DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Ban Chấp hành Trung ương
Bảo vệ Tổ quốc
Chủ nghĩa đế quốc
Chủ nghĩa xã hội
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Nhà xuất bản Quân đội nhân dân
Quân đội nhân dân Việt Nam
Sức mạnh dân tộc
Sức mạnh thời đại
Trang
Xã hội chủ nghĩa
Chữ viết tắt
BCHTW
BVTQ
CNĐQ
CNXH
CNH, HĐH
Nxb CTQG
Nxb, QĐND
QĐNDVN
SMDT
SMTĐ
Tr
XHCN
MỤC LỤC
Nhận xét quá trình Đảng lãnh đạo kết hợp sức mạnh
34
50
1.3.
dân tộc với sức mạnh thời đại trong sự nghiệp bảo vệ
2.2.
Tổ quốc (1996 - 2006)
Kinh nghiệm từ quá trình Đảng lãnh đạo kết hợp sức
50
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong sự nghiệp
bảo vệ Tổ quốc (1996 - 2006)
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
60
80
82
88
2
MỞ ĐẦU
3
Với lý do trên tác giả chọn đề tài “Đảng lãnh đạo kết hợp sức mạnh
dân tộc với sức mạnh thời đại trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc từ năm 1996
đến năm 2006” làm đề tài luận văn Thạc sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử
Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Nhóm các công trình nghiên cứu về vị trí, vai trò của SMDT, SMTĐ
và mối quan hệ giữa SMDT với SMTĐ:
Nguyễn Tuấn Dũng (1997), “Góp phần nhận thức bài học kết hợp sức
mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện hiện nay”, Tạp
chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự, số 2/1997. Viện Nghiên cứu chủ nghĩa
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh (1998), Tư tưởng Hồ chí Minh về kết
hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Lê Mậu Hãn (2001), Sức mạnh
dân tộc của cách mạng Việt Nam dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb
CTQG, Hà Nội. Lê Văn Quang, “Thời cơ, nguy cơ và việc phát huy sức mạnh
thời đại trong bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Giáo dục lý luận
chính trị quân sự, số 4/2004. Ngô Đăng Tri, “Sự kết hợp sức mạnh dân tộc
với sức mạnh thời đại trong cách mạng tháng Tám và ý nghĩa thực tiễn của
nó”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 9/2005. Trịnh Văn Tuấn (2006), Đảng
Cộng sản Việt Nam kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1965 - 1973), Luận văn thạc sĩ chuyên
ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Quân sự.
Nguyễn Dy Niên (2006), Phát huy cao độ nội lực, ra sức khai thác ngoại lực
kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại tạo sức mạnh tổng hợp để
phát triển đất nước, Tham luận tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb
CTQG, Hà Nội. Nguyễn Văn Sáu (2007), Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
phát huy nội lực trong xây dựng, phát triển nền kinh tế độc lập tự chủ từ năm
1996 đến năm 2006, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản
và thực tiễn, Nxb QĐND, Hà Nội (2003). Tô Xuân Sinh (2004), “Tăng cường
việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong sự nghiệp bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay”, Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị
quân sự, số 3/2004. Trần Quang Cơ, “Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh
thời đại trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước và mấy vấn đề đặt ra trong sự
nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân số 4/2005.
Dương Văn Lượng (2006), Sức mạnh thời đại trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
5
xã hội chủ nghĩa hiện nay, Báo cáo tổng kết đề tài Viện Khoa học xã hội nhăn văn
Quân sự - Bộ Quốc phòng, Hà Nội. Hoàng Xuân Lâm, “Kết hợp kinh tế với quốc
phòng - an ninh trong thời kỳ hội nhập quốc tế”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số
tháng 8/2010. Viện Khoa học xã hội Nhân văn quân sự (2010), Sự phát triển quan
điểm lý luận bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội. Nguyễn Bá Dương, Góp phần phát triển tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc,
Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội 2013.
