Nghiên cứu khả năng ức chế quá trình sinh khí amoni và hydrosunfua bằng một số khoáng chất tự nhiên (luận văn thạc sĩ) - Pdf 40

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
----------

Trƣơng Thanh Ka

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG ỨC CHẾ QUÁ TRÌNH SINH KHÍ
AMONI VÀ HYDROSUNFUA BẰNG MỘT SỐ KHOÁNG
CHẤT TỰ NHIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội – 2014


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU.......................................................................................................................................... 5
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN......................................................................................................... 7
1.1.

TỔNG QUAN VỀ AMONI (NH4) VÀ HYDROSUNPHUA (H2S): ................. 7

1.1.1.

Nghiên cứu về amoni (NH4) và hydrosunphua (H2S): ........................................... 7

1.1.2.

Hiện trạng ô nhiễm amoni (NH4) và hydrosunphua (H2S) trong nƣớc .............. 14


Phân loại hấp phụ ..................................................................................................... 25

1.3.3.

Cơ chế........................................................................................................................ 26

1.3.4.

Chất hấp phụ ............................................................................................................. 26

1.3.5.

Đƣờng hấp phụ đẳng nhiệt ...................................................................................... 26

1.3.5.1. Phƣơng trình Freundlich[1] ..................................................................................... 26
1.3.5.2.Phƣơng trình Lăngmua (Langmuir)[1] ..................................................................... 28
1.3.6.

Các phƣơng pháp phân tích.................................. Error! Bookmark not defined.

CHƢƠNG 2: THỰC NGHIỆM ............................................................................................ 30
2.1.

Hóa chất và thiết bị................................................................................................... 30
1


2.1.1. Hóa chất và thiết bị phân tích H2S............................................................................... 30
2.1.2.



KẾT LUẬN.................................................................................................................................... 55

2


DANH MỤC HÌNH

Hình 1. Ảnh hƣởng của pH trên tỷ lệ tƣơng quan của H2S, HS- và S2-.................................... 17
Hình 2. Laterit (đá ong) trong tự nhiên ....................................................................................... 24
Hình 3. Đƣờng hấp phụ axit propionic trên than hoạt tính ........................................................ 27
Hình 4. Đồ thị để tìm ra các hằng số trong phƣơng trình Frendlich ......................................... 28
Hình 5. Đƣờng hấp phụ đẳng nhiệt Lăng mua ........................................................................... 29
Hình 6. Đồ thị để tìm các hằng số trong phƣơng trình Lăngmua ............................................. 29
Hình 7. Cấu tạo của kính hiển vi điện tử quét SEM................Error! Bookmark not defined.
Hình 8. Hiện tƣợng các tia X nhiễu xạ trên các mặt tinh thể chất rắn .. Error! Bookmark not
defined.
Hình 9. Nồng độ TAN ở thí nghiệm với các công thức khoáng Laterite theo thời gian ..... 44
Hình 10. Hiệu suất TAN khi sử dụng khoáng Laterite theo thời gian (%) ........................... 45
Hình 11. Ảnh hƣởng của khoáng Laterit đến nồng độ NH3.................................................... 47
Hình 12. Nồng độ H2S ở các thí nghiệm với các công thức khoáng Laterite theo thời gian . 49
Hình 13.Ảnh hƣởng của hàm lƣợng Zeolite đến nồng độ TANtrong nƣớc ........................... 51
Hình 14. Hiệu suất TAN khi sử dụng khoáng Zeolite theo thời gian (%) ............................... 52
Hình 15. Ảnh hƣởng của khoáng Zeolite đến nồng độ NH3 ................................................... 53
Hình 12. Nồng độ H2S ở các thí nghiệm với các công thức khoáng Zeolite theo thời gian .. 54

