LUẬN án TIẾN sĩ bộ đội BIÊN PHÒNG VIỆT NAM TRONG sự NGHIỆP bảo vệ CHỦ QUYỀN AN NINH BIÊN GIỚI QUỐC GIA HIỆN NAY - Pdf 40

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ quyền an ninh biên giới quốc gia và việc tổ chức lực lượng,
phương tiện bảo vệ CQANBG là mối quan tâm hàng đầu của bất cứ quốc
gia nào trên thế giới. Tính chất, nhiệm vụ và việc xây dựng tổ chức lực
lượng chuyên trách bảo vệ CQANBGQG phải luôn luôn phù hợp với tình
hình chính trị và đường lối đối nội, đối ngoại của mỗi quốc gia trong từng
giai đoạn lịch sử cụ thể.
Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến mới phức
tạp và chứa đựng những yếu tố không ổn định. Đất nước ta bước vào thời
kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bên cạnh những
thuận lợi cơ bản, cũng còn không ít những thách thức và nguy cơ mới: các
mâu thuẫn cơ bản của thời đại vẫn tồn tại và diễn biến phức tạp; các thế lực
thù địch vẫn luôn coi Việt Nam là một mục tiêu chống phá, hòng xóa bỏ
chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở nước ta.
Biên giới nước ta có vị trí chiến lược quan trọng cả về kinh tế, chính
trị, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Trên các tuyến biên giới đất liền và
vùng biển hiện đang trong xu thế hòa hoãn, hữu nghị, hợp tác nhưng vẫn
còn chịu nhiều sự tác động, xâm nhập, phá hoại của các loại đối tượng, các
lực lượng thù địch trong và ngoài nước. Lợi dụng đường lối đổi mới và
chính sách mở cửa của Đảng của Nhà nước ta, chủ nghĩa đế quốc cùng các
thế lực thù địch đẩy mạnh xâm nhập về kinh tế hòng làm chuyển hóa về
chính trị; lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo để tấn công vào nội bộ ta
phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định trên các tuyến biên giới.
Tình trạng tranh chấp chủ quyền biên giới đất liền, trên biển diễn
biến hết sức phức tạp. Do lịch sử để lại, việc giải quyết các mâu thuẫn tồn
tại trên biên giới đất liền, trên biển còn kéo dài, vừa hợp tác vừa đấu tranh
1




biển và đảo của nước ta còn đang bị nước ngoài xâm lấn, chiếm giữ. Thời
gian qua còn có những nhận thức chưa đầy đủ, đúng đắn về vai trò của
BĐBP trong sự nghiệp bảo vệ CQANBGQG.
Trong giai đoạn hiện nay và những năm tới, với đường lối đổi mới
mở rộng hợp tác và giao lưu quốc tế, vai trò của BĐBP trong sự nghiệp bảo
vệ CQANBGQG càng đặc biệt quan trọng. Vấn đề này cần được tìm hiểu,
nghiên cứu sâu sắc, toàn diện về vai trò, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức
xây dựng lực lượng BĐBP, sao cho phù hợp với những điều kiện mới của
đất nước, khu vực, thế giới và thời đại. Trên cơ sở đó xác định rõ và đúng
đắn vai trò của BĐBP trong sự nghiệp bảo vệ CQANBGQG để có chủ
trương, phương hướng chiến lược đúng xây dựng BĐBP vững mạnh đáp
ứng đòi hỏi của nhiệm vụ quản lý, bảo vệ CQANBGQG trong tình hình
mới. Vì thế, đề tài luận án này có ý nghĩa thiết thực cả về mặt lý luận lẫn
thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Sự nghiệp bảo vệ CQANBG là một nội dung quan trọng của công
cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở nước ta, vì thế, vấn đề này đã được
nhiều người nghiên cứu ở các góc độ khác nhau. Trong số đó, đáng chú ý là
một số công trình nghiên cứu: Nguyễn Văn Tấn: "Những luận cứ khoa học
của chiến lược bảo vệ vùng biên giới trong giai đoạn mới", (Đề tài KX 09-06,
Hà Nội, 1994); Đặng Vũ Liêm: "Xây dựng mô hình an ninh cộng đồng ở
biên giới lấy đồn biên phòng làm nòng cốt", (Đề tài cấp bộ - Bộ Nội vụ,
1994); Phạm Hữu Bồng: "Ổn định lâu dài biên giới quốc gia", (Đề tài
KX-XH. 07. 05, 1999); ...
Ngoài ra, còn một số công trình, bài viết đề cập ở những khía cạnh
khác nhau của đề tài như: Nguyễn Đức Châu - Nguyễn Tuấn Chung: "Ông
cha ta bảo vệ biên giới quốc gia ", (Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà
Nội, 1994); Bộ Tư lệnh BĐBP: "Lịch sử bộ đội Biên phòng tập I, II", (Nhà
3



5. Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
- Dưới góc độ chính trị - xã hội, luận án đã hệ thống hóa những vấn đề
lý luận và thực tiễn cơ bản liên quan đến lực lượng BĐBP và sự nghiệp bảo
vệ CQANBGQG.
- Trên cơ sở đó, luận án phân tích rõ phương hướng xây dựng BĐBP
Việt Nam trong tình hình mới và một hệ giải pháp cơ bản có tính khả thi
tác động để lực lượng này phát triển vững mạnh, toàn diện theo hướng cách
mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại đáp ứng được yêu cầu
bảo vệ vững chắc CQANBG nước ta hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Luận án cũng góp phần cung cấp một số luận cứ làm cơ sở khoa
học cho việc lãnh đạo và chỉ huy BĐBP trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ
CQANBG nước ta hiện nay.
- Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên
cứu về BĐBP và giảng dạy nghiệp vụ công tác biên phòng ở các cấp học
đại học, trung học thuộc hệ thống đào tạo của lực lượng BĐBP.
7. Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án
gồm 3 chương 6 tiết.

7


8


Chương 1
BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG - LỰC LƯỢNG NÒNG CỐT,

đất. Lãnh thổ quốc gia là một trong ba yếu tố cơ bản hợp thành quốc gia
(lãnh thổ, dân cư, nhà nước). Trong đó, lãnh thổ là điều kiện vật chất, là môi
trường sống, sinh tồn và phát triển của mỗi quốc gia. Bàn về vấn đề này,
nhà sử học Phan Huy Chú đã nhận xét rằng: "Của báu của một nước không
gì quí bằng đất đai, nhân dân, của cải từ đó mà ra" [14, 25]. Vì vậy, việc
bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ đã trở thành vấn đề sống còn của mỗi quốc gia,
dân tộc.
Lãnh thổ quốc gia là những bộ phận nhạy cảm nhất của quyền lợi
giai cấp, dân tộc; là một trong những đối tượng có thể bị xâm hại và cần
được chú trọng bảo vệ đầu tiên. Lãnh thổ quốc gia có mối liên hệ hữu cơ
với chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Bởi vì, một khi đã xác định một khu vực
nào đó là lãnh thổ của một quốc gia thì tất yếu sẽ dẫn tới sự cần thiết phải
xác định chủ quyền của quốc gia đó đối với lãnh thổ của mình.
Chủ quyền quốc gia là quyền làm chủ một cách độc lập, toàn vẹn và
đầy đủ về mọi mặt lập pháp, hành pháp và tư pháp của một quốc gia trong
phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó. Mỗi quốc gia đều thể hiện chủ quyền của
mình trên mọi phương diện kinh tế, chính trị, ngoại giao... Tất cả các nước,
không tính đến qui mô lãnh thổ, dân số, chế độ xã hội, đều có chủ quyền
quốc gia [72, 195]. Chủ quyền quốc gia là đặc trưng chính trị và pháp lý thiết
yếu của một quốc gia độc lập, được thể hiện trong hoạt động của các cơ
quan nhà nước và trong hệ thống pháp luật quốc gia. Tôn trọng chủ quyền
quốc gia là một nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. Hiến chương Liên
hợp quốc khẳng định nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia.
Không một quốc gia nào được can thiệp hoặc khống chế, xâm phạm chủ
quyền của một quốc gia độc lập. Trong những nội dung về chủ quyền quốc
gia thì chủ quyền về lãnh thổ là một nội dung có tầm quan trọng đặc biệt.
Chủ quyền lãnh thổ quốc gia là quyền tối cao và tuyệt đối của nhà nước
10