Những công trình khoa học được công bố trên đã đề cập dưới những
góc độ khác nhau về kết hợp SMDT với SMTĐ. Nhưng cho đến nay chưa
có một công trình khoa học nào đi vào nghiên cứu chuyên sâu, riêng biệt về
quan điểm và chủ trương của Đảng đối với sự kết hợp SMDT với SMTĐ
trong sự nghiệp BVTQ từ năm 1996 đến năm 2006. Tuy vậy, các công
trình khoa học nêu trên là tài liệu quý, tác giả tham khảo trong quá trình
xây dựng luận văn của mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích: Làm sáng tỏ quá trình Đảng lãnh đạo, chỉ đạo kết hợp
SMDT với SMTĐ trong công cuộc BVTQ từ năm 1996 đến năm 2006, từ đó
rút ra một số kinh nghiệm có thể vận dụng trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ
Tổ quốc XHCN hiện nay.
5. Ý nghĩa của đề tài
Đề tài góp phần làm rõ tính đúng đắn, sáng tạo của Đảng lãnh đạo kết
hợp SMDT với SMTĐ trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc từ năm 1996 đến năm
2006. Đánh giá thành tựu, hạn chế và rút ra một số kinh nghiệm từ quá trình
Đảng lãnh đạo kết hợp SMDT với SMTĐ trong sự nghiệp BVTQ từ năm
1996 đến năm 2006.
Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, giảng dạy
môn Lịch sử Đảng trong các nhà trường quân đội.
7. Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm: Mở đầu, 2 chương (5 tiết), kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo và phụ lục.
7
Chương 1
CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VỀ KẾT HỢP SỨC
MẠNH DÂN TỘC VỚI SỨC MẠNH THỜI ĐẠI TRONG SỰ NGHIỆP
BẢO VỆ TỔ QUỐC TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2006
1.1. Yêu cầu khách quan về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức
mạnh thời đại trong bảo vệ Tổ quốc
1.1.1. Vị trí, vai trò của kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc
Kết hợp SMDT với SMTĐ là yêu cầu khách quan, có tính quy luật của
cách mạng vô sản. Giai cấp vô sản muốn chiến thắng kẻ thù, hoàn thành sứ mệnh
lịch sử của mình phải biết phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi lực lượng trong
nước và ngoài nước, sức mạnh của dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại.
Chủ nghĩa Mác ra đời là một thành tựu vĩ đại của nhân loại, là vũ khí lý
luận khoa học và cách mạng soi đường để giai cấp vô sản và các dân tộc vươn
lên giải phóng mình. Chủ nghĩa Mác đã khẳng định: Trong cuộc đấu tranh cách
mạng lâu dài, giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền và
sức mạnh to lớn của dân tộc. Đó là những truyền thống tốt đẹp của dân tộc,
những tinh hoa văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; là tiềm
năng của dân tộc, đất nước được Nhân dân ta phát huy lên trên tất cả các mặt
của đời sống xã hội trong quá trình cách mạng. Sức mạnh đó chính là sức
mạnh của tinh thần yêu nước, của ý chí tự lực, tự cường, kiên cường bất khuất
và sức mạnh đoàn kết của dân tộc ta, sức mạnh của con người, của đất nước
Việt Nam. Người ý thức rất rõ sức mạnh đó sẽ trở thành vô địch khi cách
mạng nước ta đặt dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Đồng thời, Người
cũng khẳng định, sức mạnh đó được nhân lên nhiều lần khi được kết hợp với
SMTĐ tạo thành sức mạnh tổng hợp chiến thắng mọi kẻ thù. Theo Hồ Chí
Minh, SMTĐ trước hết là sức mạnh của tính quy luật phát triển của lịch sử xã
hội loài người; sức mạnh của nền văn minh nhân loại; sức mạnh của các lực
lượng cách mạng thế giới. Đó là sức mạnh của tính chất thời đại quá độ từ
CNTB lên CNXH, là sức mạnh của nhân dân lao động, các dân tộc thuộc địa
bị áp bức gắn với sức mạnh của giai cấp vô sản và cách mạng vô sản, được
soi sáng bởi chủ nghĩa Mác - Lênin, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân.
Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức được tính tất yếu phải kết hợp đúng đắn hai
yếu tố ấy để tạo nên sức mạnh tổng hợp của cách mạng Việt Nam.
9
Theo Hồ Chí Minh, kết hợp SMDT với SMTĐ trước hết phải đặt cách
mạng Việt Nam trong tiến trình chung của cách mạng thế giới. Bởi vậy, khi
lựa chọn con đường cứu nước của dân tộc Việt Nam theo gương cuộc cách
mạng Tháng Mười Nga (1917), Hồ Chí Minh đã nhận thấy nhiệm vụ chủ
yếu của loài người trong thời đại đế quốc chủ nghĩa là phải biết đoàn kết
xung quanh giai cấp công nhân, tiến hành cuộc cách mạng vô sản để lật đổ
CNTB, xây dựng CNXH. Do đó, vấn đề dân tộc phải gắn liền với vấn đề giai
cấp, cách mạng giải phóng dân tộc phải gắn liền với cách mạng vô sản. Vấn đề
cách mạng Tháng Mười Nga (1917), cuộc “dân tộc cách mệnh” và “thế giới
cách mệnh” do “vô sản giai cấp đứng đầu đi trước” có quan hệ chặt chẽ với
nhau.
Khẳng định sự kết hợp biện chứng giữa vấn đề dân tộc và vấn đề quốc
tế, Hồ Chí Minh đã làm tất cả để gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế
giới, Người đã viết: “Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách
mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của nhân dân
An Nam cả” [43, tr. 301]. Chính nhờ nắm bắt được đặc điểm và xu thế phát
triển của thời đại mà Hồ Chí Minh đã xác định đường lối chiến lược, sách
lược, phương pháp cách mạng đúng đắn cho cách mạng Việt Nam theo con
đường cách mạng vô sản.
Kế thừa và phát triển tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin về đoàn kết
của giai cấp vô sản với nhân dân lao động tất cả các nước trên thế giới, theo
Hồ Chí Minh phải xây dựng tinh thần hữu nghị hợp tác giữa các quốc gia, dân
tộc và các lực lượng cách mạng, hòa bình, dân chủ trên thế giới. Vì vô sản ở
chính quốc hay lao động bị áp bức ở thuộc địa, những người cùng khổ, tất cả
đều có mối tương đồng là đấu tranh cho hòa bình, tiến bộ xã hội, con người
được giải phóng mọi áp bức và bất công. Do đó:
“Quan san muôn dặm một nhà
Bốn phương vô sản đều là anh em”.
Đây là cơ sở để Hồ Chí Minh đề ra chủ trương xây dựng tình đoàn kết
hữu nghị giữa các dân tộc. Nguyên tắc đoàn kết của Hồ Chí Minh là “có lý, có
tình”. Có lý là tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin,
những nguyên tắc chung trong quan hệ quốc tế: Tôn trọng độc lập chủ quyền,
không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, hai bên cùng có
11
lợi. Có tình là trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc chung phải chú ý đến đặc điểm
riêng của mỗi dân tộc, phải thông cảm, tôn trọng nhau của những người cùng
chính sách của Đảng và Nhà nước đều dựa trên lợi ích, nhu cầu nguyện
vọng của quần chúng nhân dân lao động.
Từ chiến lược phát huy đoàn kết toàn dân, Đảng ta đã đề ra nhiệm vụ
của toàn thể dân tộc phải đoàn kết quốc tế. Đảng xác định cách mạng Việt
Nam nằm trong phạm trù cách mạng vô sản thế giới. Trong Chính cương vắn
tắt Đảng xác định: “chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa
cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” và thực hành liên lạc với bị áp bức dân
tộc và vô sản giai cấp thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp. Đến Luận cương
chính trị, Đảng xác định: vô sản Đông Dương phải liên lạc mật thiết với vô
sản thế giới, nhất là vô sản Pháp để làm mặt trận vô sản “mẫu quốc” và thuộc
địa cho sức đấu tranh cách mạng được mạnh lên.
