LUẬN văn THẠC sĩ ĐẢNG LÃNH đạo CÔNG tác bảo đảm hậu cần TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG mỹ GIAI đoạn 1969 1973 - Pdf 38

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết đầy đủ
Bảo đảm hậu cần
Chủ nghĩa xã hội
Nhà xuất bản
Xã hội chủ nghĩa

Chữ viết tắt
BĐHC
CNXH
Nxb
XHCN

MỤC LỤC


Trang
MỞ ĐẦU

3

Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VỀ
CÔNG TÁC BẢO ĐẢM HẬU CẦN QUÂN ĐỘI
TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ,
CỨU NƯỚC TỪ NĂM 1969 ĐẾN NĂM 1973
1.1. Yêu cầu khách quan Đảng lãnh đạo công tác bảo đảm

10

hậu cần quân đội trong cuộc kháng chiến chống Mỹ,

67
82
84
91

2


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Công tác BĐHC quân đội là một mặt của công tác quân sự, là một trong
những yếu tố tạo nên sức mạnh chiến đấu, bảo đảm thắng lợi cho quân đội
ngoài chiến trường. V.I. Lênin đã khẳng định: “một quân đội giỏi nhất, những
người trung thành nhất với sự nghiệp cách mạng cũng đều sẽ bị quân thù tiêu
diệt nếu không được vũ trang, tiếp tế lương thực và huấn luyện một cách đầy
đủ” [35, tr.497]. Kế thừa lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin về chiến tranh và
quân đội, Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh: “công việc cung cấp cũng quan
trọng như việc trực tiếp đánh giặc ngoài mặt trận: Cung cấp đủ súng đạn, đủ
cơm áo cho bộ đội, thì bộ đội mới đánh thắng trận, điều đó rất rõ ràng dễ
hiểu” [42, tr.179].
Công tác BĐHC quân đội là công tác có tầm quan trọng chiến lược. Vì
vậy, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn
quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ đối với mặt công tác này. Thực tiễn lịch
sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc, tiêu biểu là cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước đã chứng minh điều đó. Đặc biệt, giai đoạn từ năm 1969 đến
năm 1973, nhờ có đường lối lãnh đạo đúng đắn và sáng tạo của Đảng, công
tác BĐHC quân đội đã giành được những thắng lợi to lớn, bảo đảm đầy đủ,
kịp thời mọi mặt cho bộ đội kiên trì, bám trụ trên các chiến trường, góp phần
đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, buộc đế quốc Mỹ phải ký
Hiệp định Pari, rút quân Mỹ và quân chư hầu về nước.

chiến tranh. Các công trình này chỉ dừng lại ở những vấn đề lớn của công tác
BĐHC, phạm vi rộng là trong kháng chiến chống Mỹ, chưa đề cập trực diện,
đầy đủ, chuyên sâu đến chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng trong công tác
BĐHC quân đội từ năm 1969 đến năm 1973. Song, đây là cơ sở, nguồn tư
liệu trực tiếp để tác giả kế thừa, định hướng nội dung, sử dụng số liệu để
thuyết minh cho các luận điểm trong đề tài và phục vụ quá trình nghiên cứu.
Nhóm các bài báo khoa học đăng trên các tạp chí:
“Từ công tác hậu cần chiến lược trong chiến tranh chống Mỹ, cứu nước,
suy nghĩ về xây dựng hậu cần tại chỗ và hậu cần cơ động trong bảo vệ Tổ quốc
ngày nay”, Nguyễn Văn Đà, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 4 (2000); “Tinh

