LUẬN văn THẠC sĩ CHÍNH TRỊ học vấn đề KIỂM SOÁT QUYỀN lực của NHÀ nước ở VIỆT NAM TRONG GIAI đoạn HIỆN NAY - Pdf 39

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
"Nước ta là một nước dân chủ, bao nhiêu quyền lực đều là của dân,
chính quyền từ xã đến Chính phủ đều là của dân, chính quyền từ xã đến
Chính phủ Trung ương do dân cử ra, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương
do dân tổ chức ra. Nói tóm lại quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân" [47, tr.
698].
Luận điểm trên thể hiện những vấn đề căn bản nhất đó là: Nhà nước
do dân thiết lập và trao quyền lực, nghĩa là quyền lực nhân dân trở thành
quyền lực nhà nước. Quyền lực đó thể hiện ý chí của nhân dân được bảo đảm
thực hiện bằng sức mạnh của bộ máy nhà nước, trong đó có độc quyền bộ
máy cưỡng chế, trấn áp và hệ thống quy phạm pháp luật.
Được sự ủy quyền của toàn thể nhân dân, nhà nước trở thành một bộ
máy có quyền lực rất lớn, độc lập với xã hội. Trong xã hội có giai cấp khi
quyền lực nhà nước không được kiểm soát, nhà nước sẽ là cơ quan đứng trên
xã hội, xa lạ với xã hội, trở thành một lực lượng ăn bám xã hội, trong nhiều
thời kỳ nhà nước trở thành lực lượng cản trở sự phát triển của xã hội.
Ở nước ta hiện nay, ở nơi này, nơi khác đã xuất hiện nguy cơ Đảng và
Nhà nước không còn là của dân, với những biểu hiện là một số cán bộ công
chức nắm quyền lực được nhân dân ủy thác lại xa dân, xa cấp dưới, xa cơ sở,
không chủ động phục vụ nhân dân vô điều kiện mà chỉ lo làm ăn phát tài, lo
thăng quan tiến chức, đánh mất bản chất cách mạng chân chính của mình.
Một số tài sản quốc gia và của nhân dân bị bọn tham nhũng những kẻ
vô trách nhiệm phần lớn là nắm quyền lực chiếm đoạt và làm thất thoát. Có
những vụ ăn cắp tài sản quốc gia hàng ngàn tỷ đồng, một số không ít nắm


2

3

Những nghiên cứu cụ thể chỉ nhằm tìm hiểu những phương thức kiểm soát cụ
thể khác nhau. Ở nước ta thì đây lại là vấn đề rất mới mẻ, còn chưa có nhận
thức thống nhất. Vì vậy cho đến nay, các nghiên cứu chuyên sâu về kiểm soát
quyền lực ở nước ta không nhiều. Phần lớn lại được "tổng kết" từ các hoạt
động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân (HĐND), các hoạt động
thanh tra nhà nước, kiểm tra Đảng v.v...
Đã có một số đề tài cử nhân chính trị, thạc sĩ khoa học đề cập đến
từng lĩnh vực cụ thể của công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm sát, giám sát đối
với hoạt động của bộ máy nhà nước ta ở cả cấp Trung ương và tỉnh, thành.
Một số công trình như "Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa" của Bộ Tư
pháp, "Tăng cường hoạt động giám sát của Quốc hội nước ta hiện nay" của
Khoa Nhà nước và Pháp luật (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh)
cũng đã đề cập đến vấn đề kiểm soát quyền lực.
Các nghiên cứu này xuất phát từ cách tiếp cận và phương pháp luật
học (khoa học pháp lý) đã phân tích từng hoạt động cụ thể của việc thực hiện
các chức năng như giám sát của Quốc hội và HĐND, kiểm sát của Viện kiểm
sát nhân dân (VKSND), thanh tra, kiểm tra của Chính phủ... Những công trình
này đã đưa ra được các đánh giá khái quát, các giải pháp mang tính định
hướng chung của việc kiểm soát quyền lực, nhưng chưa đi sâu luận chứng hệ
thống kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta.
Đề tài mà tác giả chọn tập trung đi sâu vào hệ thống tổ chức và hoạt
động kiểm soát quyền lực nhà nước ta hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kiểm soát
quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ


5

- Các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tổ chức và hoạt
động của các cơ quan có chức năng, nhiệm vụ kiểm soát quyền lực nhà nước.
- Sử dụng các phương pháp nghiên cứu lịch sử, lôgic, phân tích, thống
kê, tổng hợp, so sánh, tổng kết thực tiễn và một số phương pháp chuyên
ngành và liên ngành khác.
6. Cái mới và ý nghĩa của luận văn
Đưa ra kiến giải bước đầu về kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt
Nam. từ cơ chế, hoàn thiện cơ chế; phương thức hoạt động, đến việc xác định
khâu đột phá trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước.
Ý nghĩa của luận văn:
- Góp phần nâng cao nhận thức về tính tất yếu của việc kiểm soát
quyền lực ở nhà nước ta hiện nay.
- Bước đầu cung cấp những kiến giải có tính học thuật về kiểm soát
quyền lực nhà nước.
- Trên cơ sở mô tả thực trạng kiểm soát quyền lực nhà nước, luận văn
đưa ra những dự báo và kiến nghị về nguy cơ quyền lực không được kiểm soát.
Nhờ vậy mà luận văn có ý nghĩa tham khảo cho các nhà hoạt động
chính trị xã hội trong thực tiễn đồng thời góp phần nâng cao văn hóa chính trị
cho người đọc.
Những giải pháp mà luận văn đưa ra có thể được áp dụng trong thực
tiễn góp phần hạn chế tha hóa quyền lực trong bộ máy nhà nước, đẩy mạnh
thực thi dân chủ trong xã hội chúng ta nhằm làm cho quyền lực nhà nước
được thực hiện khoa học, hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc
về nhân dân.
7. Kết cấu của luận văn


6

thể hiện, có nhiều cấp độ hơn về cơ cấu của chủ thể quyền lực.
Sự thay đổi vai trò vị trí của các giai cấp trong đời sống sản xuất xã
hội sẽ dẫn tới việc chuyển chính quyền nhà nước từ tay giai cấp này sang tay
giai cấp khác, dẫn tới thay đổi căn bản tính chất của quyền lực nhà nước,
phương thức cầm quyền, các quan hệ chính trị, các thể chế chính trị và hệ


8

thống chính trị. Các cơ quan nhà nước thực chất là các cơ quan thực thi quyền
lực nhà nước, được các giai cấp và lực lượng xã hội (còn gọi là nhân dân) trao
quyền cho mà thôi. Tuy nhiên, do những hình thức ủy quyền và kiểm soát
quyền lực nhà nước khác nhau, nên nhiều lúc quan hệ giữa người có chủ
quyền và người được ủy quyền bị tha hóa, xuyên tạc.
Quyền lực nhà nước dưới chủ nghĩa xã hội (CNXH) có những điểm
khác biệt so với quyền lực nhà nước trong các xã hội trước đó ở chỗ nhà nước
XHCN là nhà nước chuyên chính của giai cấp công nhân. Nhưng lợi ích căn
bản của giai cấp công nhân là thống nhất với lợi ích của đại đa số nhân dân
lao động. Nên quyền lực nhà nước dưới CNXH đã có sự thống nhất giữa tính
giai cấp và tính xã hội, giữa tính chính trị với tính công quyền. Trong các kiểu
nhà nước khác, đặc biệt là nhà nước quân chủ chuyên chế, giữa chức năng
giai cấp đối lập với chức năng xã hội, lợi ích của giai cấp thống trị đối lập với
lợi ích quảng đại quần chúng.
Trong nền dân chủ XHCN, chức năng giai cấp và chức năng xã hội
tạo thành một thể thống nhất, trở thành điều kiện và tiền đề hoàn thiện cho
nhau.
Ở Việt Nam, các bản hiến pháp đều nhất quán khẳng định quyền lực
nhà nước thuộc về nhân dân.
Tại Điều 1 Hiến pháp 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã
quy định rõ: "Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt

qua lại giữa các bộ phận quyền lực, trình tự, thủ tục thực hiện quyền lực. Hệ
thống kiểm soát quyền lực là hệ thống kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực
hiện quyền lực. Các hình thức phản biện từ phía các chủ thể khác nhau của hệ
thống chính trị, các biện pháp xử lý nhằm đảm bảo tính đúng đắn trong việc
sử dụng quyền lực nhà nước. Xét một cách tổng quát yếu tố tổ chức có ý nghĩa
quan trọng nhất, bởi vì đây là khởi điểm cho việc sử dụng cũng như kiểm soát
quyền lực.
Trong các xã hội bóc lột trước đây, nhà nước xuất hiện từ xã hội, trở
thành lực lượng tách rời xã hội, đứng trên xã hội, do đó nó có nguy cơ thoát ly
khỏi sự kiểm soát của của nhân dân. Mặc dù, quyền lực nhà nước bắt nguồn