13


Trong lịch sử thế giới, sự ra đời và phát triển của biên giới quốc gia
gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của lãnh thổ quốc gia, là một
bộ phận hợp thành gắn bó với sự ra đời và phát triển của nhà nước. Khi các
quốc gia cổ đại đầu tiên ra đời, giữa các quốc gia còn có phần lãnh thổ vô
chủ, thường là những chướng ngại vật tự nhiên như núi rừng, sa mạc, sông
ngòi, v.v.. Phần lớn những phần được xem như vô chủ đó được gọi là miền
biên thùy hay miền biên giới. Hình thức sơ khai của biên giới quốc gia là
biên giới vùng. Khi nghiên cứu về vấn đề này, V.I.Lênin đã viết: "Hồi đó,
núi, sông, biển là những trở ngại lớn hơn bây giờ nhiều, và nhà nước cũng
hình thành trong những biên giới địa lý nhỏ hẹp hơn nhiều. Bộ máy nhà
nước, rất kém về mặt kỹ thuật, lúc đó phục vụ cho một quốc gia có biên
giới tương đối nhỏ hẹp và có phạm vi hoạt động hạn chế" [38, 85].
Cùng với việc hình thành nhà nước phong kiến, các quốc gia không
ngừng củng cố và mở rộng lãnh thổ của mình, lãnh thổ vô chủ bị hẹp lại,
lãnh thổ các quốc gia ngày càng xích lại gần nhau, biên giới vùng chuyển
sang hình thức biên giới đường.
Các đường biên giới đầu tiên thường nằm trùng với ranh giới các
công xã, làng mạc, thành phố, con suối, vách đá,... Đó là mốc chủ yếu để
phân chia lãnh thổ trên mặt đất, cùng với sự phát triển của lãnh thổ quốc
gia ra biển, lên không trung và xuống sâu lòng đất, biên giới đường đã dần
dần chuyển sang hình thức biên giới mặt.
Trong xã hội có giai cấp đối kháng, đấu tranh giai cấp không chỉ diễn
ra trong nội bộ quốc gia mà đôi khi còn diễn ra ở ngoài quốc gia. Mỗi nhà
nước có chính sách đối nội, đối ngoại để thu hút những nguồn lợi chính của
giai cấp thống trị. Do đó, từ xưa đến nay, vấn đề lãnh thổ, biên giới quốc
gia thường là ngòi nổ gây ra các cuộc xung đột vũ trang, chiến tranh xâm
lược nhằm tranh giành, chiếm đoạt lãnh thổ của nhau. Khi cần thiết, mọi

Lý thuyết thứ ba, thường kích động tinh thần chủng tộc, sắc tộc, lợi
dụng các mối quan hệ "cùng tiếng nói, dòng máu, màu da" để xác định lại