3


DANH MỤC BẢNG

nổi cộm do hoạt động này chƣa thực sự đƣợc quan tâm. Thực tế cho thấy trong nghề
nuôi trồng thủy sản đã xuất hiện nhiều bất cập liên quan đến môi trƣờng cần phải
giải quyết nhƣ dịch bệnh, tồn dƣ về thuốc kháng sinh, vi sinh vật gây bệnh, ô nhiễm
hữu cơ.
Tình trạng ô nhiễm môi trƣờng đang xảy ra nghiêm trọng trong nuôi trồng
thủy sản do phần lớn các chất hữu cơ dƣ thừa từ thức ăn, phân và các rác thải khác
đọng lại dƣới đáy ao nuôi. Ngoài ra, còn các hóa chất, kháng sinh đƣợc sử dụng
trong quá trình nuôi trồng cũng dƣ đọng lại mà không đƣợc xử lý. Việc hình thành
lớp bùn đáy do tích tụ lâu ngày của các chất hữu cơ, cặn bã là nơi sinh sống của các
vi sinh vật gây thối, các vi sinh vật sinh các khí độc nhƣ NH3, NO2, H2S, CH4....
Các vi sinh vật gây bệnh nhƣ: Vibrio, Aeromonas, Ecoli, Pseudomonas, Proteus,
Staphylococcus... nhiều loại nấm và nguyên sinh động vật.
Đáy ao bao gồm lớp nền đất tự nhiên, chất cặn lắng và lƣợng bùn nhão lỏng
do thức ăn dƣ thừa, chất hữu cơ và phân tôm. Sự tích tụ cacbon hữu cơ chiếm
khoảng 25% lƣợng cacbon hữu cơ từ thức ăn tôm, một số nghiên cứu tƣơng tự cũng
ƣớc lƣợng khoảng 24% nitơ và 24% phốt pho bị tích tụ lại. Lƣợng dinh dƣỡng tích
tụ ở đáy ao thƣờng trong khoảng từ 5% – 40% từ thức ăn (cacbon, nitơ, phốt pho)
tùy theo khả năng quản lý của từng trại. Các chất dinh dƣỡng, hữu cơ và cặn bùn có
xu hƣớng lắng tích lại ở đáy ao và tới một mức nào đó chúng ta phải loại bỏ chúng
ra khỏi ao nuôi tôm.

5


Một nghiên cứu của Lemonnier và Brizard đã nhận thấy việc hút lƣợng bùn
đáy đã làm tăng sản lƣợng tôm từ 1 đến 6,2 tấn/ha/năm và tăng tỉ lệ sống từ 10 –
60% trong ao nuôi tôm bán thâm canh ở New Caledonia [15].Với mụcđích nghiên
cứu và ứng dụng các loại khoáng tự nhiên giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng, hạn chế
tối đa khả năng sinh các khí độc NH3,H2S,Nox... với chi phí rẻ, sẵn có tại nhiều
vùng của Việt Nam, kết hợp với đề tài Đề tài KC.08.26/11-15, Bộ Khoa học và

tính nhƣ sau:
[NH3] + [NH4+] = H[NH3(gas)] + KbH[NH3(gas)],
Trong đó [NH3(gas)] là nồng độ mol của ammoniac pha phí.
Kb là hằng số phân ly tính theo công thức:
[NH4+] [OH-]
Kb = ------------ = 1.774 x 10-5 (at 25°C)
[NH3]
H là hằng số Henry đƣợc tính theo:
log10H = 1477.8/T - 1.6937
Có nhiều loại muối ammoniac, trong đó có một số muối sử dụng phổ biến
trong công nghiệp nhƣ ammonium chloride, ammonium nitrat và ammonium
sulfate. Ngoại trừ các phức tạo với kim loại, các muối amoni cũng có tính tan phân

7


ly tốt tƣơng tự nhƣ các muối của kim loại kiềm, tuy nhiên lại dễ bị phân hủy bởi
nhiệt.
Các loại muối amoni phổ biến:
-Ammonium chloride [NH4Cl] có trong tự nhiên, là sản phẩm trong hoạt động
của núi lửa, khi hóa hơi tạo thành hydrogen chloride và ammoniac. Cũng nhƣ các
loại muối ammoniac có tính axit mạnh, gốc chloride hydrolyses tan trong nƣớc tạo
pH thấp. Trong chất rắn qua quá trình lƣu trữ ammoniac dễ bị thất thoát, còn trong
thể lỏng ammonium chloride có khuynh hƣớng ăn mòn kim loại màu và một số các
hợp kim khác, đặc biệt là đồng, đồng thau. Ammonium chloride có thể bị oxi hóa
thành nitrosyl chloride và chlorine bởi các tác nhân oxi hóa mạnh nhƣ nitric axit.
-Ammonium nitrate [NH4NO3] không tồn tại trong tự nhiên và khá bền, chỉ bị
phân hủy ở nhiệt độ rất cao. Ammonium nitrate tác dụng nhƣ một chất oxy hóa
mạnh trong rất nhiều phản ứng, ở dạng dung dịch nó ăn mòn các kim loại, đặc biệt
là đồng và các hợp kim của nó.