11

từ nhân dân. Như thế trong xã hội có giai cấp đối kháng, nhân dân có rất ít
khả năng thực tế tham gia vào việc tổ chức quyền lực nhà nước, để từ đó kiểm
soát được quyền lực. Việc kiểm soát quyền lực này thực tế phụ thuộc trước hết là
vào cấu trúc quyền lực của nó. Một cấu trúc có thể cho phép tồn tại sự kiểm soát,
sau đó là năng lực kiểm soát của các chủ thể khác. Chế độ tập quyền chuyên
chế kéo dài suốt thời kỳ trung cổ thực sự là mảnh đất cho sự lộng hành, cản
trở sự phát triển xã hội. Để xóa bỏ rào cản đi đến tự do, dân chủ đã buộc các
nhà tư tưởng phải tìm ra các giải pháp cho sự tiến bộ xã hội, học thuyết phân
quyền mà trường phái khai sáng đề xướng đến nay vẫn là những chỉ dẫn cho
việc kiểm soát quyền lực ở các quốc gia mà nhà nước chưa thực sự là của dân,
nhân dân chưa có đủ điều kiện để kiểm soát hữu hiệu quyền lực nhà nước.
Kiểm soát quyền lực từ tổ chức bộ máy nhà nước theo nguyên tắc
phân quyền có những ưu điểm sau đây:
Thứ nhất: Sự phân ra rành mạnh về chức năng và nhân sự, cùng với
cơ chế kìm chế, đối trọng vừa có tác dụng đề cao trách nhiệm cá nhân, tính
độc lập sáng tạo của cá nhân trong thực thi quyền lực nhà nước vừa hạn chế

nước, đòi hỏi nhà nước XHCN phải đảm bảo tổ chức theo nguyên tắc tập
trung dân chủ. Nguyên tắc này đảm bảo cho nhân dân thông qua những người
đại diện của mình có thể kiểm soát toàn bộ quyền lực nhà nước.
1.1.3. Tư tưởng về kiểm soát quyền lực nhà nước trong lịch sử tư
tưởng chính trị
Việc kiểm soát quyền lực có thể được xem xét từ nhiều khía cạnh
khác nhau, trong đó có ít nhất là hai xuất phát điểm cơ bản: từ lợi ích của
những người nắm giữ quyền lực và từ lợi ích của những người chịu tác động
quyền lực. Thực tiễn lịch sử cho thấy các chủ thể nắm quyền lực thường có xu
hướng lạm quyền, sử dụng quyền lực được trao để mưu tính lợi ích khu biệt,
cá nhân. Ngay từ thời cổ đại cho đến ngày nay việc nghiên cứu về kiểm soát
quyền lực đã được đề cập đến ở các mức độ khác nhau trong lịch sử tư tưởng
chính trị cả phương Đông và phương Tây. Nhằm đưa ra những kiến giải để
kiểm soát quyền lực khi quyền lực được trao cho chủ thể nắm quyền.


13

1.1.3.1. Các nhà tư tưởng cổ đại
- Phương Đông
Tư tưởng về quyền lực chính trị và kiểm soát quyền lực cai trị đáng
chú ý nhất trong trường phái pháp trị Trung Hoa cổ đại, được biểu hiện trong
tác phẩm của Hàn Phi Tử, một "Tập đại thành" gói trọn kinh điển pháp gia.
Trong xã hội phong kiến chuyên chế phương Đông, vua thâu tóm mọi quyền
lực nhà nước cả quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp, tức vận mệnh của đất
nước đặt cược vào trong tay một con người. Việc kiểm soát quyền lực từ trên
xuống của nhà vua là khá chặt chẽ, để chống lại sự phản kháng của dân chúng
và sự mưu lợi ích riêng của đội ngũ quan lại, nhằm mục đích bảo vệ chế độ
chính trị quân chủ chuyên chế, đem lợi ích cho vua và giai cấp thống trị. Thực
hiện mục tiêu đó, các nhà pháp trị đặc biệt là Hàn Phi Tử đã không ngừng tìm