Thời kỳ đấu tranh giành chính quyền (1930 - 1945) là thời kỳ cách
mạng nước ta gặp nhiều khó khăn. Đảng Cộng sản Việt Nam mới thành lập,
thế và lực chưa mạnh, uy tín của Đảng, của dân tộc trên trường quốc tế chưa
cao. Trong khi đó kẻ thù lại có tiềm lực kinh tế, tiềm lực quân sự mạnh hơn
ta gấp nhiều lần. Nhưng do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh khéo kết hợp
SMDT với SMTĐ, biết đặt cách mạng Việt Nam trong mối quan hệ chặt chẽ
với cách mạng thế giới, do đó đã tranh thủ tối đa những thời cơ thuận lợi từ
điều kiện quốc tế trong đấu tranh giành chính quyền. Sự kết hợp SMDT với
SMTĐ ở thời kỳ này được thể hiện rõ nét nhất trong cao trào giải phóng dân
tộc 1939 - 1945. Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn theo sát diễn biến của
cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, phân tích một cách khoa học những
biến động của tình hình thế giới, chiều hướng phát triển của cuộc chiến
tranh, tích cực xây dựng lực lượng cách mạng, bao gồm cả lực lượng chính
trị và lực lượng quân sự, lực lượng ở cả nông thôn và thành thị, xây dựng
căn cứ địa cách mạng và cơ sở cách mạng trong cả nước. Nhờ đó, chớp thời
cơ khi Hồng quân Liên Xô đánh tan đội quân mạnh nhất của phátxít Nhật
(13/8/1945) và phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng vô điều kiện quân Đồng minh
(15/8/1945), Đảng đã kịp thời phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền
nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, dẫn đến kết thúc thắng lợi cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp, mở đầu cho quá trình sụp đổ của chủ nghĩa
thực dân cũ. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp đã khẳng định
đường lối kháng chiến của Đảng là hoàn toàn đúng đắn, đường lối đó đã
14
kết hợp sức mạnh của cả dân tộc với SMTĐ tạo nên sức mạnh tổng hợp
chiến thắng kẻ thù.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), bên
cạnh những thuận lợi cơ bản, cách mạng nước ta cũng gặp những khó khăn,
phức tạp về nhiều mặt; đất nước tạm thời bị chia cắt thành hai miền với hai
chế độ chính trị xã hội khác nhau; trong hệ thống XHCN xuất hiện mâu
thuẫn kéo dài, thậm chí có lúc khá gay gắt; kẻ thù của dân tộc là đế quốc
Mỹ, có ưu thế vượt trội về kinh tế, quân sự. Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, giải quyết đúng đắn
mối quan hệ giữa chiến tranh cách mạng và bảo vệ hòa bình, vừa đẩy mạnh
chiến tranh cách mạng ở nước ta, vừa tích cực góp phần vào sự nghiệp giữ
gìn hòa bình của nhân dân thế giới, đề ra đường lối tiến hành đồng thời hai
chiến lược cách mạng: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Do đó, cách mạng Việt Nam
đã tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của tất cả các dân tộc, của loài
người tiến bộ trên thế giới, trong đó có nhân dân Mỹ. Chúng ta đã kết hợp
một cách có hiệu quả sự chi viện giúp đỡ nhiều mặt của nhân dân các nước
XHCN. Đặc biệt, Đảng đã kết hợp đúng đắn sức mạnh của nước ta với sức
mạnh của các dân tộc trên bán đảo Đông Dương, tạo thành thế chiến lược,
sức mạnh tổng hợp chung chống kẻ thù xâm lược.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, một lần nữa
khẳng định tính đúng đắn của bài học kết hợp SMDT với SMTĐ của Đảng.
Đánh giá nguyên nhân thắng lợi của cuộc khán chiến chống Mỹ cứu nước.
ngoài để xây dựng đất nước và BVTQ.
1.1.2. Thời kỳ mới đặt ra yêu cầu kết hợp sức mạnh dân tộc với sức
mạnh thời đại trong bảo vệ Tổ quốc
Một là, sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đang
diễn ra ngày càng mạnh mẽ, cùng với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
đang đặt ra yêu cầu phải kết hợp SMDT với SMTĐ trong sự nghiệp BVTQ.