8


Các hợp chất thƣờng gặp của ion NH4+ là: các muối clorua, sunphat, nitrat,
oxalat, molypdat và NH4OH.
+ Tính axit – bazo: NH3 hòa vào nƣớc thành amoni hydroxyt NH4OH hay gọi
là dung dịch amoniac. Trong dung dịch NH4OH ta có cân bằng:
NH3 + H2O  NH4OH  NH4+ + OHỞ nhiệt độ thƣờng, cân bằng vẫn lệch về phía trái nên dung dịch luôn có mùi
NH3
NH4OH là một kiềm yếu, nó kết tủa đƣợc một số cation (nhƣ Fe3+) dƣới dạng
hydroxyt. Nhƣng nó không kết tủa đƣợc nhiều cation vì nó tạo thành những phức
chất tan, hoặc vì nồng độ ion OH- của nó không đủ để kết tủa nhất là khi có mặt
muối amoni (làm giảm sự phân ly của NH4OH)
Muối amoni của các axit mạnh nhƣ clorua, sunphat, có phản ứng nhẹ vì:
NH4+ + H2O = NH4OH + H+
Do đó, các muối amoni này thƣờng dùng trong phân tích để làm giảm pH của
dung dịch
Các muối amoni của axit yếu thế thƣờng phân ly, giải phóng NH3:
(NH4)2CO3 = NH4+ + NH3 + HCO3+ Tính oxy khử: Ion NH4+ có thể bị oxy hóa trong môi trƣờng axit bởi nƣớc
cƣờng thủy, clo, brom và các chất oxy hóa mạnh khác; bị oxy hóa trong môi trƣờng
kiềm bởi hypoclorit, hypobromit, kalipemanganat..
2NH4+ + Cl2  N2 + 6Cl- + 8H+
+ Tạo phức: Ion NH4+ có thể tạo phức với nhiều cation nhƣ Ag+, Cu2+, Cd2+,
Ni2+, Co2+, Cr3+…, ví dụ [Ag(NH3)2]+, [Ni(NH3)6]2+, ….
+ Độ tan của các muối: hầu hết các muối NH4+ đều dễ tan, trừ một số ít hợp
chất nhƣ amoni hexaxyano cobantiat.
+ Tác dụng nhiệt: Khi đun nóng hầu hết các muối amoni bị phân hủy. Một số
muối amoni khó bay hơi nhƣ (NH4)2SO4 chỉ đƣợc loại hết ở nhiệt độ cao.
NH4NO3  N2O + 2H2O
b. Một số các nghiên cứu về chuyển hóa Amoni:

