực,
chân thành, khiêm tốn giản dị, thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư,
tận tụy với công việc, có tinh thần khắc phục khó khăn, có tinh thần cầu thị, ý
chí phấn đấu vươn lên. Trong công tác giải quyết đúng đắn mối quan hệ với tổ
chức và nhân dân địa phương. Phần đông có tác phong công tác sâu sát, tỉ mỷ,
lời nói đi đôi với việc làm, phát huy được tính tiền phong gương mẫu trong
công việc và cuộc sống đời thường. Hầu hết đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở
huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội hiện nay nhận thức tốt vai trò của việc rèn
9
luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức với quá trình công tác và sự tiến bộ trưởng
thành của mình, có thái độ kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện sai trái,
tiêu cực, lạc hậu. Gương mẫu chấp hành pháp luật Nhà nước, không có trường
hợp vi phạm kỷ luật phải xử lý, toàn tâm toàn ý, luôn xứng là lực lượng nòng
cốt ở địa phương. Kết quả trung cầu ý kiến cho thấy, có 65% ý kiến đánh giá
đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội có phẩm
chất chính trị, đạo đức tốt, 20% ý kiến đánh giá khá và 15 % ý kiến đánh giá
vấn đề cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
Xuất phát từ vị trí, tầm quan trọng của cán bộ chủ chốt cấp xã, tác giả
lựa chọn vấn đề “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở
huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ
khoa học chính trị chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Trong những năm qua đã có nhiều cơ quan, cán bộ khoa học, cán bộ
lãnh đạo, quản lý nghiên cứu về cán bộ và công tác cán bộ với nhiều góc độ
tiếp cận khác nhau. Dưới đây là một số công trình tiêu biểu có liên quan trực
tiếp đến đề tài luận văn:
Nguyễn Phú Trọng (2001): “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước”, Nxb CTQG, ST, Hà Nội, 2001. Trong các công trình này tác giả đã phân
tích sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan
điểm của Đảng về cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ. Trước yêu cầu của sự
nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, công trình đã xác
định hệ thống quan điểm và chủ trương, giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đất nước.
Đề tài khoa học cấp nhà nước KX04.09: Xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức đáp ứng đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do
dân, vì dân” (2002-2004) của Bộ Nội vụ. Đề tài đã nghiên cứu cơ sở lý luận và
11
thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức. Các công trình đã đánh giá thực
trạng công tác cán bộ, công chức đáp ứng đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Xác định rõ vai trò của công tác xây
dựng đội ngũ cán bộ, công chức; khẳng định những yêu cầu khách quan của
xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức của chính quyền Nhà nước. Làm rõ những
tác động ảnh hưởng, qua đó khẳng định những vấn đề có tính nguyên tắc, xác
chuyên ngành xây dựng Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà
Nội, 2000.Tổng Cục chính trị: “Xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới”, Nxb QĐND, Hà Nội, 2000.
Trần Danh Bích: “Xây dựng cơ cấu hợp lý đội ngũ cán bộ Quân đội
nhân dân Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới”, Luận án Phó tiến sĩ khoa
học quân sự, Hà Nội, 1996.
Dương Quang Bích: “Nâng cao chất lượng đào tạo giảng viên khoa học
xã hội nhân văn ở Học viện Chính trị quân sự trong giai đoạn hiện nay”, Luận
văn thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành xây dựng ĐCSVN, Hà Nội, 2000.
Võ Bá Dương: “Xây dựng đội ngũ giảng viên ở Trường sĩ quan Chỉ huy
kỹ thuật thông tin”, Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành xây
dựng ĐCSVN, Hà Nội, 2003.
Nguyễn Minh Khôi: “Bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý GD - ĐT ở các học
viện, trường sĩ quan quân đội trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ khoa học
chính trị, chuyên ngành xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội, 2005.
Dương Văn Hải: “Xây dựng đội ngũ giảng viên khoa học quân sự ở Học
viện Quốc phòng trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ khoa học chính
trị, chuyên ngành xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội, 2006.
Nguyễn Văn Tháp: “Xây dựng đội ngũ giảng viên khoa học xã hội nhân
13
văn ở các trường đào tạo sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay”
Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành xây dựng Đảng Cộng
sản Việt Nam, Hà Nội. 2007.
Lê Văn Quang, “Xây dựng đội ngũ giảng viên ở trường sĩ quan Lục
quân 1 trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên
ngành xây dựng ĐCSVN, Hà Nội 2010.
Phạm Đức Tú: “Thực trạng và giải pháp kiện toàn, phát triển đội ngũ
nhà giáo Quân đội”, Tạp chí Nhà trường quân đội, Số 04 năm 2009.
