SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ HÀ NỘI
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ ĐÔNG
***
TRƯỜNG THPT CHUYÊN NGUYỄN HUỆ
Địa chỉ: 560B Quang Trung-Hà Đông-Hà Nội
SĐT: 0433.829.018
BÀI DỰ THI
VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN
ĐỂ GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG THỰC TẾ
DÀNH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC
TỔ GDCD + SỬ
Chi đoàn: 11 Sử
Nhóm học sinh thực hiện:
1. Lê Minh Hằng
Ngày sinh 20/6/1998
2. Lê Mỹ Linh
Ngày sinh 17/12/1997
Hà Đông, 2014
1
BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO CỦA
TỔ QUỐC VIỆT NAM
LỜI MỞ ĐẦU
Nằm bên bờ Thái Bình Dương lộng gió, tựa vững chắc vào bán đảo Đông Dương,
hướng thẳng ra biển Đông, trong suốt chiều dài lịch sử biển, đảo luôn là một phần “máu của
máu Việt Nam, thịt của thịt Việt Nam”. Từ ngàn xưa, biển đảo đã gắn liền với đời sống và
Việt Nam là quốc gia ven Biển Đông có chiều dài bờ biển khoảng 3260km, trải qua 16
vĩ độ (giữa vĩ tuyến 7 độ Bắc và vĩ tuyến 23 độ Bắc). Biển Đông có vai trò đặc biệt quan
trọng cả về kinh tế - xã hội, chính trị, an ninh, quốc phòng,…đối với Việt Nam.
Theo quy định của Công ước Luật Biển năm 1982 mà Việt Nam là thành viên, Việt
Nam có quyền mở rộng các vùng biển (vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa) thuộc quyền
tài phán của mình phù hợp với luật pháp quốc tế. Thực tế Việt Nam có thực hiện quyền này
bằng các Tuyên bố pháp lý chính thức và bằng việc ban hành Luật Biển Việt Nam năm 2012.
Các văn bản pháp lý này tạo điều kiện để Việt Nam nâng cao vị thế của mình trong khu vực,
phát triển kinh tế biển, giao thông vận tải biển, du lịch biển, khai thác tài nguyên biển,…Hầu
hết các tuyến đường hàng hải quốc tế đi qua Biển Đông đều đi qua các vùng biển thuộc quyền
tài phán của Việt Nam là điều kiện để Việt Nam phát triển dịch vụ cảng biển, hàng hải và tìm
kiếm cứu nạn.
3
Tuy nhiên, cũng chính từ các quy định tiến bộ của Luật biển quốc tế hiện đại với những
khái niệm mới về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa đó làm xuất hiện nhiều vùng biển
chồng lấn cần phải tiến hành phân định. Các quốc gia trước kia không có chung đường biên
giới nay lại trở thành các nước láng giềng trên biển. Những quy định mới này cũng khiến Việt
Nam đứng trước nhiều thách thức: Vấn đề chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa giữa Việt Nam
và Trung Quốc, vấn đề chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa, vấn đề phân định ranh giới
các vùng biển theo Công ước Luật Biển năm 1982 và vấn đề xác định ranh giới ngoài thềm
lục địa.
Ngoài các thỏa thuận phân định biển quan trọng mà Việt Nam đó ký kết với các quốc
gia (bao gồm: Hiệp định giữa Việt Nam và Thái Lan về phân định ranh giới trên biển giữa hai
nước trong Vịnh Thái Lan ngày 9/8/1997; Hiệp định giữa Việt Nam và Trung Quốc về phân
định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong Vịnh Bắc Bộ ngày
25/12/2000; Hiệp định giữa Việt Nam và Indonesia về phân định ranh giới thềm lục địa ngày
26/6/2003), Việt Nam cũng phải giải quyết rất nhiều các tranh chấp phức tạp trên biển, không
- Khu vực Đông Bắc Hoàng Sa
Vùng biển Việt Nam phía Đông Bắc quần đảo Hoàng Sa nằm ở khoảng vĩ tuyến 18 độ
Bắc xuống vĩ tuyến 17 độ Bắc, nằm ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, thực chất là sự tiếp nối của khu
vực ngoài cửa Vịnh. Vùng biển này liên quan đến 2 nước là Việt Nam và Trung Quốc, và một
bên là Đài Loan. Tuy nhiên vì có liên quan đến chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa
nên việc phân định cần phải được khảo sát kỹ. Vì thế, trước khi tiến hành phân định vùng biển
ở khu vực này, cần phải tiến hành giới hạn phạm vi phân định để không ảnh hưởng tới vùng
nước thuộc các đảo nằm trong quần đảo Hoàng Sa.