phƣơng pháp đánh dấu cho toàn hệ sinh thái, nhƣng tốc độ tuyệt đối chuyển hóa
amoni vào tháng 5 cao gấp 3 lần. Trong khi bề mặt đầm lầy trong tháng 5 rất thuận
lợi cho quá trình nitrat hóa thì nó lại giảm vào tháng 9. Mặt khác, khử nitơ lại là quá
trình quan trọng hơn vào tháng 9. Những phát hiện trong nghiên cứu này cho thấy
rằng amoni trong nƣớc ngập là yếu tố quan trọng cho quá trình loại bỏ amoni trong
hệ sinh thái đầm lầy nƣớc ngọt.
c. Nguồn điểm của ô nhiễm ammonia vào môi trường nước
Các nguồn nhân tạo chủ yếu của ammonia trong nƣớc mặt bao gồm các chất
thải từ nông nghiệp, quá trình sản xuất phân bón cho cây trồng, luyện gang thép, lọc
dầu, thuộc da, sản xuất hóa chất vô cơ, các ngành phi kim, hợp kim,chế biến thực
phẩm. Lƣợng ammoniac trong nƣớc thay đổi thƣờng xuyên theo sự thay đổi lƣu
lƣợng cũng nhƣ nồng độ chất thải của các ngành công nghiệp. Trong nông nghiệp,
việc chăn nuôi gia súc quy mô lớn. Ngoài ra, các thức ăn thừa trong quá trình chăn
nuôi gia súc cũng là nguyên nhân gây lên ô nhiễm chất hữu cơ cho nguồn nƣớc dẫn
đến ô nhiễm ammoni trong nƣớc thải chăn nuôi. Chất thải của cá, tép, thức ăn sử
dụng cho chăn nuôi thủy sinh còn thừa, cây bị thối rữa… góp phần vào sự hình
thành ammoniac trong hồ thủy sinh.Trong công nghiệp, các ngành sản xuất phân

10


bón nhƣ tổng hợp phân ure, phân bón lá và các thuốc kích thích sinh trƣởng … đều
thải ra môi trƣờng lƣợng lớn chất ô nhiễm chứa nitơ, do các quá trình phân hủy sinh
học trong môi trƣờng nƣớc chúng tạo ra ammoni.
d. Các nguồn mặt ô nhiễm ammonia vào môi trường nước.
Các nguồn mặt ô nhiễm ammonia cho môi trƣờng nƣớc mặt không đơn giản
nhƣ là các nguồn điểm ô nhiễm. Các nguồn mặt bao gồm sự giải phóng các chất vô
cơ và hữu cơ không xác định chính xác ở một điểm. Chúng có thể biến đổi, không
liên tục, khuếch tán, theo các cách khác nhau theo đặc trƣng từng vùng.
Nó có thể là kết quả của quá trình chảy tràn của nƣớc mƣa qua các vùng ô

hơn của H2O, do đó khả năng tạo thành liên kết hiđro giữa các phân tử H2S yếu hơn
so với các phân tử nƣớc. Bởi vậy, ở điều kiện thƣờng đihiđro sunfua là một chất
khí, khí đihiđro sunfua không màu, có mùi trứng thối. Chỉ 0,1% khí đihiđro sunfua
trong không khí đã gây nhiễm độc nặng. Khi hít phải đihiđro sunfua có nồng độ cao
hơn, có thể bị ngất hoặc chết vì tắc thở.
Tích số ion của đihiđro sunfualà:
T = [H3S +]. [HS-]

= 3. 10 - 33

Trong khi đó tích số ion của H20 là : T = [H3O+]. [OH-] = 10 - 14
Đihiđro sunfua có hằng số điện môi bé. Do cực tính không lớn, khí
đihiđro sunfua ít tan trong nƣớc (một lít nƣớc ở 200C hoà tan 2, 67l khí H2S) nhƣng
tan nhiều trong dung môi hữu cơ (một lít rƣợu etylic ở 20oC hoà tan đƣợc gần 10 lít
khí H2S).
Dung dịch nƣớc của đihiđro sunfua là axít sunfuahiđric, một axít hai nấc
và rất yếu, yếu hơn axít cacbonic.
H2 S

+

H2 O

=

H2 S

+

H2 O

2SO2

+

2H2O

và thiếu oxi, nã giải phóng lƣu huỳnh tự do
2H2S

+

02

=

2S

+

2H20

Lợi dụng phản ứng này ngƣời ta thu hồi lƣu huỳnh từ khí đihiđro sunfua
có trong các khí thải của các nhà máy bằng cách trộn những khí thải không cần thiết
rồi cho đi qua chất xúc tác (boxit) sẽ lấy đƣợc lƣu huỳnh tự do.
Dung dịch nƣớc của đihiđro sunfua để trong không khí bị đục dần do bị oxi
hoá bởi oxi, giải phóng lƣu huỳnh.

