LUẬN văn THẠC sĩ CHÍNH TRỊ học CÔNG tác PHÁT TRIỂN ĐẢNG VIÊN TRONG CÔNG NHÂN các DOANH NGIỆP NGOÀI QUỐC DOANH ở BÌNH DƯƠNG, ĐỒNG NAI HIỆN NAY - Pdf 39

1

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Phát triển đảng viên để không ngừng bổ sung vào hàng ngũ của mình
những lực lượng mới, những người ưu tú trong phong trào quần chúng, bảo
đảm sự kế thừa và phát triển liên tục của Đảng là một yêu cầu khách quan có
tính qui luật trong quá trình hoạt động của Đảng. Từ ngày thành lập đến nay,
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến công tác phát triển đảng viên.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần IX của Đảng chỉ rõ phương hướng công tác
phát triển đảng viên hiện nay là: "Phát triển đảng viên theo đúng tiêu chuẩn
quy định, chú ý những người ưu tú trong công nhân, trí thức, lao động thuộc
các thành phần kinh tế, đoàn viên Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh,
những nơi còn ít hoặc chưa có đảng viên" [23, tr. 143].
Công nhân trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD) là
một bộ phận của giai cấp công nhân (GCCN) Việt Nam. Cùng với sự phát
triển nhanh chóng và vai trò ngày càng tăng của các DNNQD, lực lượng công
nhân trong các DNNQD đang phát triển nhanh về số lượng và có vai trò quan
trong trong công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
(CNH, HĐH) hiện nay. Với tư cách là đảng của GCCN Việt Nam, Đảng ta
đang đặc biệt quan tâm tới việc phát triển đảng viên trong công nhân và xây
dựng tổ chức đảng trong các DNNQD.
Bình Dương, Đồng Nai là hai tỉnh nằm trong vùng trọng điểm công
nghiệp phía Nam. Lượng công nhân trong các khu công nghiệp (KCN) nói
chung và các DNNQD nói riêng có số lượng rất lớn và tăng nhanh. Thời gian
qua, thực hiện Chỉ thị số 07 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây dựng Đảng,
đoàn thể trong các loại hình DNNQD, Đảng bộ tỉnh Bình Dương và Đồng Nai
đã có nhiều cố gắng trong việc phát triển đảng viên là công nhân trong các



Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về phát
triển đảng viên.


5

- Xác định đặc điểm của các DNNQD, công nhân các DNNQD có liên
quan đến công tác phát triển đảng viên trong công nhân các DNNQD ở Bình
Dương, Đồng Nai.
- Đánh giá đúng thực trạng công tác phát triển đảng viên trong công
nhân các DNNQD ở Bình Dương, Đồng Nai thời gian qua. Từ đó, rút ra
nguyên nhân, đề xuất các giải pháp chủ yếu để đẩy mạnh công tác phát triển
đảng viên trong công nhân ở các DNNQD ở các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai
giai đoạn mới.
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác phát triển đảng viên
trong công nhân các DNNQD ở các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai.
* Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chủ yếu tập trung khảo sát công tác phát triển đảng viên trong
công nhân các DNNQD ở các KCN trên địa bàn tỉnh Bình Dương, Đồng Nai
giai đoạn 1995 đến nay và đề xuất giải pháp cho nhiệm kỳ tới.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về Xây dựng Đảng
và vấn đề phát triển đảng viên; đồng thời, luận văn kế thừa các kết quả
nghiên cứu của các công trình khoa học đã được công bố.
Về phương pháp, luận văn sử dụng phương pháp biện chứng mácxít
kết hợp các phương pháp chủ yếu như: tổng kết thực tiễn, lịch sử - lôgíc,
nghiên cứu tài liệu, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh...
5. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của công