- Khu vực giữa quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Vùng biển giữa đảo Hoàng Sa và Trường Sa là khu vực kéo dài trong khoảng vĩ tuyến
16 độ Bắc xuống vĩ tuyến 12 độ Bắc. Các nước có bờ biển bao quanh khu vực này gồm Việt
Nam, Trung Quốc và Philippines đều đó đưa ra các quy định để mở rộng các vùng biển thuộc
chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia mình. Qua việc nghiên cứu, xem xét các yêu sách
của các quốc gia bao quanh có thể thấy toàn bộ vùng biển này đó bị bao phủ bởi đường “chín
đoạn” của Trung Quốc. Tuy nhiên, yêu sách quá đáng này của Trung Quốc không có đầy đủ
cơ sở pháp lý, không được cộng đồng quốc tế thừa nhận và không đáp ứng được các tiêu
5
chuẩn của luật pháp quốc tế nên không thể tồn tại vùng chồng lấn giữa đường yêu sách này
với quyền được hưởng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo quy định của Công ước
Luật Biển năm 1982 của các quốc gia khác. Vì vậy, tại vùng biển này sẽ tồn tại một khu vực
nằm ngoài 200 hải lý tính từ đường cơ sở của Việt Nam, Trung Quốc và Philippines.
Theo các số liệu khoa học địa chất mà Việt Nam đó khảo sát nghiên cứu, lục địa của
Việt Nam tại khu vực này mở rộng ra quá 200 hải lý, vì vậy, theo quy định của Công ước
Luật Biển năm 1982 Việt Nam có quyền mở rộng ranh giới ngoài thềm lục địa của mình ra
ngoài 200 hải lý. Việc mở rộng ranh giới ngoài thềm lục địa của Việt Nam sẽ làm xuất hiện ba
khả năng: (1) Xuất hiện vùng chồng lấn thềm lục địa ba bên Việt Nam, Trung Quốc,
nguồn tài nguyên này.
1.2. Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vốn thuộc chủ quyền của Việt Nam với đầy đủ các
căn cứ pháp lý và ý nghĩa lịch sử lâu đời, có vị trí chiến lược quan trọng cả về chính trị, kinh
tế và quốc phòng. Song, Việt Nam đang phải đối mặt với những tranh chấp rất phức tạp về
chủ quyền đối với các quần đảo này từ các quốc gia khác xung quanh Biển Đông.
Quần đảo Hoàng Sa bị Trung Quốc chiếm đóng hoàn toàn và tuyên bố chủ quyền đó xâm
phạm nghiêm trọng đến chủ quyền của Việt Nam. Quần đảo Trường Sa bị tranh chấp chủ
quyền và chiếm đóng của Đài Loan, Philippines, Malaysia, Brunei. Riêng chỉ có Brunei đưa
ra yêu sách chủ quyền đối với một số đảo nhưng không chiếm đóng. Những tranh chấp này là
hết sức phức tạp được cộng đồng quốc tế quan tâm, hiện nay chế độ pháp lý của hai quần đảo
chưa được xác định từ bà Monique Chemiller Gendreau, giáo sư công pháp và khoa học chính
trị người Pháp, trong lời nói đầu của tác phẩm “Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa”, công trình nghiên cứu khoa học một cách độc lập được công bố năm 1996, đó
bình luận rằng: “Ứng cử viên nghiêm chỉnh nhất giành danh nghĩa trên các đảo này về cả căn
cứ lịch sử cổ xưa nhất của họ lẫn cơ chế pháp lý về kế thừa các quyền đó được thực dân Pháp
khẳng định đúng là Việt Nam và chiếm đóng thô bạo nhất đối với quần đảo Hoàng Sa và quần
7
đảo Trường Sa là sự chiếm đóng của Trung Quốc”. Chính phủ Việt Nam khẳng định có đầy
đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền và quyền hợp pháp của mình
đối với hai quần đảo. Việt Nam là nhà nước đầu tiên đó chiếm hữu thực sự và làm chủ hai
quần đảo này từ thế kỷ XVII, từ đó đó liên tục thực hiện chủ quyền đối với hai quần đảo một
cách hòa bình. Trong nhiều Tuyên bố và các đạo luật, Việt Nam luôn thể hiện quan điểm giải
quyết các bất đồng trên biển thông qua thương lượng, sử dụng các công cụ luật pháp quốc tế,
đồng thời, Việt Nam đó và đang có những hoạt động đối ngoại và những nhượng bộ nhất định
để nhất quán quan điểm này. Đây là quan điểm phù hợp với xu thế chung trong khu vực, phù
những năm gần đây không bắt nguồn từ mâu thuẫn hay tồn tại tranh chấp về chủ quyền lãnh
hải do lịch sử để lại và quyền tài phán đối với các vùng đặc quyền kinh tế, vùng chồng lấn ở
biển của nhiều quốc gia đòi yêu sách, mà cũng xuất phát từ sự đan xen lợi ích, mưu cầu địa
chính trị, trước hết là quản lý, kiểm soát tuyến hàng hải, hàng không chiến lược và nguồn tài
nguyên giàu có, đặc biệt là dầu mỏ tại khu vực này, từ đó mở rộng ảnh hưởng ra toàn khu vực
châu Á-Tây Thái Bình Dương.