Sự phát triển của cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại, đã và đang
làm cho lực lượng sản xuất thế giới có những biến đổi mạnh mẽ; làm thay đổi
cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý sản xuất, thay đổi tính chất, hình thức lao
động… Trong lĩnh vực quân sự, nhiều thế hệ vũ khí, phương tiện chiến tranh
16
mới có hiệu quả chiến đấu cao ra đời thay thế các thế hệ trước đây. Thực tiễn
chiến tranh cục bộ ở các nước vùng Vịnh những năm 1991, 2003 và Nam Tư
(1999) cho thấy ưu thế thuộc về các nước có tiềm lực quân sự, khoa học, công
nghệ cao và vũ khí hiện đại. Sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ
hiện đại, đã tác động một cách sâu sắc đến các quốc gia dân tộc trong việc hoạch
định chính sách xây dựng đất nước và BVTQ, đặt các quốc gia dân tộc trước
một sự thách thức rất lớn nhằm tìm kiếm và chiếm lĩnh những thành tựu mới về
khoa học, công nghệ nếu không muốn lạc hậu so với các quốc gia dân tộc
khác.
Mặt khác, từ năm 1996 đến năm 2006, quá trình toàn cầu hóa kinh tế
cũng diễn ra mạnh mẽ tác động đến tất cả các quốc gia, khu vực trên thế giới.
Sự tác động của toàn cầu hóa kinh tế đối với mỗi quốc gia đều mang tính hai
mặt, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa đem đến những thời cơ
điều kiện thuận lợi mới cho các quốc gia phát triển kinh tế, củng cố quốc
phòng, BVTQ, vừa đặt các quốc gia trước việc đối phó với những nguy cơ,
thách thức do mặt trái của quá trình toàn cầu hóa đem lại. Sự phân hóa giàu
nghèo giữa các quốc gia, theo đó cũng gia tăng và làm tăng tính phụ thuộc
của thời đại trong sự nghiệp BVTQ để tiếp tục giữ vững ổn định chính trị - xã
hội của đất nước tạo môi trường hòa bình để xây dựng thành công CNXH.
Mặt khác, các thế lực thù địch và CNĐQ lợi dụng chủ trương mở rộng
quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước
xúc tiến thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” bạo loạn lật đổ, tiến công ta
trên mặt trận văn hóa tư tưởng và ngầm phá hoại Việt Nam về tổ chức, nhằm
làm biến chất cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ chủ chốt trong cơ quan lãnh đạo
các cấp của Đảng và Nhà nước, hòng tạo nên quá trình “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” chuyển đất nước đi vào quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Các hoạt động
tình báo, gián điệp có cơ hội, điều kiện luồn lách vào các lĩnh vực của đời sống
xã hội, nắm thực lực của Việt Nam, đặc biệt là sức mạnh quân sự - quốc phòng
và sơ hở trong thế trận quốc phòng - an ninh để có thời cơ, tiến hành bạo loạn lật
đổ hoặc đánh đòn phủ đầu nhằm lật đổ chế độ.
Ba là, công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo từ năm
1986 đến năm 2006 đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử
tạo tiền đề và động lực mạnh mẽ trong sự nghiệp xây dựng và BVTQ Việt
18
Nam XHCN. Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng về kinh tế - xã hội và có
những bước tăng trưởng khá vững chắc. Tình hình chính trị, xã hội dần đi
vào ổn định; thế và lực của Việt Nam không ngừng lớn mạnh; quan hệ
quốc tế được mở rộng; vị thế Việt Nam trên trường quốc tế được cải thiện;
khả năng giữ vững độc lập, tự chủ và hội nhập được tăng cường. Qua đó,
lòng tin của Nhân dân đối với cách mạng, đối với Đảng được củng cố tăng
cường, sức mạnh tổng hợp do thành quả đổi mới tạo ra và sức mạnh truyền
thống BVTQ được phát huy trong nhân dân và lực lượng vũ trang.