Đồng Nai
Về tự nhiên: Bình Dương, Đồng Nai là hai tỉnh tiếp giáp nhau, thuộc
miền Đông Nam Bộ và cũng là hai tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía
Nam (Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu,
Long An, Bình Phước và Tây Ninh). Vùng kinh tế trọng điểm này là khu vực
kinh tế năng động nhất của Việt Nam, chiếm hơn 50% sản lượng công nghiệp
và dịch vụ cả nước. Hai tỉnh Bình Dương, Đồng Nai có hướng Nam cùng giáp
ranh với Thành phố Hồ Chí Minh và Bà Rịa - Vũng Tàu, hướng Bắc giáp tỉnh
Bình Phước và Lâm Đồng, hướng Đông tỉnh Đồng Nai giáp tỉnh Bình Thuận,
hướng Tây tỉnh Bình Dương giáp Thành phố Hồ Chí Minh và Tây Ninh. Toàn
tỉnh Bình Dương có 7 đơn vị hành chính, gồm 6 huyện và một thị xã Thủ Dầu
Một là trung tâm kinh tế, chính trị, xã hội của tỉnh. Đồng Nai có 9 đơn vị
hành chính, gồm 8 huyện và một thành phố Biên Hòa là trung tâm kinh tế,
chính trị, văn hóa của tỉnh. Cả hai tỉnh cách Thành phố Hồ Chí Minh - trung
tâm kinh tế công nghiệp dịch vụ, thương mại, khoa học kỹ thuật, đầu mối giao
lưu quốc tế lớn của cả nước chưa đầy 40 km. Vùng công nghiệp phía Đông
Nam của hai tỉnh là "gạch nối" giữa Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố
Vũng Tàu trong vòng bán kính 40 - 50 km. Đi dọc theo hướng quốc lộ 14 về


8

hướng Bắc là các tỉnh thuộc vùng Nam Tây Nguyên được xem là vùng có
tiềm năng sản xuất và cung cấp nguyên liệu lớn nhất cả nước.
Bình Dương, Đồng Nai cũng là hai tỉnh nằm trong khu vực đầu mối
giao thông quốc tế, có hệ thống giao thông thuận lợi, vành đai sản xuất công
nghiệp mạnh của Thành phố Hồ Chí Minh. Trung tâm hai tỉnh tương đối gần
sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, cảng biển Sài Gòn, cảng biển Vũng Tàu và có
đường quốc lộ 1A, 1B đi qua. Ngoài ra, tuyến đường sắt xuyên Việt là mạch
máu giao thông quan trọng nối hai tỉnh Bình Dương, Đồng Nai với các tỉnh

lao động; KCN Biên Hòa 2 có diện tích 365 ha, đã cho thuê 91% diện tích và
thu hút hơn 26.000 lao động; KCN Amata giai đoạn 1 có diện tích 129 ha, đã
đầu tư 22,5 triệu USD và cho thuê 32% diện tích. Đến cuối năm 2004, trên
địa bàn tỉnh Đồng Nai, đã hình thành được 15 KCN đi vào hoạt động (thành
phố Biên Hòa 4, huyện Long Thành 4, huyện Nhơn Trạch 5, huyện Trảng
Bom 2), với tổng diện tích 4.751 ha, trong đó diện tích đất đã cho thuê là 1.831/
3.225 ha, chiếm 55,7%. Đồng Nai thu hút được nguồn vốn đầu tư rất lớn:
nguồn vốn trong nước do 3.100 doanh nghiệp dân doanh trên địa bàn tỉnh đã
đăng ký là trên 5.895 tỷ đồng; nguồn vốn ngoài nước của 583 dự án còn hiệu
lực là trên 7,04 tỷ USD, trong đó, 310 dự án đã đi vào hoạt động, 120 dự án
đang xây dựng với số vốn trên 3,48 tỷ USD.
Trên cơ sở tăng trưởng kinh tế khá cao, đời sống vật chất của nhân
dân đã được cải thiện rõ rệt. Mức thu nhập bình quân đầu người tăng 6,680
triệu đồng vào năm 2000 lên 11,15 triệu đồng vào năm 2004 (tăng 17,6% so
với năm 2003). Sau 10 năm đẩy mạnh CNH, HĐH (1995-2005), Đồng Nai đã
có quy mô kinh tế lớn hơn gấp ba lần trước đó, xây dựng được cơ sở vật chất
- kỹ thuật khá đồng bộ để phát triển kinh tế. Cơ cấu kinh tế đã nghiêng về tỷ
trọng công nghiệp và dịch vụ. Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng đã tạo
điều kiện cho quá trình CNH, HĐH.