5


thần tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng của hậu phương lớn miền Bắc
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước”, Phạm Trọng Đẩu, Tạp chí Giáo
dục lý luận chính trị quân sự, số 2 (2005); “Vai trò hậu phương lớn miền Bắc
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước”, Trần Phước, Tạp chí Quốc phòng
toàn dân, số 8 (2005); “Công tác vận chuyển và bảo đảm xăng dầu trên tuyến
vận tải chiến lược Trường Sơn trong kháng chiến chống Mỹ”, Dương Hồng
Anh, Tạp chí Nghiên cứu Khoa học hậu cần quân sự, số 4 (2010); “Kinh nghiệm
hậu cần nhân dân trên chiến trường Nam Bộ trong kháng chiến chống Mỹ cứu
nước – Hướng kế thừa, phát triển”, Phạm Minh Thư, Tạp chí Nghiên cứu Khoa
học hậu cần quân sự, số 6 (2010)... Các bài viết đã tập trung luận giải, làm rõ vai
trò của hậu phương miền Bắc, hậu cần nhân dân, đưa ra những số liệu, thống kê
chính xác và phong phú làm nổi bật vai trò của công tác hậu cần trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Vì vậy, đây là những tư liệu quý, có giá trị
khoa học, tác giả có thể sử dụng làm nguồn tài liệu nghiên cứu của đề tài.
Nhóm các luận văn, luận án và đề tài khoa học:
Những nghiên cứu của các nhà khoa học gồm các luận án, luận văn

Vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với công tác hậu cần quân đội từ
1945 đến 1969, Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt
Nam, của Đoàn Quyết Thắng, Học viện Chính trị, Hà Nội, 2009. Đề tài đã đi
sâu phân tích làm sáng tỏ những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về hậu
cần quân đội trong chiến tranh giải phóng dân tộc. Đặc biệt, làm rõ vai trò của
Người trong chỉ đạo công tác hậu cần và những cống hiến của Người đối với
công tác hậu cần quân đội.
Đảng lãnh đạo xây dựng tuyến đường Trường Sơn trong kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước (1959 – 1975), Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng
Cộng sản Việt Nam, của Nguyễn Huy Động, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh, Hà Nội, 2011. Đề tài đã trình bày tính tất yếu khách quan của việc
xây dựng tuyến đường Trường Sơn; phân tích, làm rõ chủ trương, sự chỉ đạo của
Đảng trong xây dựng, củng cố, phát huy vai trò của tuyến đường Trường Sơn

7


trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước; rút ra những kinh nghiệm có giá trị vận
dụng vào xây dựng tuyến đường Trường Sơn trong thời kỳ đổi mới hiện nay.
Nhìn chung, các công trình khoa học trên đều có đề cập đến công tác hậu
cần trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Dưới góc độ Lịch sử Đảng, chưa
có một công trình khoa học nào trình bày một cách có hệ thống về chủ trương
và sự chỉ đạo của Đảng đối với công tác BĐHC quân đội trong kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước từ năm 1969 đến năm 1973. Tuy nhiên, tác giả có thể kế
thừa những thành tựu nghiên cứu của những công trình trên trong việc thực
hiện đề tài của mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ quá trình Đảng lãnh đạo công tác BĐHC quân đội trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1969 đến năm 1973. Trên cơ

Vận dụng phương pháp nghiên cứu của khoa học chuyên ngành lịch sử
Đảng như: phương pháp lịch sử, phương pháp lô gích. Ngoài ra, còn sử dụng
nhiều phương pháp khác như đồng đại, lịch đại, so sánh, thống kê...
6. Ý nghĩa của đề tài
Đề tài góp phần tổng kết quá trình lãnh đạo của Đảng về công tác
BĐHC quân đội trong chiến tranh, làm phong phú thêm tri thức lịch sử về sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đề tài khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo của Đảng lãnh đạo công tác
BĐHC quân đội trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1969
đến năm 1973, qua đó nêu lên những kinh nghiệm có thể vận dụng trong việc
lãnh đạo công tác BĐHC hiện nay.
Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho công tác
nghiên cứu, giảng dạy, học tập bộ môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam ở
các học viện, trường đại học trong và ngoài quân đội.
7. Kết cấu của đề tài
Gồm phần mở đầu, 2 chương (5 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo và phụ lục.