12



khả năng sinh trƣỏng.
Xâm nhập vào cơ thể qua phổi, H2S bị oxy hoá => sunfat, các hợp chất có
độc tính thấp. Không tích lũy trong cơ thể. Khoảng 6% lƣợng khí hấp thụ sẽ
đƣợc thải ra ngoài qua khí thở ra, phần còn lại sau khi chuyển hóa đƣợc bài tiết
qua nƣớc tiểu.
Ở nồng độ thấp, H2S có kích thích lên mắt và đƣờng hô hấp.
Hít thở lƣợng lớn hỗn hợp khí H2S, mercaptan, ammoniac… gây thiếu oxy
đột ngột, có thể dẫn đến tử vong do ngạt.
Dấu hiệu nhiễm độc cấp tính: buồn nôn, rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy, mũi
họng khô và có mùi hôi, mắt có biểu hiện phù mi, viêm kết mạc nhãn cầu, tiết
dịch mủ và giảm thị lực.

13


Sunfua đƣợc tạo thành xâm nhập hệ tuần hoàn tác động đến các vùng cảm
giác - mạch, vùng sinh phản xạ của các thần kinh động mạch cảnh.
Thƣờng xuyên tiếp xúc với H2S ở nồng độ dƣới mức gây độc cấp tính có
thể gây nhiễm độc mãn tính. Các triệu chứng có thể là: suy nhƣợc, rối loạn hệ
thần kinh, hệ tiêu hóa, tính khí thất thƣờng, khó tập trung, mất ngủ, viêm phế
quản mãn tính…
1.1.2. Hiện trạng ô nhiễm amoni (NH4) và hydrosunphua (H2S) trong nước
1.1.2.1.

Hiện trạng ô nhiễm Amoni trong nước

Theo đánh giá của nhiều báo cáo và hội thảo khoa học thì trình trạng ô nhiễm
amoni trong nƣớc ngầm đã đƣợc phát hiện tại nhiều vùng trong cả nƣớc. Theo chi
cục bảo vệ môi trƣờng thành phố Hồ Chí Minh (TP Hồ Chí Minh), kết quả quan
trắc nƣớc ngầm tầng nông gần đây cho thấy lƣợng nƣớc ngầm ở khu vực ngoại

tồn tại chủ yếu ở hai dạng là NH4+ và NH3. Một cân bằng động luôn luôn tồn tại
giữa hai dạng này, cân bằng này chịu ảnh hƣởng của nhiều yếu tố trong đó quan
trọng nhất là pH và nhiệt độ của nƣớc, ngoài ra còn chịu ảnh hƣởng của các yếu tố
khác nhƣ hữu cơ, thành phần sinh vật, độ thoáng khí…
Trong đó, NH3 là yếu tố quan trọng bởi vì nó ảnh hƣởng đến tỉ lệ sống, khả
năng sinh trƣởng và phát triển của sinh vật. NH3 là một chất khí gây độc cho tôm cá
thƣờng ở vào khoảng 0,6 – 2 mg/l tùy loài và tùy vào giai đoạn phát triển. Tác dụng
gây độc của NH3 với cá là do khi hàm lƣợng của nó cao trong nƣớc, tôm cá khó bài
biết NH3 từ máu ra môi trƣờng. NH3 trong máu và mô làm tăng pH máu, dẫn đến
rối loạn các phản ứng của emzyme và độ bền màng tế bào. Do đó, NH3 cao trong
máu có thể dẫn đến thay đổi áp suất thẩm thấu của tế bào, tăng cƣờng tiêu hao oxy,
tổn thƣơng mang, giảm khả năng vận chuyển oxy của máu…
Khác với NH3, NH4+ là một ion không gây độc, cần thiết cho sự phát triển
của các sinh vật tự nhiên. Tuy nhiên, khi hàm lƣợng NH4+ quá cao sẽ khiến cho
thực vật phiêu sinh (tảo – đặc biệt là các nhóm tảo lục, tảo lam…) phát triển mạnh,
gây ra tình trạng thiếu oxy nhất là vào buổi sáng sớm, thay đổi pH mạnh trong ngày
(do ảnh hƣởng của khí cacbonic). Theo Boyd (1990), hàm lƣợng NH4+ thích hợp
cho ao nuôi thủy sản là 0,2 – 2 mg/l. Thấp hơn ngƣỡng này, ao thiếu dinh dƣỡng
hòa tan, cơ sở thức ăn tự nhiên nghèo nàn. Cao hơn ngƣỡng này có thể gây phú
dƣỡng và bùng nổ sự phát triển của tảo.
Tổng nồng độ của NH4+ và NH3 thƣờng đƣợc biết là TAN (Total Amonia
Nitrogen), bản chất độc tính của thông số này phụ thuộc vào trạng thái tồn tại của
chúng. Nhƣ phần trên đã trình bày giá trị NH3 cao sẽ gây độc cho tôm nuôi, trong

