LUẬN văn THẠC sĩ ĐẢNG LÃNH đạo TRANH THỦ sự GIÚP đỡ QUỐC tế TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG mỹ, cứu nước từ năm 1965 đến năm 1975 - Pdf 40

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân

CMDTDCND

Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền

CMLTMNVN

Nam Việt Nam
Chủ nghĩa đế quốc

CNĐQ

Chủ nghĩa tư bản

CNTB

Chủ nghĩa xã hội

CNXH

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

CHXHCN

Đảng Cộng sản Việt Nam

ĐCSVN


ĐẢNG TRANH THỦ SỰ GIÚP ĐỠ QUỐC TẾ
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC
(1965 - 1975)

9

1.1 Yêu cầu khách quan của vấn đề tranh thủ sự giúp
đỡ quốc tế trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
(1965-1975)

9

1.2 Chủ trương của Đảng về tranh thủ sự giúp đỡ quốc
tế trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (19651975)

25

Chương II ĐẢNG CHỈ ĐẠO TRANH THỦ SỰ GIÚP ĐỠ QUỐC
TẾ TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU
NƯỚC (1965 - 1975). KẾT QUẢ VÀ KINH NGHIỆM

42

2.1 Đảng chỉ đạo tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế trong
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1965-1975)

42

2.2 Kết quả và nguyên nhân tranh thủ sự giúp đỡ quốc
tế trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (19651975)

của đế quốc Mỹ ngày càng lộ rõ, tâm lý sợ Mỹ, sợ chiến tranh đang diễn ra trong
các phong trào tiến bộ và các lực lượng nhân dân tiến bộ thế giới. Nhất là chính
sách “bên miệng hố chiến tranh” của Mỹ và đã đe dọa nghiêm trọng hòa bình,
an ninh thế giới; tác động tiêu cực đến sự phát triển của phong trào giải phóng
dân tộc. Bên cạnh đó, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt
Nam diễn ra trong bối cảnh cộng đồng XHCN và phong trào cộng sản và công
nhân thế giới, nhất là hai nước lớn là Liên Xô và Trung Quốc, đang có mâu
thuẫn về đường lối cách mạng thế giới và không thể thống nhất trong hành động
chống Mỹ xâm lược Việt Nam.
Trước những diễn biến khó khăn, phức tạp trong quan hệ quốc tế, Đảng
Cộng sản và nhân dân Việt Nam vẫn quyết tâm tiếp tục đẩy mạnh cuộc kháng
chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Mặt khác, Đảng ta đã tiến hành đường lối
đoàn kết quốc tế rộng mở, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của phong trào tiến bộ
và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, sự giúp đỡ to lớn của cộng đồng
các nước XHCN. Nhờ chủ trương đúng đắn đó, cuộc kháng chiến của nhân dân
Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược đã không chỉ duy nhất trở thành tâm
điểm chú ý của dư luận thế giới, làm xúc động lương tri nhân loại tiến bộ, mà
còn có tác động biến phong trào đoàn kết quốc tế với nhân dân Việt Nam thành
một làn sóng mạnh mẽ chống đế quốc Mỹ. Đặc biệt, sự giúp đỡ to lớn cả về vật
chất lẫn tinh thần của các nước anh em XHCN, nhất là Liên Xô và Trung Quốc
đã góp phần quan trọng làm cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam lớn
mạnh cả về thế và lực, nhanh chóng đi đến thắng lợi.


4

Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đại
biểu toàn quốc lần thứ IV ngày 14/12/1976 đã nêu: "Thắng lợi trọn vẹn của
nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước gắn liền với sự ủng hộ
chí tình và sự giúp đỡ to lớn của anh em bầu bạn khắp năm châu." [1, tr.616] đã


5

Đảng ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”, Nxb Sự thật, Hà Nội,
1996 của Hoàng Tùng. Những công trình trên đã nêu lên những nguyên nhân và
bài học lớn dẫn đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; có
những đánh giá sâu sắc về hoạt động đấu tranh ngoại giao và đoàn kết quốc tế
của Đảng trong kháng chiến chống Mỹ giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975.
Tuy nhiên, các công trình này chỉ dừng lại ở những vấn đề lớn, phạm vi rộng
của cuộc kháng chiến chống Mỹ, không đề cập đến chủ trương tranh thủ sự giúp
đỡ quốc tế của Đảng, song là cơ sở và là nguồn tư liệu quí giúp tác giả định
hướng nội dung trong quá trình nghiên cứu đề tài.
Các bài viết, các công trình nghiên cứu về hợp tác quốc tế, sự ủng hộ và
chi viện quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta
bao gồm: “Việt Nam - Liên Xô 30 năm quan hệ (1950-1980)”, Nxb Tiến bộ, M.,
1983; “Sự hợp tác quốc tế giữa Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Việt
Nam - Lịch sử và hiện tại”, Nxb. Sự thật, H., 1987 của Nguyễn Vịnh; "Trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: nguồn chi viện to lớn của Liên Xô,
Trung Quốc và các nước XHCN", báo Quân Đội Nhân Dân, ngày 13/4/2005 của
Trần Tiến Hoạt và Lê Quang Lạng; “Sự giúp đỡ của Trung Quốc đối với Việt
Nam những năm 1965 - 1968”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 7 (95) năm
2009, của Nguyễn Văn Quyền; “Góp phần tìm hiểu viện trợ của nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc cho Việt Nam (1965-1975)”, Tạp chí Lịch sử quân
sự, số 158/2005 của Nguyễn Văn Quyền; “Tìm hiểu viện trợ của nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Rumani cho Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
(1954-1975)”, Tạp chí Lịch sử Quân sự, số 167/2005 của Nguyễn Văn Quyền;
“Phong trào đấu tranh chống Mỹ ở châu Mỹ latinh: Từ sau chiến tranh thế giới
thứ hai”, Nxb Khoa học xã hội, H., 1968 của Phạm Xuân Nam... Các công
trình này tập trung thể hiện quan hệ hữu nghị và sự giúp đỡ quốc tế thông qua
thống kê số liệu hợp tác giúp đỡ trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế

khảo như: “Liên xô với cuộc chiến tranh Việt Nam (1954 -1975) - nhìn
từ chiến tranh lạnh” của tác giả Văn Ngọc Thành đăng trên “Kỷ yếu hội thảo
quốc tế quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga - lịch sử, hiện trạng và triển
vọng”, Viện khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội 3/2010, “Chủ trương của
Đảng Cộng sản Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc từ năm 1975 đến năm
2001”, Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Mai Hoa, 2007; “America, the Vietnam