9


Chương 1
CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VỀ CÔNG TÁC
BẢO ĐẢM HẬU CẦN QUÂN ĐỘI TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN
CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC TỪ NĂM 1969 ĐẾN NĂM 1973

1.1. Yêu cầu khách quan Đảng lãnh đạo công tác bảo
đảm hậu cần quân đội trong cuộc kháng chiến chống Mỹ,
cứu nước (1969 - 1973)
1.1.1. Vị trí, vai trò công tác bảo đảm hậu cần quân

Như vậy, trong mỗi cuộc chiến tranh, vấn đề cung cấp, bổ sung vật chất
cho quân đội ngoài mặt trận là một trong những yếu tố không thể thiếu. Thắng
lợi hay thất bại trên chiến trường đều phụ thuộc vào việc có bảo đảm đầy đủ,
kịp thời những điều kiện vật chất hay không?
Kế thừa, phát triển luận điểm của Ph.Ăngghen về vai trò của công tác
BĐHC quân đội, V.I.Lênin nhấn mạnh: “Muốn phòng thủ, phải có một quân
đội kiên cường vững mạnh, một hậu phương vững chắc và muốn có một quân
đội kiên cường và vững mạnh thì trước hết phải tổ chức thật vững chắc công
tác lương thực” [36, tr.423]. Công tác lương thực mà V.I.Lênin nói ở đây, có
thể hiểu là công tác bảo đảm đời sống cho bộ đội. Theo V.I.Lênin, muốn xây
dựng lực lượng vũ trang vững mạnh và bảo đảm cho lực lượng vũ trang chiến
đấu thắng lợi thì trước hết phải làm tốt “công tác lương thực” - công tác
BĐHC quân đội.
Trên nền tảng Học thuyết Mác – Lênin về chiến tranh và quân đội, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã bổ sung, phát triển trên nhiều vấn đề về công tác BĐHC
quân đội. Khẳng định vai trò to lớn của công tác BĐHC đối với quân đội,
Người viết: “quân đội không có vận tải thì chết. Không có lương thực thì chết.
Không có tích lũy thì chết” [39, tr.527]. Bên cạnh đó, Người chỉ rõ: “Về quân
sự, quân nhu và lương thực rất quan trọng. Có binh hùng, tướng giỏi, nhưng
thiếu quân nhu, lương thực, không thể thắng trận được” [40, tr.261]. Như vậy,

11


trung thành và vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ
Chí Minh luôn khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của công tác BĐHC quân
đội, coi đó là mặt công tác có ý nghĩa quan trọng hàng đầu quyết định thắng
lợi của bộ đội trên chiến trường.
Thực tiễn các cuộc chiến tranh trên thế giới cũng đã khẳng định vị trí, vai
trò của công tác BĐHC quân đội. Trong cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của

tranh”. “Việt Nam hoá chiến tranh” là loại hình chiến tranh xâm lược thực
dân mới của đế quốc Mỹ được tiến hành bằng quân đội tay sai là chủ yếu,
có sự phối hợp của một bộ phận đáng kể lực lượng chiến đấu Mỹ và vẫn do
Mỹ chỉ huy bằng hệ thống cố vấn quân sự, cung cấp đô la, vũ khí kỹ thuật,
phương tiện chiến tranh, nhằm chống lại các lực lượng cách mạng và nhân
dân ta [Phụ lục 06].
Thực chất đó là sự tiếp tục của âm mưu thâm độc “thay đổi màu da trên
xác chết” bằng cách “dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam” với mục
tiêu khống chế kìm kẹp nhân dân miền Nam, làm cho cách mạng mất chỗ
dựa, ngăn chặn đường vận chuyển chiến lược, đẩy bộ đội chủ lực ta ra xa, tiến
tới bao vây, bóp nghẹt cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam. Ngoài ra,
thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, đế quốc Mỹ còn nhằm khai
thác triệt để nhân tài, vật lực của miền Nam Việt Nam phục vụ cho chiến
tranh xâm lược. Đánh giá về âm mưu của địch, Nghị quyết Hội nghị trung
ương 18 (3/1970) Đảng nhận định:
Việt Nam hóa chiến tranh là một ý đồ chiến lược hết sức thâm độc của đế
quốc Mỹ nhằm kéo dài chiến tranh xâm lược, từng bước rút bớt quân Mỹ ra
và ngụy quân, ngụy quyền vẫn mạnh lên, cố giành thế mạnh trong thế thua,
Việt Nam hóa chiến tranh cũng là Mỹ tìm lối thoát "trong danh dự". Nó là
một kế hoạch toàn diện về quân sự, chính trị, kinh tế... [19, tr.107 – 108].
Để thực hiện được âm mưu thâm độc trên, đế quốc Mỹ đã sử dụng một
loạt các biện pháp, phát huy tối đa sức mạnh quân sự, kết hợp với thủ đoạn
chính trị, ngoại giao xảo quyệt, hòng giành thế chủ động, cô lập cuộc kháng
chiến của nhân dân ta.