15


khi NH4+ lại là một chất không độc. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng độc tính của
thông số NH3 phụ thuộc chặt chẽ vào nhiệt độ, pH và độ mặn của môi trƣờng nuôi.
Bảng 1. Tỉ lệ phần trăm của NH3/TAN theo pH và nhiệt độ

Hình 1. Ảnh hƣởng của pH trên tỷ lệ tƣơng quan của H2S, HS- và S2H2S là một chất khí độc đối với thủy sinh vật, tác dụng của nó là liên kết với
sắt trong hemeglebine, làm mất khả năng vận chuyển oxy của máu, gây chết ngạt đối
với thủy sinh vật. Độ độc của H2S cũng tăng dần theo nhiệt độ và pH nhƣ phần trăm

17


của nó trong tổng gốc sunphít. Ngoài ra, H2S dù ở một lƣợng rất nhỏ trong thủy vực
nhất là vùng đáy cũng gây ra sự hạn chế phát triển đối với nhiều loại động vật đáy,
hạn chế thức ăn tự nhiên của thủy vực, tích lũy trong bùn gây mùi khó chịu vào
những ngày trời nắng, gây ra hiện tƣợng thiếu oxy nghiêm trọng ở các ao nƣớc tù.
Về yêu cầu chất lƣợng môi trƣờng của tôm sú, theo Boyd giá trị nồng độ H2S
< 0,002 mg/l là phù hợp nhất, từ 0,002 – 0,03 mg/l, chấp nhận đƣợc, lớn hơn 0,03
mg/l là không phù hợp.
Theo kỹ sƣ Trần Ngọc Hải Bình, trong nuôi tôm nƣớc lợ, do nuôi công
nghiệp mật độ cao từ 10-40 con/m2 đã khiến lƣợng chất thải của tôm vào môi
trƣờng nƣớc là rất lớn. Sau ba tháng nuôi lƣợng chất thải có thể nâng độ dày chất
đáy lên từ 15-25cm. Chất thải tích tụ lâu dƣới ao gặp thời tiết bất lợi sẽ tạo điều
kiện cho sinh vật yếm khí phát triển, vi khuẩn khử lƣu huỳnh gây nên khí độc hydro
sunfua.
1.1.3. Các biện pháp xử lý ô nhiễm amoni (NH4+) và hydrosunphua (H2S)
1.1.3.1.

Các biện pháp xử lý ô nhiễm amoni (NH4) trong nước

Trong vấn đề xử lý nƣớc ngầm, hiện nay có nhiều phƣơng pháp xử lý Amoni
trong nƣớc đã đƣợc ứng dụng nhƣ: Làm thoáng để khử NH3 ở môi trƣờng pH cao
(pH = 10 11); clo hóa với nồng độ cao hơn điểm đột biến, hấp thụ clo trong nƣớc,
tạo cloramin; Trao đổi ion NH4+ và NO3- bằng các vật liệu trao đổi cation/Anion,
nhƣ Klynoptilolyle hay Sepiolite; Nitrat hóa bằng phƣơng pháp sinh học; Nitrat hóa