10

Kinh tế Bình Dương: Từ khi được tái lập tỉnh (chia tách từ tỉnh Sông
Bé) đến nay, Bình Dương bắt đầu khởi sắc và có bước phát triển nhanh, cùng
Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu tạo thành khu tứ giác
kinh tế phía Nam. Đặc biệt từ 2001 đến nay, nơi đây nhiều KCN, khu chế
xuất (KCX) được hình thành và từng bước đi vào hoạt động; các DNTN,
DNCVĐTNN và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài phát triển rất nhanh, đa
dạng về quy mô và lĩnh vực sản xuất - kinh doanh, đóng góp đáng kể cho sự

Bình Dương, diện tích 4.196 ha. Toàn tỉnh có 2.734 doanh nghiệp trong nước
với tổng số vốn đăng ký 11.401 tỷ đồng; 871 dự án có vốn đầu tư nước ngoài
(VĐTNN) với tổng số vốn 4,1 tỷ đô la Mỹ. Đến nay, Ủy ban nhân dân tỉnh
Bình Dương đã thông qua điều chỉnh quy hoạch phát triển các KCN và các
cụm công nghiệp đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; cấp giấy phép
thành lập KCN dệt may Bình An (25,9 ha) và phê duyệt quy hoạch định
hướng phát triển KCN - đô thị Mỹ Phước mở rộng (711,7 ha).
Trình độ học vấn của cư dân Bình Dương khá cao, tỷ lệ người biết
đọc, biết viết năm 2003 là 97,60%. Tuy là tỉnh phát triển công nghiệp nhưng
lao động qua đào tạo có bằng chuyên môn kỹ thuật chiếm tỷ lệ còn thấp
(18,88%). Do vậy, cơ hội tìm việc làm của người lao động gặp khó khăn.
Trên thực tế, thị trường lao động Bình Dương còn mang tính tự phát, chưa
có tổ chức. Người lao động tham gia thị trường lao động chủ yếu bán sức lao
động giản đơn, chưa có nghề ổn định. Bình Dương có tốc độ tăng dân số cơ
học cao do thu hút số lượng lớn lao động ngoại tỉnh (cứ 4 người đang sống ở
Bình Dương có một người ngoại tỉnh). Chương trình giải quyết việc làm giai
đoạn 2001-2005 đã xây dựng kế hoạch tạo việc làm cho 85.390 lao động
(riêng năm 2004 là trên 33.000 lao động), trong đó lao động ngoại tỉnh
chiếm 60%.
Như vậy, với đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội nêu trên, hai tỉnh
Bình Dương, Đồng Nai là nơi hội tụ nhiều yếu tố thuận lợi, có thiên thời,


12

địa lợi, nhân hòa, tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển trong giai đoạn
đẩy mạnh CNH, HĐH vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ và văn minh như Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã
vạch ra.
1.1.2. Đặc điểm của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở tỉnh