13


Trước hết, đế quốc Mỹ tiếp tục thực hiện chiến lược "quét và giữ", lấy
bình định làm biện pháp chiến lược chủ yếu để thực hiện kế hoạch Việt Nam

viện của miền Bắc cho miền Nam, gây không ít khó khăn cho quá trình bảo
đảm, cung cấp cho bộ đội, ảnh hưởng đến hiệu suất chiến đấu của bộ đội trên
các chiến trường miền Nam. Vì vậy, hơn lúc nào hết, Đảng cần phải tăng
cường lãnh đạo công tác BĐHC quân đội trong mọi tình huống chiến tranh.
Trước âm mưu, thủ đoạn của địch, ta phải kiên quyết đẩy mạnh tiến
công toàn diện đập tan âm mưu “Việt Nam hóa chiến tranh” của địch, đánh
cho Mỹ phải cút, ngụy phải nhào, giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành
thắng lợi hoàn toàn. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 18 Ban chấp hành Trung
ương số 196-NQ/TW, ngày 10 tháng 3 năm 1970 đã khẳng định:
Nhiệm vụ trước mắt của ta trong suốt giai đoạn mới của cuộc kháng chiến
là: động viên sự nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trên
cả hai miền, phát huy thắng lợi đã đạt được, kiên trì và đẩy mạnh cuộc
kháng chiến, tiếp tục phát triển chiến lược tiến công một cách toàn diện,
liên tục và mạnh mẽ, đẩy mạnh tiến công quân sự và tiến công chính trị,
kết hợp với tiến công ngoại giao, vừa tiến công địch vừa ra sức xây dựng
lực lượng quân sự và chính trị của ta ngày càng lớn mạnh; đánh bại âm
mưu Việt Nam hóa chiến tranh của đế quốc Mỹ, đánh bại âm mưu của
chúng xuống thang từng bước, kéo dài chiến tranh để tạo thế mạnh hòng
duy trì chủ nghĩa thực dân kiểu mới của chúng ở miền Nam nước ta; làm
thất bại chiến lược phòng ngự của địch, tạo nên chuyển biến mới trong
cục diện chiến tranh, giành thắng lợi từng bước đi đến giành thắng lợi
quyết định, đánh cho Mỹ phải rút hết quân, đánh cho ngụy phải suy sụp,
tạo điều kiện cơ bản để thực hiện một miền Nam độc lập, dân chủ, hòa
bình, trung lập, tiến tới thống nhất nước nhà [19, tr.117].
Có thể thấy, nhiệm vụ trên vô cùng khó khăn, phức tạp và bao quát trên
tất cả các lĩnh vực (chính trị, quân sự, ngoại giao...). Trong đó, mục tiêu cao
nhất là đánh bại âm mưu “Việt Nam hóa chiến tranh” của địch nhằm tạo nên
chuyển biến mới trong cục diện chiến tranh, giành thắng lợi từng bước đi đến