cách thỏa đáng; mâu thuẫn công và tư, trung với hiếu, danh và thực trong đời
sống con người. Cho nên trị nước phải coi trọng pháp luật, thưởng phạt phải
nghiêm minh, pháp luật là công cụ của các đế vương khi thực thi quyền lực,
để cai trị đất nước và nó đã đáp ứng được yêu cầu xây dựng một nhà nước
phong kiến trung ương tập quyền mạnh.
- Các nhà tư tưởng cổ đại phương Tây
Không chỉ có trong các nhà nước đương đại mà đã xuất hiện ngay từ
thời cổ đại, ở Aten vào năm 461 TCN dưới chính quyền Pericles, Hội nghị
nhân dân - cơ quan có chức năng tương tự như cơ quan lập pháp ngày nay,
mỗi năm phải họp ít nhất 10 lần và trong hội nghị, theo thủ tục bao giờ dân
chúng cũng được mời biểu quyết chấp thuận hay khiển trách các viên chức
của họ. Nếu khiển trách thì tiếp theo sẽ có cuộc truy tố trước tòa án; tương tự
như một thủ tục bãi nhiệm; khi đến cuối năm mỗi viên chức phải tường trình
trước một ủy ban đặc biệt về tiền công quỹ mà họ là người thu, người giữ, hay
người chi tiêu. Đây là hình thức ban đầu sơ khai của sự kiểm soát của nhân


15

dân đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước, sự kiểm soát của cơ quan lập
pháp đối với các nhân viên nhà nước.
- Bước chuyển sang chế độ phong kiến cũng đồng thời đánh dấu sự
thay đổi cơ bản trong tổ chức quyền lực xã hội. Toàn bộ quyền lực từ quyền
lập pháp, hành pháp đến quyền tư pháp đều tập trung vào một người là nhà
vua. Do không có cơ chế kiểm soát, quyền lực xã hội phong kiến chìm đắm
trong sự độc đoán chuyên quyền, còn gọi là "đêm dài trung cổ".
- Trong xã hội chiếm hữu nô lệ và phong kiến, quyền lực nhà nước
(quyền hành pháp, quyền lập pháp, quyền tư pháp) đều nằm trong tay một nhà
quân chủ. Nhà nước quân chủ chuyên chế - quyền lực của nhà vua là vô hạn.
Cách tổ chức quyền lực chuyên chế dẫn đến sự lạm quyền, và tùy tiện.

Tầng lớp các pháp quan là những người có lý trí, có vai trò cai trị
thành bang.
Tầng lớp chiến binh là những người có sức mạnh bảo vệ thành bang.
Tầng lớp nông dân, thợ thủ công là những người nặng về đời sống
nhục cảm, có trách nhiệm cung cấp đồ ăn, vật dụng cho thành bang.
1.1.3.2. Các nhà tư tưởng thời cận đại
Các nhà tư tưởng thời cận đại đã kế thừa tư tưởng phân quyền về kiểm
soát quyền lực thời cổ đại, phát triển thành học thuyết "phân chia quyền lực"
vào thời kỳ cách mạng tư sản thế kỷ XVI - XVIII đại diện là Jon Lock và đỉnh
cao là Mongtecxkiơ.
Theo Jon Lock (1632 - 1704), trong tác phẩm sự luận giải về chính quyền,
thì để bảo đảm quyền lực thực thi đúng quĩ đạo của nó; quyền lực nhà nước
phải được hạn chế theo nguyên tắc phân chia quyền lực; tách hành pháp ra
khỏi lập pháp và nhà làm luật cũng phải lệ thuộc vào luật, tuân theo luật, chia
quyền lực nhà nước thành: lập pháp, hành pháp, và quyền lực liên bang.
Quyền lập pháp do nghị viện, cơ quan đại diện nhân dân thực hiện. Quyền


17

hành pháp và quyền liên bang cần trao cho một nhân vật - nhà quân chủ,
nhưng người đó không được lạm quyền. Còn quyền tư pháp chỉ là một bộ
phận của quyền hành pháp, nhưng khi xét xử phải có sự tham gia của nhân
dân.
Jon Lock muốn trao từng bộ phận quyền lực cho những lực lượng
chính trị xã hội khác nhau là tư sản và phong kiến.
Trong cơ cấu quyền lực, quyền lập pháp có vai trò chủ đạo, nhưng
không tuyệt đối vì quyền lực tối cao thuộc về nhân dân. Là người có thể giải
tán hay thay đổi thành lập cơ quan lập pháp khi hoạt động không còn đủ tín
nhiệm với nhân dân...