góp; các bên tham gia liên doanh cùng phân chia lợi nhuận và gánh chịu rủi ro
theo tỷ lệ đóng góp vào vốn pháp định.
Doanh nghiệp 100% VĐTNN là doanh nghiệp hoàn toàn thuộc quyền
sở hữu của các cá nhân, tổ chức nước ngoài thành lập và quản lý. Doanh nghiệp
này thường được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn và là
một pháp nhân mới theo luật định. Bên tiếp nhận đầu tư không góp vốn
nhưng cung cấp cho bên nước ngoài những dịch vụ cần thiết và cho thuê đất
đai, lao động.
Ở Việt Nam trong những năm qua, doanh nghiệp có VĐTNN được coi
là một bộ phận của nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Cùng với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, DNCVĐTNN ngày
càng phát triển đa dạng, thể hiện dưới nhiều hình thức, như: liên doanh, liên
kết giữa Nhà nước Việt Nam với tư nhân nước ngoài; giữa tư nhân trong nước
với tư nhân nước ngoài; giữa doanh nghiệp nhà nước Việt Nam với các công
ty nước ngoài, kể cả các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Vì vậy, Đại hội
IX của Đảng đã xác định kinh tế có VĐTNN là một thành phần kinh tế.
Từ những phân tích trên, có thể xác định: doanh nghiệp ngoài quốc
doanh bao gồm các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn,
công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài.
Trong thời gian qua, các DNNQD đã thu hút được nguồn vốn, lao động
rất lớn, cùng với kỹ thuật và những kinh nghiệm tổ chức, quản lý tiên tiến ở
trong nước và trên thế giới vào sản xuất kinh doanh. Điều đó đã góp phần quan


14

trọng đưa nền kinh tế nước ta thoát ra khỏi khủng hoảng và tăng trưởng với tốc
độ khá nhanh, cải thiện đời sống nhân dân. Vai trò của các DNNQD sẽ còn
tiếp tục tăng lên trong quá trình đổi mới và đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.

hàng rào phân cách về địa lý trong một quốc gia, không có dân cư sinh sống
nhằm thu hút các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu và các dịch
vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu. KCX được hưởng nhiều ưu đãi, nhất là ưu
đãi về thuế và thủ tục hải quan, song đòi hỏi phải xuất khẩu gần như toàn bộ
sản phẩm. Đối với nước ta, KCX là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu và
hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có cư dân sinh sống,
do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập.
Do điều kiện cơ sở hạ tầng tốt nên các KCN và KCX thu hút được
nhiều DNNQD vào sản xuất kinh doanh, nhất là các DNNQD vừa và lớn.
Hiện nay, trên địa bàn hai tỉnh Đồng Nai và Bình Dương, với 29 KCN đã thu
hút được 777 DNNQD, chiếm tỉ lệ 15,54%.
- Các DNNQD trong các KCN của Đồng Nai và Bình Dương có yêu
cầu cao về số lượng và chất lượng lao động. Về số lượng, các doanh nghiệp
trong khu KCN thường nhận lao động công nghiệp với số lượng lớn, số lượng
này tăng dần theo cùng với quy mô đầu tư của các doanh nghiệp vào KCN. Vì
vậy, đáp ứng yêu cầu về số lượng lao động của các doanh nghiệp KCN là vấn
đề cần thiết và đòi hỏi có trình độ tổ chức lao động cao đối với các cơ quan
quản lý.
Về chất lượng, các DNNQD trong KCN thường là các doanh nghiệp
vừa, doanh nghiệp lớn, có trình độ quản lý, kỹ thuật, công nghệ cao hơn bên
ngoài nên có những yêu cầu cao về chất lượng đối với cả lao động quản lý và
lao động kỹ thuật, như: yêu cầu về trình độ đào tạo nghề nghiệp; về kỹ năng,
kinh nghiệm lao động; về tác phong, thái độ làm việc... Đây là những yêu cầu
mà cả lao động địa phương, lao động nhập cư không dễ đáp ứng, do vậy cơ


16

hội tìm kiếm việc làm với thu nhập cao của lao động trong KCN không phải
lúc nào cũng mở rộng.