mang lại hiệu quả nhanh, tuy nhiên nhƣợc điểm lớn nhất lại là làm tăng lƣợng vật
chất tích lũy dƣới đáy ao.
Các nƣớc Đông Nam Á, ngƣời ta sử dụng Formaline để loại bỏ Amoniac
trong các hồ nuôi tôm. Có những nghiên cứu cho rằng sử dụng Formaline với liều
lƣợng 5 – 10 mg/l có khả năng loại bỏ đƣợc 50% amoniac trong ao nuôi do tạo
thành hexamethylenetetramin và foramid. Tuy nhiên formaline độc đối với thủy
động vật, giết chết tảo, làm cạn kiệt Oxy trong nƣớc và để lại dƣ lƣợng trong sản
phẩm. Để có thể ứng dụng trong thực tiễn thì cần phải tiếp tục có những nghiên cứu
tỉ mỉ hơn.
Chiết xuất từ cây kim giao (Yucca schidigera) có chứa hợp chất glyco, chất
này có thể kết hợp với amoniac. Trong điều kiện phòng thí nghiệm ngƣời ta xác
định đƣợc là cứ 1g dịch chiết kim giao thƣơng phẩm sẽ làm giảm 0.1 – 0.2 g
amoniac. Khả năng kết hợp với dịch chiết của amoniac phụ thuộc vào pH của môi
trƣờng, vấn đề chƣa đƣợc khảo sát. Khảo sát thực tế cho thấy: sử dụng liều lƣợng

19


0.3 mg/l, chu kì 15 ngày thấy hàm lƣợng amoniac trong ao tôm thấp hơn so với ao
đối chứng và khả năng sống của tôm cao hơn. Tuy nhiên cần có những bằng chứng
cụ thể về lợi ích của phƣơng pháp trên trƣớc khi ứng dụng vào thực tế.
1.1.3.2.

Các biện pháp xử lý ô nhiễm hydrosunphua (H2S) trong nước

Phƣơng pháp xử lý H2S bằng cách ôxy hoá hấp phụ.
Nguyên lý: Phƣơng pháp này dựa vào thế oxi hoá khử của mét sè chất ôxi hoá
mạnh nhƣ : Hiđropeoxit(H202), clo(Cl2), mangan oxit(Mn02) có thể ôxi hoáđihiđro
sunfua thành lƣu huỳnh hoặc sunfat. Qúa trình này cũng bị ảnh hƣởng bởi môi
trƣờng. Ở vùng pH cao sẽ có xu hƣớng tạo thành sunfat, còn trong vùng pH thấp thì

Chế phẩm sinh học thƣờng đƣợc sử dụng trong ao với niềm tin sẽ làm giảm
nguy cơ độc tính của hydrogen sulfide. Vi khuẩn oxy hóa lƣu huỳnh có sẵn trong ao
nuôi và không biết chắc là các xử lý bằng men vi sinh có hiệu quả để loại bỏ
hydrogen sulfide. Zeolite đôi khi đƣợc cho là hấp thụ hydrogen sulfide, nhƣng tỷ lệ
xử lý cần thiết nhằm có hiệu quả sẽ là quá nhiều để có giá cả phải chăng.
1.2.

Tổng quan khoáng Laterit và Zeolite

1.2.1. Khoáng Zeolite
Zeolite là aluminosilicat tinh thể, không có màu sắc, trắng, độ cứng từ 3 - 6.
Trong thiên nhiên có khoảng 40 loại Zeolite tự nhiên đã đƣợc phát hiện. Song, các
ứng dụng quan trọng trong hấp phụ, tách lọc, xúc tác chủ yếu nhờ vào các zeolit
tổng hợp nhân tạo, do các Zeolite tự nhiên thƣờng có những điểm không tốt bằng
zeolite tổng hợp, các kênh lớn thƣờng bị tắc nghẽn do những khuyết tật về mặt cấu
trúc. Ngày nay, ngƣời ta đã tổng hợp đƣợc khoảng 200 loại Zeolite. Tuy nhiên, chỉ
một số ít trong đó có ứng dụng công nghiệp.
Đơn vị cơ bản của mọi Zeolite là tứ diện TO4 bao gồm 1 cation T đƣợc bao
quanh bởi 4 ion O2-. Nếu T là Si4+ thì tứ diện SiO4 trung hoà về điện tích, còn T là
các ion hoá trị 3+, thông thƣờng là Al3+ thì tứ diện AlO41- mang một điện tích
âm.Cấu trúc không gian ba chiều của Zeolite đƣợc hình thành bởi sự ghép nối các
tứ diện TO4 (T=Si, Al). Các tứ diện là các đơn vị cấu trúc sơ cấp sẽ liên kết với
nhau hình thành các đơn vị cấu trúc thứ cấp SBU . Đó là các vòng đơn gồm 4; 6; 8 ;
10 và 12 tứ diện hoặc hình thành các vòng kép 4 nhân 2 và 6 nhân 2 tứ diện….và
theo nguyên tắc Lowenstein xác định rằng cấu trúc Zeolit không thể tồn tại liên kết