Đảng Cộng sản Việt Nam với tinh thần độc lập, sáng tạo và kinh nghiệm
lãnh đạo của mình cùng Nhân dân nhận rõ âm mưu thâm độc của kẻ thù, luôn đề
cao tinh thần cảnh giác cách mạng, làm thất bại mọi âm mưu chống phá của kẻ
SMDT với SMTĐ, để thực hiện tốt việc chủ động BVTQ từ xa, nhằm ngăn
ngừa mọi nguy cơ làm mất ổn định tình hình đất nước. Phát huy mạnh mẽ
nguồn nội lực kết hợp với nắm bắt xu thế phát triển hòa bình, hợp tác trên thế
giới tạo ra và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để đất nước phát triển,
đẩy nhanh công cuộc đổi mới bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.
1.1.3. Yêu cầu kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong
sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc
Một là, kết hợp SMDT với SMTĐ tạo ra sức mạnh tổng hợp để giữ
vững hòa bình và ổn định chính trị - điều kiện căn bản để đất nước tiếp tục
phát triển nhanh và bền vững trong bối cảnh quốc tế mới.
Mục tiêu cơ bản của cách mạng Việt Nam hiện nay là tiếp tục đẩy mạnh
sự nghiệp đổi mới đất nước, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, chủ động và tích
cực hội nhập quốc tế vì dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh
và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Đó là một sự nghiệp đòi hỏi
phải phát huy toàn bộ sức mạnh vật chất và tinh thần của dân tộc Việt Nam,
tận dụng và phát huy thế và lực mới của cách mạng Việt Nam; đồng thời phải
tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi, trước hết là xu thế phát triển về
kinh tế, khoa học công nghệ, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của lực lượng tiến
bộ trên thế giới đối với sự nghiệp đổi mới của Việt Nam.
Hiện nay, thế giới đã và đang tiếp tục chứng kiến cuộc đấu tranh gay
gắt giữa lực lượng tiến bộ với các thế lực đế quốc phản động - mà thực chất là
cuộc đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp. Cùng với các âm mưu, thủ đoạn
20
trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, các thế lực thù địch sẵn sàng gây
chiến đối với những quốc gia có chủ quyền không tuân theo “gậy chỉ huy”
của chúng. Vấn đề đấu tranh cho hòa bình vẫn là mục tiêu hàng đầu của hầu
hết các quốc gia, của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Việt Nam
mong muốn giữ vững hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, dĩ nhiên đó
đến mấy cũng không thể, không tính đến phản ứng của dư luận quốc tế và
ngay ở trong nước chúng.
Kết hợp SMDT với SMTĐ trong BVTQ không chỉ đơn thuần về lĩnh
vực chính trị. Trong một thế giới đầy mâu thuẫn, Việt Nam vẫn có thể tranh
thủ được sự ủng hộ về kinh tế, quân sự, tạo nên tiềm lực quân sự. Ngược lại,
nếu Việt Nam có tiềm lực quân sự mạnh mới có thể tranh thủ được lợi thế
trong quan hệ quốc tế. Theo hướng đó, lĩnh vực đối ngoại quân sự, kinh tế
quân sự cần được chú trọng đúng mức trong tình hình mới.
Thứ ba, kết hợp SMDT với SMTĐ tạo động lực to lớn để đẩy mạnh sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước đáp ứng đầy đủ các yêu cầu BVTQ.
Hiện nay, Việt Nam cần có sự ổn định chính trị - xã hội để phát triển
kinh tế, trong điều kiện nhiều nước trên thế giới đã đạt đến trình độ phát triển
kinh tế cao, muốn ổn định và phát triển chúng ra phải đẩy mạnh sự nghiệp
CNH, HĐH. Việt Nam có thể tự hào về sự lãnh đạo của Đảng, về Nhân dân
lao động cần cù, sáng tạo, về tiềm năng và lợi thế chính trị - kinh tế. Cái thiếu
nhất của Việt Nam hiện nay là vốn, công nghệ, kinh nghiệm tổ chức và tiến
hành CNH, HĐH. Nếu biết kết hợp SMDT với SMTĐ, chúng ta hoàn toàn có
khả năng để phát huy tính chủ động và lợi thế, đồng thời tranh thủ và phát
huy có hiệu quả các yếu tố về vốn, công nghệ, kinh nghiệm của các nước trên
thế giới phục vụ tốt nhất cho sự nghiệp BVTQ.