15


biên giới quốc gia hiện có, đòi lập nên các biên giới quốc gia theo chủng
tộc, nhằm thôn tính lãnh thổ các quốc gia khác.
Lý thuyết thứ tư, thường nêu cao lý do "vì lợi ích lâu dài của quốc
phòng". Thực chất, đó là loại lý thuyết của chủ nghĩa đế quốc, bành trướng,
dựa trên sức mạnh quân sự để quyết định biên giới quốc gia, nhằm tìm cho
quốc gia mình một biên giới vượt ra ngoài biên giới hiện có.
Lý thuyết thứ năm, thường lấy sức mạnh kinh tế, văn hóa, ngoại
giao, sinh thái để xác định biên giới quốc gia. Đây là một hình thức bành
trướng biên giới của một số quốc gia nhằm mở rộng không gian sinh tồn,
là"biên giới mềm", tức biến đối phương thành thuộc địa kinh tế, thuộc địa
thông tin, thuộc địa sinh thái, thuộc địa văn hóa của mình.
Những lý thuyết nêu trên, dù màu sắc khác nhau, đã được nảy sinh
trong từng thời kỳ lịch sử nhất định, nhưng đều phục vụ đắc lực cho lợi ích
ích kỷ của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, dân tộc sô-vanh nhằm mê hoặc quần
chúng nhân dân để xâm chiếm lãnh thổ của các quốc gia khác. Trong hoàn
cảnh không thể lợi dụng được các chiêu bài trên, thì giai cấp thống trị ở
một số nước ngang nhiên phát động chiến tranh xâm lược, xâm chiếm lãnh
thổ các nước khác. Thực tế đó đã đặt ra yêu cầu đối với mọi quốc gia có
chủ quyền là cùng với việc phê phán, đấu tranh với các loại lý thuyết phản
động, phản khoa học về biên giới, đồng thời phải tổ chức tiến hành cuộc
chiến tranh chống xâm lược, chống xâm chiếm lãnh thổ và thường xuyên
hoạt động bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và an ninh biên giới của mình.
An ninh biên giới quốc gia là trạng thái ổn định của tình hình chính
trị - xã hội ở khu vực biên giới.

loạt chủ trương xây dựng toàn diện các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã
hội ở khu vực biên giới, từng bước ổn định và phát triển. Đồng thời, đó
cũng là quá trình chống lại tất cả các trào lưu, những quan điểm tư tưởng,
những hành động làm mất ổn định, trái với đường lối của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước ở khu vực này. Bảo vệ CQANBGQG là một công
tác vừa có tính chất đối nội, vừa có tính chất đối ngoại. Đó là nhiệm vụ của
toàn Đảng, toàn dân, trong đó, BĐBP là lực lượng chuyên trách và nòng
cốt. Việc bảo vệ CQANBGQG phải tuân thủ các điều ước quốc tế, pháp
luật của Nhà nước, qui chế khu vực biên giới của Chính phủ và hệ thống

17


điều lệnh, điều lệ qui định.
Sự nghiệp bảo vệ CQANBG trở thành một nội dung quan trọng trong
tiến trình bảo vệ Tổ quốc, nhiều khi được coi là đồng nghĩa với công cuộc
bảo vệ Tổ quốc XHCN [43, 16].
1.1.2. Những bài học kinh nghiệm về sự nghiệp bảo vệ chủ quyền
an ninh biên giới ở nước ta trong lịch sử
Việt Nam là một trong những nước nằm trên bán đảo Đông Dương,
thuộc Đông - Nam châu Á, có vị trí chiến lược quan trọng cả về địa lý, kinh
tế, chính trị, quân sự, văn hóa. Từ xưa đến nay, Việt Nam luôn là một mục
tiêu, là đối tượng nhòm ngó của các thế lực xâm lược, bành trướng. Do
vậy, một đặc điểm nổi bật có tính qui luật trong lịch sử phát triển của dân
tộc Việt Nam là, dựng nước đi đôi với giữ nước. Trong quá trình dựng
nước và giữ nước đó, ông cha ta luôn coi biên giới là "phên dậu" trọng yếu
của đất nước, nên đã không tiếc tiền của và sức lực, mồ hôi và xương máu
để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Qua đó, ông cha ta cũng đã để lại
nhiều bài học quí báu cho chúng ta kế thừa, vận dụng vào sự nghiệp bảo vệ
CQANBGQG ngày nay. Có thể rút ra những bài học cơ bản sau đây:

21].
Năm 248, cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu (Triệu Thị Trinh) đã tiến
hành bền bỉ trong gần ba năm. Nghĩa quân đã đánh đuổi quân giặc và làm
chủ nhiều vùng rộng lớn. Nữ tướng Triệu Thị Trinh khẳng định ý chí độc
lập dân tộc với việc giành lại toàn vẹn đất nước: "Tôi muốn cưỡi cơn gió
mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá Kình ở biển khơi, đánh đuổi quân Ngô,
giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ" [46, 84].
Thời nhà Lý (thế kỷ XI), ý chí bảo vệ độc lập của dân tộc được
khẳng định rõ tính chất tối cao, tuyệt đối bất khả xâm phạm về chủ quyền
lãnh thổ biên giới quốc gia. Trong khí thế vươn lên của cả dân tộc để chiến
đấu và chiến thắng kẻ xâm lược, Lý Thường Kiệt đã viết lên bài thơ "thần"