để phát hiện, kiểm tra, giám sát cán bộ.
Sáu là, Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán
bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ, đi đôi với phát huy trách nhiêm của các
tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị.
Tác giả đã khái quát những thành tựu ưu điểm, hạn chế của công tác bộ
trên các phương diện xây dựng tiêu chuẩn cán bộ, đánh giá cán bộ, quy hoạch
cán bộ, luân chuyển cán bộ, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, chỉ ra một số vấn đề và
giải pháp thực hiện bao gồm: Tiếp tục đổi mới công tác đánh giá cán bộ, Tiếp
tục nâng cao chất lượng công tác quy hoạch cán bộ, đáp ứng nhiệm vụ cả trước
mắt và lâu dài, đẩy mạnh luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Tạo sự
chuyển biến sâu sắc về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Cơ cấu lại đội ngũ cán bộ,
theo yêu cầu tăng cường chất lượng, tinh giảm biên chế hành chính. Cải cách
hệ thống chính sách về cán bộ. Đổi mới công tác tuyển chọn, bố trí, sử dụng
cán bộ. Tăng cường công tác giáo dục, quản lý cán bộ của cấp ủy các cấp.
Những đề tài trên đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội
15
ngũ cán bộ. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, các đề
tài đều khảng định vai trò đặc biệt quan trọng của đội ngũ cán bộ. Các công
trình đã đánh giá thực trạng, rút ra các bài học kinh nghiệm về xây dựng đội
ngũ cán bộ, khẳng định những yêu cầu khách quan của việc xây dựng, nâng
cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ mới. Tuy mỗi đề tài có đối tượng,
khách thể, phạm vi nghiên cứu khác nhau, nhưng đều thống nhất cho rằng, cán
bộ phải là những người mẫu mực về phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng,
giỏi về chuyên môn.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách cơ bản,
hệ thống về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở huyện
Thanh Oai, thành phố Hà Nội, với tính chất là một công trình khoa học độc lập.
Vì vậy, đề tài luận văn không trùng lặp với các công trình khoa học, luận văn,
Cộng sản
Việt Nam về công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ.
* Cơ sở thực tiễn: Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã
ở huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội hiện nay, đề tài có tham khảo một số
công trình, bài viết liên quan đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, các báo
cáo tổng kết về công tác xây dựng đảng thuộc Đảng bộ thành phố Hà Nội từ
năm 2011 đến 2016, các số liệu điều tra, khảo sát thực tế ở các xã huyện Thanh
Oai.
* Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác – Lê nin, đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học
chuyên ngành và liên ngành, chú trọng các phương pháp: phân tích, tổng hợp,
lôgíc-lịch sử, điều tra khảo sát, tổng kết thực tiễn và phương pháp chuyên gia.
6. Ý nghĩa của đề tài
17
Kết quả nghiên cứu đề tài góp phần cung cấp thêm cơ sở khoa học để
Thường vụ Huyện ủy Thanh Oai, các đảng bộ xã nghiên cứu, vận dụng góp
phần nâng cao chất lượng cán bộ chủ chốt cấp xã. Đồng thời, có thể sử dụng
làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy ở trường chính trị thành
phố Hà Nội, trung tâm bồi dưỡng chính trị, huyện.
7. Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm: phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo và phục lục.
18
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN NÂNG CAO CHẤT
hiện hành của Đảng, Nhà nước, cán bộ chủ chốt là những người đứng đầu, cấp
phó của người đứng đầu các cơ quan trong bộ máy tổ chức của Đảng, chính
quyền, ủy ban Mặt trận Tổ quốc và ban chấp hành các đoàn thể chính trị - xã
hội trong hệ thống chính trị.
Luật Cán bộ, công chức quy định cán bộ có các nghĩa vụ và quyền lợi:
Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia. Tôn trọng nhân
dân, tận tụy phục vụ nhân dân. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến
và chịu sự giám sát của nhân dân. Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Thực hiện đúng, đầy đủ
và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Có ý
thức tổ chức kỷ luật, nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ
chức, đơn vị, báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp
luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị, bảo vệ bí mật nhà nước. Chủ động và phối
hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ. Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết
kiệm tài sản Nhà nước được giao. Chấp hành quyết định của cấp trên.