15

16


Tuy nhiên, sau Mậu Thân 1968, do địch tăng cường càn quét, đánh phá
các vùng ven đô, phát triển mạnh ra các vùng giáp ranh, tiến công dữ dội các
vùng giải phóng, trọng điểm là đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng ven
biển Khu 5, làm cho công tác BĐHC quân đội đứng trước khó khăn, thử thách
nghiêm trọng: vùng giải phóng bị thu hẹp, nhiều căn cứ hậu cần bị đánh phá
phải thu hẹp phạm vi hoạt động, dự trữ hậu cần giảm sút, nguồn cung cấp
ngày càng hạn chế, nhiều hành lang vận chuyển trên các chiến trường bị ngăn
chặn. Vì vậy, quân số, vũ khí, trang bị của nhiều đơn vị lực lượng vũ trang
thiếu thốn, nguồn bổ sung hầu như không có. Tình trạng thiếu đói về lượng
thực, thuốc men diễn ra trong nhiều ngày, ảnh hưởng đến tinh thần và sức
chiến đấu của bộ đội. Ở mặt trận Tây Nguyên, số gạo còn lại của năm 1968
chuyển qua năm 1969 chưa bằng một phần ba lượng tồn kho năm 1967
chuyển qua năm 1968. Thực phẩm cũng ít hơn tám lần so với năm trước, quân
trang cũng trong tình trạng thiếu hụt lớn, tính chung toàn chiến trường cứ 2
người chiến đấu ở phía trước, hoặc 8 người phục vụ ở phía sau mới được một
bộ quân phục [65, tr.324]. Trong khi đó, ở Quân khu 5, tiêu chuẩn ăn của bộ
đội từ 2 lon ngày (1 lon = 0,25kg) rút xuống còn 1 lon, rồi nửa lon, cơ quan
Quân khu bình quân 8 người mới được 1 lon gạo một ngày, có khi phải ăn sắn
hàng tuần lễ [65, tr.342]. Hậu cần các chiến trường đã tìm mọi biện pháp tháo
gỡ khó khăn, nhưng do mất đồng bằng, mất căn cứ đứng chân, lại bị địch
ngăn chặn quyết liệt, thiếu nguồn cung cấp nên ở nhiều địa bàn bộ đội ta
không bám trụ được, phải rút lên các căn cứ rừng núi. Trên chiến trường Tây
Nguyên, số lương thực, thực phẩm mua được trong năm 1969 chưa bằng một
nửa năm 1968 và ít hơn nhiều lần so với các năm trước [65, tr.325]. Có thể
nói, chưa có thời gian nào công tác BĐHC quân đội lại gặp khó khăn gay gắt
như sau Mậu Thân 1968.
Trước tình hình đó, yêu cầu bức thiết đặt ra đối với công tác BĐHC quân

và giữ nước của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã sáng suốt đề ra những
quan điểm chỉ đạo công tác BĐHC quân đội trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước nói chung và trong giai đoạn 1969 – 1973 nói riêng, cụ thể là:

18


Một là, công tác BĐHC quân đội là một mặt công tác có tầm quan trọng
chiến lược.
Quan điểm này chỉ ra tầm quan trọng của công tác BĐHC quân đội. Sức
mạnh chiến đấu của quân đội là sức mạnh tổng hợp, bao gồm: chính trị, quân
sự, hậu cần, tinh thần, tư tưởng tổ chức, năng lực hành động và cơ sở vật chất
kỹ thuật. Trong đó, công tác BĐHC là một trong những yếu tố cơ bản tạo
thành sức mạnh chiến đấu của quân đội. J.V. Xta-lin đã khẳng định: “…kết
cục của các chiến dịch phụ thuộc vào việc tiếp tế đầy đủ và kịp thời đạn dược,
trang bị và lương thực cho bộ đội” [80, tr.102].
Bên cạnh đó, thực tiễn trong đấu tranh giành chính quyền (1930 – 1945)
và trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 – 1954) cho
thấy, nhờ làm tốt công tác BĐHC quân đội, ta đã cung cấp đầy đủ mọi mặt
cho lực lượng vũ trang chiến đấu giành thắng lợi, đặc biệt, góp phần làm nên
chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, trấn động địa cầu”.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng Cộng sản Việt Nam
luôn nhận thức rõ tầm quan trọng của mặt công tác này. Nghị quyết Ban chấp
hành Trung ương Đảng lần thứ 12, khóa II, tháng 3 năm 1957 đã khẳng định:
Đi đôi với việc xây dựng và củng cố hậu phương của nước nhà, cần
phải xây dựng hậu phương của quân đội, cần phải tăng cường tổ chức
hậu cần và tăng cường công tác hậu cần quân đội. Hậu cần là khâu liên
hệ giữa hậu phương của Nhà nước với quân đội tác chiến ở tiền tuyến.
Tổ chức và công tác hậu cần có một tác dụng rất trọng yếu là bảo đảm
toàn bộ nhu cầu vật chất cho sinh hoạt và chiến đấu của quân đội. Dù