19


bất hủ - "Nam quốc sơn hà":
"Nam quốc sơn hà Nam đế cư.
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm.
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư" [46, 181].
Bài thơ ngắn gọn, nhưng đã nói lên khí phách, tư thế và quyết tâm
của dân tộc ta, tuyên bố khẳng định chủ quyền độc lập thiêng liêng và
quyền bình đẳng của dân tộc, cảnh cáo nghiêm khắc kẻ ngoại xâm. Bài thơ
đã được ghi vào lịch sử như bản "tuyên ngôn độc lập" đầu tiên của dân tộc
ta sau hơn một nghìn năm bị phong kiến phương Bắc đô hộ.
Thời Lê (thế kỷ XV), ngay sau khi đất nước giải phóng khỏi ách đô
hộ của nhà Minh, chế độ phong kiến ở nước ta phát triển đến giai đoạn cực
thịnh, đất nước hùng cường, công cuộc biên phòng vẫn chiếm một vị trí
quan trọng trong quốc sách xây dựng và bảo vệ đất nước. Nguyễn Trãi viết
"Bình Ngô đại cáo", một lần nữa khẳng định lại những giá trị tư tưởng

lớn. Và ngược lại, để mất đất hoặc mất dân vì hám lợi riêng bị coi là trọng
tội. Lý Nhân Tông, trong tờ biểu gửi cho vua Tống đòi thu hồi đất đai bị
lấn chiếm đã nêu ra một nguyên tắc bất di bất dịch: Mặc dù đất ấy chỉ nhỏ
hơn hòn đạn nhưng vẫn khiến lòng tôi đau xót, luôn nghĩ đến cả trong giấc
mộng. Vua Lê Thánh Tông, trong lời dụ bảo Lục khoa Lê Cảnh Huy trước
khi đi sứ sang nhà Minh để giải quyết biên sự vào cuối năm 1471, có viết:
"Một thước núi, một tấc sông của ta lẽ nào tùy tiện vứt bỏ đi được? Phải
kiên quyết để tranh luận, không để cho họ lấn dần. Nếu họ không theo, còn
có thể sai sứ sang tận triều đình của họ biện bạch rõ lẽ phải trái. Nếu kẻ nào
đem một thước núi, một tấc đất đai của Thái Tổ làm mồi cho giặc, tội phải
chu di" [14, 180].

21


Tiếc thay, một số tập đoàn phong kiến vì quyền lợi ích kỷ của dòng
họ, đã đang tâm cắt một phần đất cho nước ngoài (như Mạc Đăng Dung dâng
biểu nộp cho nhà Minh một vùng đất biên cương rộng lớn...). Đây cũng là bài
học lịch sử - bài học phản diện, cho thấy việc giữ gìn toàn vẹn biên cương
phải gắn liền với sự ổn định chính trị quốc gia và thống nhất đất nước.
Hai là, nhiệm vụ bảo vệ biên giới là nhiệm vụ chung của cả dân tộc,
là công việc của Triều đình, của từng người dân, công cuộc biên phòng
phải dựa vào sức mạnh toàn diện của đất nước.
Lịch sử phát triển của dân tộc cũng như lịch sử giữ gìn biên cương
đất nước đã ghi nhận vai trò to lớn của nhân dân cả nước. Đó chính là sức
mạnh to lớn của yếu tố con người trong sự nghiệp bảo vệ biên giới quốc
gia, nói riêng và phát triển dân tộc, nói chung. Điều mà ông cha ta đã từng
đúc kết: "Dân cường, nước thịnh". Trước khi lâm chung, Trần Quốc Tuấn
khuyên vua Trần Anh Tông: "Phải khoan thứ sức dân để làm kế bền gốc,
sâu rễ, đó là thượng sách giữ nước" [46, 25]. Đầu thế kỷ thứ XV, Lê Lợi và