công tác kiểm tra, kiểm soát.
Tổ chức, hình thức, phương pháp tiến hành kiểm tra, kiểm soát
Công tác tổ chức là công tác có ích nhất và cần thiết nhất cho nhân
dân. Nếu quần chúng không có tổ chức thì không thể đảm bảo một sự kiểm
tra, kiểm soát nghiêm chỉnh. Cần đề bạt những người có tài tổ chức xuất thân
từ tất cả các tầng lớp dân cư, các giai cấp vào cương vị then chốt trong bộ
máy kiểm tra, kiểm soát. Vấn đề cấp thiết nhất là tiến hành cải tiến bộ máy
nhà nước Xô viết theo nguyên tắc "Thà ít mà tốt". Cơ quan đầu tiên cần phải
được cải tiến là Bộ dân ủy Thanh tra công nông. Phải chọn người đứng đầu có
uy tín, coi trọng chất lượng và tinh giảm biên chế của cơ quan này.
Riêng đối với cơ quan kiểm tra của Đảng phải được củng cố, xây
dựng đủ mạnh để thực thi tốt chức năng, nhiệm vụ của nó. Cần thiết lập ban
kiểm tra song song với Ban chấp hành Trung ương. Thành phần của Ban này
bao gồm những đồng chí có uy tín nhất. Các thành viên của Ban kiểm tra
Trung ương có quyền tham dự các kỳ họp của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, có
quyền đọc các tài liệu và có ý kiến.
Để nâng cao hiệu quả kiểm tra, kiểm soát cần thực hiện tốt những
phương pháp chủ yếu sau:
Một là, phải tổ chức phối hợp việc kiểm tra, kiểm soát từ dưới lên và
từ trên xuống. Nhất thiết phải đặt ra và chấp hành những quy tắc về tiếp dân,
tổ chức phòng tiếp khách sao cho việc lui tới cơ quan được tự do, hoàn toàn
không cần có giấy phép nào cả.
Hai là, phải công khai hóa việc kiểm tra, kiểm soát.
Ba là, kiểm tra phải thực sự, hình thức kiểm tra phải linh hoạt.


23

Bốn là, kiểm tra và xử lý phải thật nghiêm minh, kiên quyết.
1.1.3.4. Tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh và quan điểm Đảng

Phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng..
Phải tổ chức sự thi hành cho đúng...
Phải tổ chức sự kiểm soát... [46, tr. 285].
Như vậy, sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước không phải là viết nghị
quyết và ra chỉ thị, mà điều quan trọng, lãnh đạo còn là tổ chức thi hành và
kiểm soát thực hiện. Lãnh đạo là kiểm soát, điều đó hoàn toàn chính xác cả về
lý luận và thực tiễn. Sự chính xác của các quyết định của Đảng và Nhà nước
phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có một yếu tố quan trọng là công tác
kiểm tra, kiểm soát. Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Đảng có hiểu rõ tình hình thì đặt
chính sách mới đúng".. nếu không biết rõ tình hình mà đặt chính sách thì kết
quả là "nồi vuông úp vung tròn" không ăn khớp gì hết [46, tr. 267].
Kiểm tra, kiểm soát là tất yếu khách quan còn ở chỗ muốn cho ý chí,
trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân thành hiện thực cuộc sống thì phải thường
xuyên quan tâm đến công tác quan trọng đó.
Trong tác phẩm "Một việc mà các cơ quan lãnh đạo cần thực hành
ngay". Hồ Chí Minh khẳng định:
Chính sách đúng là nguồn gốc thắng lợi.
Song từ nguồn gốc đi đến thắng lợi thực sự còn phải tổ
chức, phải đấu tranh.
Khi đã có chính sách đúng thì sự thành công hoặc thất bại
của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn
cán bộ và do nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài thì chính sách đúng
mấy cũng vô ích [46, tr. 520].
Ở đây chúng ta dễ dàng nhận thấy, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo
tư tưởng của V.I. Lênin:


25

Khi mục đích, nhiệm vụ chính trị đã được xác định, quyết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status