1.2. Chủ trương của Đảng về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức
mạnh thời đại trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc (1996 - 2006)
1.2.1. Quan điểm của Đảng về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa trong tình hình mới
* Quan điểm của Đảng về mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc thể hiện
sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Mục tiêu BVTQ XHCN ngày nay được Đảng Cộng sản Việt Nam nhận
thức một cách đa diện, nhiều chiều đòi hỏi phát huy sức mạnh tổng hợp, lực
lượng của toàn dân và cả hệ thống chính trị với phương thức tổng hợp và đặt
dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam.
lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đồng thời,
giữ vững hòa bình, ổn định chính trị xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho các
23
nước hợp tác kinh tế và làm ăn lâu dài ở Việt Nam. Chính điều đó, đã thu hút,
lôi cuốn họ, góp phần bảo vệ Tổ quốc Việt Nam một cách tự nguyện, tự giác,
phát huy được SMDT và SMTĐ trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Tư duy mới về BVTQ Việt Nam XHCN của Đảng thể hiện sâu sắc ở
việc quan tâm giữ cho “trong ấm”, “ngoài êm”, coi đó là một trong những kế
sách quan trọng để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong bối cảnh
hiện thời. Điều này hoàn toàn phù hợp với điều kiện hiện có và thực lực của Việt
Nam, khi mà cùng lúc, chúng ta vừa đang phải đối mặt, vượt qua những nguy cơ
thách thức, khó khăn, vừa tìm phương thức tối ưu để khai thác, tận dụng có hiệu
quả những thời cơ, vận hội, những thuận lợi mới đưa đến. Vì vậy, việc xác định
đúng đắn và thực hiện tốt kế sách “trong ấm”, “ngoài êm” là sự xác định thông
minh nhất, khôn khéo nhất, có lợi nhất cho quốc gia, dân tộc. Đó là vấn đề cực kỳ
hệ trọng đối với sự tồn tại và phát triển bền vững của đất nước trong một thế giới
đầy biến động phức tạp như hiện nay. Theo tinh thần đó, Đảng nhấn mạnh việc chú
trọng giáo dục thống nhất nhận thức về “đối tượng”, “đối tác”, giữ cho “trong ấm”,
“ngoài êm” phải giữ an ninh nội địa, giải quyết kịp thời các mâu thuẫn, tranh chấp
trong nhân dân; phải chủ động, tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh.
Sự nhận thức sâu sắc, toàn diện các nội dung trong mục tiêu, nhiệm vụ
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là kết quả của quá trình phát triển tư duy lý
luận của Đảng ta về quân sự, quốc phòng, BVTQ kể từ khi Đảng khởi xướng
và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước; đặc biệt là sự vận dụng
sáng tạo bài học về kết hợp SMDT với SMTĐ trong tình hình mới.
Trước sự biến đổi mau lẹ của thời cuộc và yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ vững
chắc độc lập, chủ quyền quốc gia, dân tộc, tạo điều kiện thuận lợi để Nhân dân
chuyển hóa”; ngăn chặn và đẩy lùi âm mưu “diễn biến hòa bình”, nguy cơ can
thiệp và xung đột vũ trang xâm hại độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh
thổ của đất nước. Trong tình hình mới, nhiệm vụ then chốt là xây dựng Đảng
phải kết hợp chặt chẽ với bảo vệ Đảng và bảo vệ an ninh chính trị nội bộ. Để đáp
ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định nhiệm
vụ quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa quyết định sự thành công của sự nghiệp cách
mạng nước ta là phải xây dựng cho được đội ngũ cán bộ các cấp, đặc biệt là cán
bộ lãnh đạo có đủ phẩm chất, năng lực, đức và tài ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ;
25