tộc, trong đó có những chính sách tiến bộ, nhằm phát huy nguồn lực con
người vào công cuộc biên phòng của dân tộc: dùng quan tước, bổng lộc, hôn
nhân; nuôi dạy con cái của các tù trưởng để kết thân thủ lĩnh địa phương
miền núi biên giới, vốn là nòng cốt trong nhân dân các dân tộc ở vùng biên,
v.v..
Việc dùng hôn nhân để ràng buộc các biên thần là một nét đặc trưng
trong chính sách dân tộc dưới thời phong kiến ở nước ta. Điển hình là thời
Lý, theo sử sách để lại, có đến chín lần gả các công chúa cho những tù
trưởng vùng biên giới. Như vậy, công cuộc biên phòng đất nước đã vượt
lên khỏi ranh giới của sự kỳ thị dân tộc, dòng họ. Biện pháp này tạo ra một
tầng lớp "ngoại thích" ở biên cương, là cơ sở đáng tin cậy nhất cho việc bảo
vệ biên giới quốc gia.
Nhiều tù trưởng được Triều đình phong cho tước trọng, ban cho

23


quyền cao đã hết lòng tổ chức nhân dân giúp Nhà nước trung ương bảo vệ
lãnh thổ biên giới. Thời Lý, vua phong cho Lưu Kỷ làm quan Sát sứ ở vùng
Quảng Nguyên; người họ Nùng ở Cao Bằng được phong chức Thái Bảo
(chức dành cho quan Đại thần), v.v.. Thời Lê Sơ, một số tù trưởng ở Mộc
Châu được hưởng đặc ân của vua Lê Thái Tổ là được mang họ vua. Hình
thức này gọi là "ban quốc tính", thể hiện sự tin cậy, tạo động lực và lòng
trung thành cho các tù trưởng nơi biên cương.
Các Triều đình phong kiến Việt Nam, nhất là trong giai đoạn tiến
bộ, đã có sự quan tâm nhất định đến đời sống của nhân dân, trong đó có
đồng bào các dân tộc thiểu số. Vào những thời điểm khó khăn đã giải quyết
những vấn đề có tính chất chính sách xã hội đối với nhân dân. Thông qua
họ, các triều đình đã nắm được dân, được đất, thắt chặt hơn mối quan hệ
thân tộc, đồng thời mở rộng phạm vi ảnh hưởng của triều đình tới miền

phải kể đến vai trò to lớn của các nhà vua thuộc các triều đại phong kiến.
Nhà vua nắm trong tay quyền lập pháp, hành pháp, có quyền lực tối cao.
Trong lịch sử bảo vệ biên giới quốc gia, thời kỳ nào các vị vua quan tâm
đến quyền lợi dân tộc, chú ý phát triển đất nước về mọi mặt, thường xuyên
chăm lo bảo vệ biên giới thì thời kỳ đó biên phòng mạnh, hoạt động bảo vệ
CQANBG có hiệu quả. Thời kỳ nào vua chúa xem nhẹ quyền lợi dân tộc,
sao nhãng việc biên phòng thì thời kỳ đó chủ quyền lãnh thổ quốc gia bị
xâm phạm, nhân dân biên giới, ven biển bị cướp bóc, quấy phá. Nhiều vị
vua, không những chỉ đạo giải quyết từng biên sự cụ thể, mà còn trực tiếp
đi kinh lý khảo sát biên giới, trực tiếp cầm quân đánh giặc bảo vệ biên giới
nước nhà.
Công việc biên phòng là mối quan tâm thường xuyên, là nhiệm vụ
cực kỳ quan trọng trong công cuộc dựng nước và giữ nước của nhiều vị vua
nước ta. Vua Lê Hoàn được nhà sử học Phan Huy Chú gọi là " ông vua cẩn
thận về biên phòng" [14, 159]. Vua Lý Anh Tông đã thân chinh đi xem xét
kỹ càng biên giới và soạn ra sách "Nam - Bắc phân giới địa đồ". Sách này

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status