- Nhiều DNNQD ở Đồng Nai, Bình Dương đã quan tâm thực hiện tốt
các chế độ, chính sách về tiền lương, tiền thưởng, thu nhập cho người lao
động, làm cho tình hình đời sống của công nhân, lao động tương đối ổn định.
Bình quân thu nhập của người lao động 1,25 triệu đ/người/ tháng, mức lương
cao nhất 4 triệu đồng/người/tháng, mức lương thấp nhất 600 ngàn
đồng/người/tháng chủ yếu là ngành may mặc, giầy da do đặc điểm lao động
thủ công, trình độ thấp. Bình quân lương tăng 200-300 ngàn
đồng/người/tháng, không có doanh nghiệp nào trả lương cho người lao động
thấp hơn mức lương tối thiểu.
Thời gian qua, đồng thời với quy hoạch các KCN, cụm công nghiệp,
cụm dân cư của tỉnh. Một số doanh nghiệp tự bỏ vốn ra xây dựng các cư xá
trong khuôn viên nhà máy cho công nhân như ở Công ty Vedan, Công ty
Chimgfa, Hualin, Chong Nam,... (Đồng Nai). Những cố gắng trên, bước đầu
đã góp phần giải quyết một phần về nhu cầu nhà ở cho công nhân trên địa bàn
hai tỉnh Bình Dương, Đồng Nai.
Nhiều doanh nghiệp cho đến nay, ngoài việc mở rộng quy mô và số
lượng công nhân, họ còn nhanh chóng thực hiện pháp luật Việt Nam về xây
dựng công trình, quản lý môi trường, quy định về công tác xuất nhập khẩu,
chính sách thuế và luật lao động. Còn người lao động được học tập luật pháp
tương đối đầy đủ hơn, thông qua các thông tin đại chúng, thông qua công tác
giáo dục của các tổ chức trong doanh nghiệp, vì vậy các vụ tranh chấp lao
động, đình công, lãn công được giảm dần. Tuy nhiên, cá biệt còn xảy ra một
số doanh nghiệp vẫn xảy ra tình trạng va chạm, xô xát, thậm chí vi phạm nhân
phẩm của người lao động. Nguyên nhân chủ yếu một mặt là do số nhà đầu tư
cố tình vi phạm pháp luật, mặt khác người sử dụng lao động và người lao


18

động ở nhiều nguồn, nhiều địa phương, nhiều quốc gia, trình độ văn hóa, nhận

kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở địa phương.
Đội ngũ công nhân các DNNQD ở tỉnh Bình Dương, Đồng Nai là một
bộ phận của GCCN Việt Nam nói chung và của Bình Dương, Đồng Nai nói
riêng, họ mang đầy đủ đặc điểm cơ bản của GCCN Việt Nam, đồng thời, do
điều kiện lịch sử, kinh tế - xã hội của địa phương nên cũng có các đặc thù.
Những đặc điểm đó là:
- Đội ngũ công nhân các DNNQD ở Bình Dương, Đồng Nai ra đời từ
rất sớm nhưng tính chất công nghiệp mới hình thành và đang trên đà phát
triển nhanh. Trong những năm đầu thế kỷ XX, cùng quá trình khai thác thuộc
địa của thực dân Pháp ở nước ta, đội ngũ công nhân của Bình Dương, Đồng
Nai ra đời, lúc đầu chủ yếu là công nhân trong các đồn điền cao su của Pháp.
Từ đầu thế kỷ XX, hàng loạt công ty tư bản Pháp đổ xô vào Đông Dương
thành lập các đồn điền cao su. Trong 4 công ty cao su lớn nhất có mặt ở Việt
Nam là Terrres rouges, SIPH, CEXO, Michelin, đã có 3 công ty có đồn điền
tại Thủ Dầu Một (Bình Dương) là Terres rouges, CEXO, Michelin. Ngoài ra,
còn có các công ty khác như công ty cao su Láp-pê (Plantation de Phước Hòa)
đặt trụ sở tại Phước Hòa, và các đồn điền cao su nhỏ của tư sản người Việt,
người Hoa. Đây là điểm quan trọng đánh dấu sự hình thành đội ngũ công
nhân Bình Dương, Đồng Nai. Tuy nhiên, phải đến khi có đường xa lộ Sài Gòn
- Biên Hòa và KCN tập trung Biên Hòa (năm 1970) nằm trên con đường nối
Biên Hòa với Vũng Tàu - Côn Đảo thì đội ngũ công nhân ở đây mới có bước
phát triển rõ. Trong KCN, khoảng 70% hoạt động sản xuất của nhà máy, xí
nghiệp do tư bản nước ngoài chi phối. Tư sản người Việt chỉ có ở một số
ngành sản xuất bằng nguyên liệu trong nước như xay xát và nấu rượu. Các cơ
sở công nghiệp này đã thu hút số lượng công nhân khá lớn, hình thành nên đội
ngũ công nhân công nghiệp ở đây. Tuy vậy, do cơ cấu công nghiệp phục vụ