Bắt nguồn từ xung đột lợi ích của các nước liên quan đến chủ quyền lãnh thổ, an ninh
quốc gia, quyền tài phán và khai thác tài nguyên thiên nhiên, mà cũng từ tham vọng chiến
lược, kiểm soát cộng địa chính trị tại Đông Nam Á. Trong bối cảnh Trung Quốc, một nước
lớn đang trỗi dậy mạnh mẽ và ngày càng quyết đoán trong việc đòi chủ quyền và một nước
Mỹ đang suy yếu tương đối, muốn duy trì vai trò chủ đạo tại khu vực này, thì vấn đề tranh
chấp biển Đông lại càng trở nên phức tạp, có nguy cơ thổi bùng xung đột địa chính trị. Kinh
nghiệm lịch sử cho thấy, các cuộc chiến tranh nổ ra ở các điểm nhạy cảm chiến lược trên thế
giới như chiến tranh Triều Tiên 1950-1953, chiến tranh ở Việt Nam trước 1975, chiến tranh ở
Kosovo, ở Bắc Kavkaz và gần đây là chiến tranh ở Afganistan, Irắc, Libi v.v. đều có mang
yếu tố của cạnh tranh quyền lực, một phần bắt nguồn từ xung đột địa chính trị giữa các nước
lớn. Lần nữa, xung đột gia tăng ở biển Đông là lời cảnh tỉnh đối với cộng đồng quốc tế yêu
hòa bình, trước hết là đối với các nước ven biển Đông như Việt Nam.
III. Giải pháp giải quyết vấn đề
- Giáo dục công dân:
+ Mỗi người công nhân, thanh niên phải bình tĩnh, sáng suốt, văn minh vì chủ quyền
thiêng liêng của Tổ quốc.
+ Không nghe theo, làm theo sự lôi kéo, xúi giục của kẻ xấu; không hành động bạo lực,
đập phá tài sản, “hôi của” vì sự ổn định, an toàn nơi sinh sống, làm việc trong doanh nghiệp,
nhà máy của chính mình.
+ Tích cực tham gia bảo vệ nơi làm việc của mình. Không làm phương hại đến đất
nước, đến cộng đồng và “bát cơm” của chính sức lao động mình làm ra.
+ Mỗi người dân chúng ta bằng tình cảm của mình, tích cực tham gia và vận động
người thân, gia đình và các tổ chức xã hội trên địa bàn đúng góp ủng hộ Quỹ “Vì biển đảo
+ Cần tăng cường sức mạnh quân sự theo hướng tự vệ, đủ sức “ răn đe”, can thiệp khi
đụng độ và hỗ trợ cho mặt trận chính trị, ngoại giao; đủ mạnh để làm nòng cốt cho cuộc đấu
tranh bao vệ chủ quyền và lợi ích của đất nước. Đồng thời, cần ưu tiên đầu tư tăng cường
nhân lực, hiện đại hóa các phương tiện, binh khí kỹ thuật, nâng cao năng lực cho lực lượng
thực hiện chấp pháp (cảnh sát biển, quân ngư, kiểm ngư …) của Việt Nam . Lực lượng này
phải có đủ khả năng phát hiện, ngăn chặn từ xa những tàu, thuyền xâm phạm chủ quyền, có
hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam và công ước quốc tế; can thiệp kịp thời bắt giữ những
tàu, thuyền, cố tình gây hấn – lập hồ sơ khởi tố
+ Động viên các nguồn lực xã hội tham gia lập quỹ “ An ninh Biển Đông” nhằm hỗ trợ
ngư dân có đủ điều kiện ra khơi bám biển dài ngày, có ngư cụ hành nghề hiệu quả, có phương
tiện tác nghiệp tại chỗ, ghi lại đầy đủ những hình ảnh tàu Trung Quốc xâm phạm chủ quyền
Việt Nam, uy hiếp xua đuổi ngư dân đánh cá; ngăn cản, phá hoại tàu Việt Nam đang thăm dò
khai thác dầu trong thềm lục địa của mình; đe dọa các nhà đầu tư vào Việt Nam. Lấy hình ảnh
làm bằng chứng lập hồ sơ tố cáo hành động gây hấn của Trung Quốc với công luận quốc tế
- Công nghệ – Tin học
+ Trang bị vũ khí thiết yếu sẵn sàng trực chiến
+ Đảng và Nhà nước Việt Nam cần đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền trên các
phương tiện thông tin đại chúng đảm bảo cho đồng bào ở trong nước cũng như kiều bào ở
nước ngoài hiểu được chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Thông tin kịp thời, chính xác, cụ thể
về âm mưu và hành động của Trung Quốc trong chiến lược hiện thực hóa “ đường lưỡi bò” ở
Biển Đông. Thông qua các kênh thông tin bằng tiếng nước ngoài và bằng con đường ngoại
10
giao, chúng ta cần chuyển đến chính phủ và nhân dân các nước, các tổ chức quốc tế và khu
vực, kể cả Liên hiệp quốc những thông tin sớm nhất và chính xác nhất để bạn bề quốc tế và
nhân dân các nước hiểu đúng tình hình Biển Đông mà chia sẻ và ủng hộ Việt Nam.
IV. Ý nghĩa
Việc kết hợp kiến thức liên môn để giải quyết vấn đề chủ quyền biển đảo Việt Nam đó