21


Al-O-Al, mà chỉ tồn tại các liên kết –Si-O-Si- và –Si-O-Al-, (Nguyễn Hữu Phú,

chúng phải thay thế các cation kim loại có khả năng trao đổi Pb và Cd nhƣ Na, Ca

22


và một số ít là K. Sự khuếch tán nhanh hơn khi những ion di chuyển qua các lỗ và
chậm lại khi những ion di chuyển qua các kênh có đƣờng kính nhỏ hơn. Tuy nhiên
sự hấp phụ trên bề mặt khoáng là nguyên nhân quan trọng nhất giữ Pb và Cd ổn
định trên bề mặt khoáng. Điều này cũng mở ra hƣớng nghiên cứu sử dụng các
khoáng sét khác cũng có thể cho kết quả tốt, một số khoáng sét đƣợc đề nghị là
(bentonite, illite, monmorinolite, feldspar, calcite, quartz và halite). Sự tƣơng tác
giữa ion KLN trong đất và các ion trên bề mặt khoáng sẽ dẫn tới các KLN sẽ đƣợc
vận chuyển tới bề mặt các phần tử Zeolite, ở đó các hoạt động của kim loại sẽ bị
giới hạn và đƣợc ổn định.
Trịnh Quang Huy (2006), khi tiến hành nghiên cứu về việc xử lý nƣớc thải
chứa Pb2+ và Cd2+ từ các phòng thí nghiệm hóa học đã cho kết luận rằng: kết quả
nghiên cứu động thái hấp phụ của Pb2+ và Cd2+ trên các mẫu zeolite thí nghiệm cho
thấy Pb và Cd đƣợc gắn trên bề mặt khoáng nhờ các quá trình trao đổi ion khác
nhau. Khi diễn ra sự trao đổi ion một phân các ion Pb và Cd đƣợc vận chuyển tới
khe hở trên bề mặt khoáng zeolite, phần khác đƣợc trao đổi với các cation nhƣ Na+,
K+, Ca2+, Mg2+ nhờ cơ chế đổi chỗ. Sự khuếch tán diễn ra nhanh tại các khe hở trên
bề mặt khoáng zeolite, sau đó chậm dần. Các ion Pb2+ và Cd2+ đƣợc hấp phụ chủ
yếu nhờ các phản ứng trao đổi ion trong các lỗ hổng của bề mặt khoáng zeolite.
Việc sử dụng Zeolite tự nhiên và zeolite hoạt hóa cho thấy hiệu quả cao trong việc
loại bỏ các ion kim loại nặng trong nƣớc thải có nồng độ khoảng 2ppm. Hiệu quả
đối với Pb đạt hơn 95% và đối với Cd đạt hơn 99%.
Thực tế cho thấy các khu vực nuôi tôm thƣờng xử lý hiện tƣợng khí độc nền
đáy ao bằng khoáng Zeolit, vật liệu này đƣợc nhập khẩu từ Thái Lan hoặc đƣợc sản
xuất trong nƣớc. Do có hệ mao quản nhỏ với kích thƣớc ngang với kích thƣớc của
các phân tử nên chúng có khả năng tách chọn lọc một chất nào đó phụ thuộc vào

dụng nhiều trong xử lý kim loại nặng, asen và các anion độc hại khác trong nƣớc.
Laterit hiện đƣợc sử dụng rộng rãi trong các ứng dụng xử lý nƣớc ăn:
 Trạm nƣớc quy mô gia đình.
 Bình lọc nƣớc gia đình.
 Hệ thống cấp nƣớc công nghiệp.

24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status