20


21

Ở Bình Dương, do lực lượng công nhân chủ yếu xuất thân từ các vùng
nông thôn nên trình độ văn hóa phần lớn là trung học cơ sở, chưa qua đào tạo
tay nghề, hoặc công nhân bậc thấp. Hầu hết lao động trong các DNNQD ở
KCN là từ các tỉnh miền Trung, miền Bắc đến làm việc. Trong tổng số 73.965
lao động ở các KCN của Bình Dương, công nhân có trình độ đại học chiếm
4,260%; trung cấp: 23,404%; phổ thông: 60,014%. Ngoài ra, còn có 941
chuyên gia trong tổng số 1.281 lao động người nước ngoài đang làm việc tại
Bình Dương. Như vậy, đội ngũ công nhân Bình Dương, Đồng Nai rất đa dạng
về thành phần và có độ tuổi rất trẻ.
- Trong đội ngũ công nhân các DNNQD ở Bình Dương, Đồng Nai đã
xuất hiện một bộ phận công nhân công nghiệp hiện đại. Nằm trong khu vực
kinh tế năng động phía Nam, Bình Dương, Đồng Nai đã sớm tiếp nhận đầu
tư vốn, kỹ thuật, công nghệ hiện đại của nhiều công ty từ nước ngoài. Điều
đó là cho Bình Dương, Đồng Nai ngay từ đầu thời kỳ đổi mới đã có các cơ
sở công nghiệp hiện đại với công nghệ, kỹ thuật cao. Với việc xây dựng một
loạt cơ sở công nghiệp hiện đại có công nghệ, kỹ thuật cao trong khu vực
DNNQD, Bình Dương và Đồng Nai đã hình thành một đội ngũ công nhân
công nghiệp hiện đại, có tri thức, tay nghề chuyên môn cao, có tác phong
làm việc công nghiệp, có ý thức tổ chức kỷ luật cao, có ý thức cộng đồng,
sống tập trung ở những KCN.
- Tuy có sự phát triển khá về số lượng và chất lượng, nhưng mức sống
và đời sống văn hóa tinh thần của công nhân còn thấp, còn rất nhiều khó
khăn, nhiều bức xúc mà họ phải chấp nhận. Tâm lý phổ biến trong công nhân
là lo làm ăn, tăng thu nhập, ngại tham gia các hoạt động chính trị, xã hội vì sợ
ảnh hưởng đến công việc, thu nhập. Trong công nhân các KCN ở Đồng Nai
và Bình Dương đang nổi lên một số vấn đề bức xúc sau:
Về chỗ ở của công nhân: Cùng với lực lượng lao động tại chỗ, hàng
năm số lao động từ nông thôn ra thành thị, từ các địa phương khác trên cả