Ngoài việc thực hiện quy định trên, cán bộ là người đứng đầu bộ máy
Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, còn phải thực hiện các nghĩa
vụ: Chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về kết
quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc
thi hành công vụ của cán bộ, công chức. Tổ chức thực hiện các biện pháp
phòng, chống quan liêu, tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và
chịu trách nhiệm về việc để xảy ra quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong cơ
quan, tổ chức, đơn vị. Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về dân chủ
cơ sở, xử lý kịp thời, nghiêm minh cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý có
hành vi vi phạm kỷ luật, pháp luật, có thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền,
20
gây phiền hà cho công dân. Giải quyết kịp thời, đúng pháp luật, theo thẩm
lịch sự, nghiêm túc, khiêm tốn. Cán bộ không được hách dịch, cửa quyền, gây
khó khăn, phiền hà cho nhân dân khi thi hành công vụ.
Những việc cán bộ không được làm: Trốn tránh trách nhiệm, thoái thác
nhiệm vụ được giao, gây bè phái, mất đoàn kết, tự ý bỏ việc hoặc tham gia đình
công. Sử dụng tài sản của Nhà nước và của nhân dân trái pháp luật. Lợi dụng,
lạm dụng nhiệm vụ, quyền hạn, sử dụng thông tin liên quan đến công vụ để vụ
lợi. Phân biệt đối xử dân tộc, nam, nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo
dưới mọi hình thức. Cán bộ không được tiết lộ thông tin liên quan đến bí mật
nhà nước dưới mọi hình thức. Cán bộ làm việc ở ngành, nghề có liên quan đến
bí mật Nhà nước thì trong thời hạn ít nhất là 05 năm, kể từ khi có quyết định
nghỉ hưu, thôi việc, không được làm công việc có liên quan đến ngành, nghề
mà trước đây mình đã đảm nhiệm cho tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá
nhân nước ngoài hoặc liên doanh với nước ngoài. Chính phủ quy định cụ thể
danh mục ngành, nghề, công việc, thời hạn mà cán bộ không được làm và
chính sách đối với những người phải áp dụng quy định này. Ngoài những việc
không được làm trên đây, cán bộ còn không được làm những việc liên quan
đến sản xuất, kinh doanh, công tác nhân sự quy định tại Luật phòng, chống
tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và những việc khác theo
quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền.
*Quan niệm đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở huyện
Thanh Oai, thành phố Hà Nội.
Cán bộ chủ chốt cấp xã ở huyện Thanh Oai là những người được bầu cử,
phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch, Phó
Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, Chủ
tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ, Chủ tịch Hội Nông dân, Chủ tịch Hội
Cựu chiến binh ở cấp xã. Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ xã (theo Quyết định
04/2004/QĐ-BNV) được thể hiện:
22
*Nhiệm vụ: Chuẩn bị nội dung, triệu tập và chủ trì các kỳ họpcủa tổ chức
mình; cùng tập thể Ban Thường trực (Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc), Ban Thường
trực (4 tổ chức đoàn thể) xây dựng chương trình kế hoạch công tác, hướng dẫn
hoạt động đối với Ban Công tác Mặt trận, các chi hội đoàn thể ở thôn, làng, ấp,
bản, tổ dân phố; phối hợp với chính quyền, các đoàn thể cùng cấp vận động,
hướng dẫn cán bộ, đoàn viên, hội viên tổ chức mình, các tầng lớp nhân dân
tham gia thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng,
hiệp thương bầu cử xây dựng chính quyền, thực hiện quy chế dân chủ tại xã và
các phong trào thi đua của tổ chức mình theo chương trình, nghị quyết của tổ
chức chính trị - xã hội cấp trên tương ứng đề ra.
Thứ ba: Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân.
* Chức trách: Là cán bộ chuyên trách của Hội đồng nhân dân xã, chịu
trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Hội
đồng nhân dân cấp xã, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội, an ninh chính trị, trật
tự an toàn xã hội trên địa bàn xã.
*Nhiệm vụ của Chủ tịch Hội đồng nhân dân: Triệu tập, chủ toạ các kỳ
họp của Hội đồng nhân dân, phối hợp với Uỷ ban nhân dân trong việc chuẩn bị
kỳ họp Hội đồng nhân dân; chủ trì trong việc tham gia xây dựng nghị quyết của
Hội đồng nhân dân. Giám sát, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết
của Hội đồng nhân dân; tổ chức tiếp dân, đôn đốc, kiểm tra việc giải quyết các
kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của nhân dân; giữ mối quan hệ với đại biểu Hội
đồng nhân dân, phối hợp công tác với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng
cấp, thông báo hoạt động của Hội đồng nhân dân với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam. Báo cáo hoạt động của Hội đồng nhân dân lên Hội đồng nhân dân
và Uỷ ban nhân dân cấp huyện; chủ trì và phối hợp với Uỷ ban nhân dân trong
việc quyết định đưa ra bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân theo đề nghị của
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp.
24