trọng chiến lược và không thể thiếu trong quá trình xây dựng, chiến đấu của
lực lượng vũ trang. Nó góp phần quan trọng tạo nên sức mạnh tổng hợp của
quân đội, làm cho quân đội không ngừng lớn mạnh, trưởng thành, đánh thắng
mọi kẻ thù xâm lược.
Hai là, công tác BĐHC quân đội phải kiên trì “bám đất”, “bám dân”.

20


Quan điểm này tiếp thu lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của
quần chúng nhân dân và kế thừa truyền thống “trọng dân” của dân tộc. Đồng
thời, đây cũng là sự cụ thể hóa đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng ta.
Trong bài nói với đồng bào và cán bộ tỉnh Thái Bình, Hồ Chí Minh nhấn
mạnh: “Các hợp tác xã nông nghiệp là đội quân hậu cần của quân đội chiến
đấu ngoài mặt trận” [43, tr.193]. Như vậy, nhân dân là nguồn cung cấp nhân
tài, vật lực quan trọng nhất, vì thế chỉ có dựa chắc vào dân thì hậu cần mới có
thể hoàn thành nhiệm vụ cung cấp cho lực lượng vũ trang.
Thực tiễn công tác BĐHC quân đội trong cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp (1945 – 1954) cũng cho thấy vai trò quan trọng của việc “bám đất”,
“bám dân”. Dựa vào dân sẽ huy động được lực lượng tại chỗ, giảm bớt cự ly
và khối lượng vận chuyển, tiết kiệm được lực lượng và tránh được tổn thất.
Đồng thời, dựa vào dân, chúng ta mới có thể chiến đấu với một quân đội
mạnh, có khả năng khống chế sự hoạt động hậu phương của ta.
Thực tiễn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đặc biệt là giai đoạn
1969 – 1973 càng khẳng định vai trò, tầm quan trọng của việc “bám đất”,
“bám dân” đối với công tác BĐHC quân đội. Đầu năm 1969, Nichxơn triển
khai thực hiện kế hoạch “bình định và phát triển” với ba giai đoạn nhằm
giành giật vùng nông thôn, cắt nguồn tiếp tế của bộ đội, mở rộng địa bàn
chiếm đóng. Mặt khác, sau tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, do ta
bỏ lỏng vùng nông thôn nên bộ đội chủ lực, trừ một bộ phận còn đứng

tiếp tục khẳng định: phải chú trọng phát huy khả năng hậu cần tại chỗ, quán
triệt quan điểm hậu cần nhân dân, đẩy mạnh phong trào sản xuất tự túc và
công tác bảo vệ sản xuất trong nhân dân và bộ đội.
Muốn dựa chắc vào nhân dân, công tác BĐHC quân đội trong giai
đoạn 1969 – 1973 cần phải: động viên và tổ chức được toàn dân tích cực
tăng gia sản xuất, tham gia làm tốt công tác BĐHC ở tiền tuyến lớn miền
Nam, kết hợp chặt chẽ hậu cần quân đội với hậu cần nhân dân, trong đó,
lấy hậu cần quân đội làm nòng cốt. Bên cạnh đó, phải làm cho cán bộ,