lao động trong các doanh nghiệp có VĐTNN là 1,2 triệu/đ/tháng. Tuy nhiên,


23

còn nhiều doanh nghiệp trả lương cho công nhân trong thời gian thử việc thấp
hơn mức lương tối thiểu.
Các doanh nghiệp thực hiện trả lương thời gian theo sự thỏa thuận với
người lao động, một số doanh nghiệp thực hiện trả lương theo sản phẩm
nhưng cũng còn tình trạng định mức lao động xây dựng theo công suất máy
móc thiết bị hoặc lấy khối lượng sản phẩm của người có tay nghề để quy định
mức chung. Do đó, người lao động không có tay nghề và tính chuyên cần thì
rất khó khăn hoàn thành được mức theo thời gian quy định. Nói chung, để
hoàn thành được định mức người lao động phải làm việc với cường độ cao,
thời gian lao động kéo dài. Một số doanh nghiệp đã tách tiền lương ra làm hai
phần, lương cơ bản và phụ cấp để né tránh đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm
y tế. Một số doanh nghiệp kéo dài thời gian thử việc 2-3 tháng và trả lương
thấp.
Mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động: các doanh
nghiệp trên địa bàn tỉnh, mối quan hệ này cơ bản đảm bảo tốt. Tuy nhiên, cá
biệt còn một số doanh nghiệp vẫn xảy ra tình trạng va chạm, xô xát thậm chí
vi phạm nhân phẩm của người lao động. Nguyên nhân chủ yếu một mặt là số
nhà đầu tư cố tình vi phạm pháp luật, mặt khác người sử dụng lao động và
người lao động ở nhiều nguồn, nhiều địa phương, nhiều quốc gia trình độ văn
hóa, nhận thức pháp luật, phong cách sinh hoạt, phong tục tập quán khác nhau
nên xảy ra những bất đồng.
Nhìn chung, mức sống và đời sống văn hóa tinh thần của CNLĐ còn
thấp, còn rất nhiều khó khăn so với yêu cầu, có nhiều bức xúc mà họ phải
chấp nhận (dẫu sao mức lao động công nghiệp vẫn cao hơn lao động nông
nghiệp). Song, trong thực tế thì những phản ứng, những tranh chấp, những

doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có 36 đảng viên, 1 công ty cổ phần (Việt
Hương) có 3 đảng viên, 1 công ty (gốm sứ Minh Phương) có 4 đảng viên);
41 doanh nghiệp có từ 1-2 đảng viên (9 DNTN, 1 doanh nghiệp có vốn nhà
nước liên doanh với nước ngoài, 19 doanh nghiệp 100% VĐTNN) với 57
đảng viên (xem Phụ lục 2). Những đảng viên này được chuyển đảng về sinh


25

hoạt chung với tổ chức đảng gần doanh nghiệp hoặc chuyển về sinh hoạt
chung với chi bộ Công đoàn huyện và tương đương (chi bộ Công đoàn KCN
có 3 đảng viên, chi bộ Công đoàn huyện Long Thành có 15 đảng viên và Chi
bộ Công đoàn huyện Nhơn Trạch có 12 đảng viên). Có 2 doanh nghiệp đã
thành lập chi bộ nhưng còn một số đảng viên chưa chuyển về như: Chi bộ
Công ty trách nhiệm hữu hạn Bourbon Đồng Nai 2 đảng viên, chi bộ Công ty
Kaekwang Vina 10 đảng viên. Số đảng viên này chủ yếu là đảng viên ở bộ,
ngành chuyển sang liên doanh, tuy cấp ủy đã yêu cầu chuyển sinh hoạt đảng
về doanh nghiệp để thành lập tổ chức đảng hoặc tăng cường vai trò lãnh đạo
của Đảng ở nơi đó, nhưng những đảng viên này viện nhiều lý do để chưa
chuyển sinh hoạt đảng về doanh nghiệp (như ở Công ty phát triển KCN
Loteco). Có doanh nghiệp còn đối phó không bố trí đủ số lượng đảng viên,
không tạo điều kiện để chi bộ hoạt động hoặc điều bớt đảng viên đi nơi khác
để không đủ số lượng đảng viên để thành lập chi bộ. Tình hình đó đã gây
không ít khó khăn cho việc thành lập và hoạt động của tổ chức đảng trong các
DNNQD, làm ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả thực hiện chỉ thị của Bộ
Chính trị về tăng cường công tác xây dựng Đảng và các đoàn thể nhân dân
trong DNNQD trên địa bàn.
Từ thực tế nêu trên cho thấy, tổ chức đảng mới chỉ được thành lập ở
một phần nhỏ các DNNQD, còn một bộ phận rất lớn (95,5%) DNNQD chưa
có đảng viên và tổ chức đảng. Mặc dù các Tỉnh ủy đã giao nhiệm vụ cho các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status