22


chiến sĩ, nhân viên hậu cần thấu suốt quan điểm này của Đảng, tích cực
tham gia xây dựng hậu cần địa phương, hậu cần nhân dân. Đồng thời, liên
hệ chặt chẽ với tổ chức Đảng, chính quyền địa phương để tổ chức, khai
thác, sử dụng mọi khả năng, tiềm lực của nhân dân tạo nên thế trận hậu cần
vững chắc trên cả nước và trong từng khu vực.
Như vậy, dựa chắc vào nhân dân, động viên và tổ chức nhân dân tham
gia vào công tác BĐHC quân đội là nguồn gốc sức mạnh, là quy luật giành
thắng lợi của công tác BĐHC quân đội trong cuộc kháng chiến chống Mỹ,
cứu nước nói chung và giai đoạn 1969 – 1973 nói riêng.
Ba là, thực hiện cần kiệm, dựa vào sức mình là chính trong công tác
BĐHC quân đội.
Đây là quan điểm nhất quán của Đảng ta xuyên suốt trong quá trình lãnh
đạo cách mạng. Cần kiệm, dựa vào sức mình là chính là phương châm xây
dựng quân đội cách mạng, là nguyên tắc chỉ đạo tác chiến của Đảng; là một
trong những phương châm tiến hành chiến tranh; là biểu hiện tinh thần độc
lập, tự chủ, tự lực, tự cường trong xây dựng lực lượng vũ trang. Cần kiệm,
dựa vào sức mình là chính còn là bản chất, truyền thống của quân đội ta.
Mặt khác, Việt Nam là một nước đất không rộng, người không đông,

Thực hiện quan điểm này, đòi hỏi hậu cần các cấp phải ra sức thi đua
lao động sáng tạo, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, tăng nguồn
BĐHC cho quân đội; quản lý chặt chẽ cơ sở vật chất kỹ thuật nhằm giữ vững
và nâng cao khả năng của công tác BĐHC quân đội; phải ra sức tranh thủ sự
giúp đỡ của bạn bè quốc tế bằng việc tổ chức tốt việc tiếp nhận, bảo quản, vận
chuyển, phân phối và sử dụng có hiệu quả các nguồn viện trợ quốc tế; đồng
thời, phải tổ chức tốt việc thu hồi, quản lý và sử dụng có hiệu quả chiến lợi
phẩm thu được.
Như vậy, cần kiệm, dựa vào sức mình là chính, một mặt, tăng cường
được nguồn cung cấp, cải tiến được trang bị, giảm nhẹ được đóng góp của
nhân dân, giảm bớt được khó khăn cho bản thân quân đội, mặt khác, thể hiện
đức tính cao quý thuộc về bản chất của một quân đội cách mạng.

24


Các quan điểm trên là một thể thống nhất, có mối quan hệ gắn bó chặt
chẽ với nhau, đòi hỏi những người làm công tác BĐHC quân đội phải quán
triệt sâu sắc các quan điểm đó trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Bởi vì,
quán triệt sâu sắc các quan điểm đó sẽ góp phần làm tốt công tác BĐHC, đáp
ứng kịp thời mọi nhu cầu của bộ đội trên chiến trường. Đặc biệt, trong giai
đoạn 1969 – 1973, khi đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược “Việt
Nam hóa chiến tranh”, đẩy mạnh đánh phá các cơ sở hậu cần và các tuyến vận
tải chiến lược của ta, thì hơn bao giờ hết công tác BĐHC quân đội cần phải
quán triệt các quan điểm trên.
1.2.2. Mục tiêu, phương hướng công tác bảo đảm hậu
cần quân đội
Thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, đế quốc Mỹ đẩy mạnh
xây dựng Ngụy quân, củng cố Ngụy quyền và tiến hành chương trình “bình định
nông thôn” làm cho cách mạng miền Nam lâm vào thế khó khăn mới. Trước tình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status