7

War and the World”, Nxb ĐH Cambridge, 2003, bài tiểu luận của Eva Maria
Stolberg, giáo sư ở ĐH Bonn có tựa đề "Trung Quốc và Liên Xô nhìn nhận vấn
đề chiến tranh Việt Nam như thế nào?"; các bài viết trên các trang website...
phân tích về mối quan hệ Việt Nam - Trung Quốc - Liên Xô, là nguồn bổ sung,
kiểm chứng và đối chiếu những tài liệu mà tác giả sử dụng trong luận văn.
Nhìn chung những công trình trên đều đề về hoạt động chỉ đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam dưới góc độ đoàn kết quốc tế và đấu tranh ngoại giao trong
thời kỳ chống Mỹ, cứu nước; nếu có bàn về quan hệ ngoại giao hoặc viện trợ
quốc tế thì chỉ trình bày hạn chế trong khoảng thời gian hẹp, và chỉ dừng trong
các mối quan hệ song phương. Cho đến nay chưa có một công trình nào trình
bày một cách cụ thể, có hệ thống về chủ trương tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế của
Đảng trong kháng chiến chống Mỹ thời kỳ 1965-1975. Tác giả có kế thừa những
thành tựu nghiên cứu của những công trình trên trong việc thực hiện luận văn
của mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ
* Mục đích
Làm sáng tỏ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về tranh thủ sự giúp đỡ
quốc tế trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1965 đến năm 1975. Qua
đó rút ra những kinh nghiệm và vận dụng những quan điểm của Đảng về tranh
thủ sự giúp đỡ quốc tế đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN

chống Mỹ, cứu nước và giai đoạn kết thúc chiến tranh. Góp phần đánh giá đúng
nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước;
Góp phần khẳng định về nghệ thuật xây dựng và phát huy sức mạnh tổng
hợp trong chiến tranh nhân dân giải phóng dân tộc. Những kinh nghiệm rút ra có
thể tham khảo vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho quá trình giảng dạy
môn Lịch sử Đảng trong các nhà trường Quân đội.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
kết cấu thành 2 chương (5 tiết)


9

Chương 1
YÊU CẦU KHÁCH QUAN VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG
TRANH THỦ SỰ GIÚP ĐỠ QUỐC TẾ TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG
MỸ, CỨU NƯỚC (1965 - 1975)
1.1 Yêu cầu khách quan của vấn đề tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế
trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1965-1975)
1.1.1 Cơ sở lý luận:
Thế kỷ XVIII, khi chủ nghĩa tư bản đang ở giai đoạn phát triển, giai cấp
tư sản là lực lượng trung tâm xã hội, có khả năng nắm vững ngọn cờ dân tộc,
giải quyết được vấn đề dân tộc, đưa dân tộc phát triển. Đó là dân tộc tư sản.
Trong hoàn cảnh lịch sử ấy, giai cấp công nhân là những người “không có tổ
quốc”, phải phấn đấu tự mình trở thành dân tộc, thành lực lượng nắm chính
quyền. Vì thế, muốn giải phóng dân tộc, trên hết phải giải phóng giai cấp công
nhân, C.Mác đã nêu khẩu hiệu nổi tiếng “vô sản các nước đoàn kết lại” [3,
tr.64].
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản phát triển thành chủ

mạng cũng phải thay đổi, không thể đánh thắng một kẻ thù mới bằng con đường
cũ, cách làm cũ. Người cho rằng: các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX, đầu
thế kỷ XX ở Việt Nam thất bại là do các phong trào đó thiếu một phương pháp
cách mạng đúng đắn, hoặc chưa biết kết hợp các phong trào trong nước với
nhau, hoặc thiếu sự liên hệ giữa phong trào đấu tranh ở trong nước với phong
trào đấu tranh của các dân tộc khác, nhất là phong trào đấu tranh của các dân tộc
thuộc địa, phụ thuộc. Theo Người trong thời đại mới “...không thể nào hạn chế
những hoạt động hiện nay và tương lai của chúng tôi trong khuôn khổ dân tộc
thuần tuý, rằng những hành động đó có muôn ngàn sợi dây liên hệ với cuộc đấu
tranh chung của thế giới tiến bộ” [5, tr.596]
Trong quá trình bôn ba tìm con đường làm cách mạng, Hồ Chí Minh đã
nhận ra rằng các nước đế quốc không hành động đơn độc, mà chúng có sự phối
hợp chặt chẽ với nhau để bóc lột người lao động. Một mặt, chúng đưa lính ở
chính quốc đi đàn áp các cuộc nổi dậy ở các nước thuộc địa; mặt khác, chúng lại
tuyển mộ lính từ thuộc địa để quay về đàn áp phong trào đấu tranh ở chính quốc.
Hồ Chí Minh khẳng định: ở đâu, dù thuộc địa hay chính quốc cũng đều có người
bị bóc lột và kẻ bóc lột, cho “... dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai
giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột” [6, tr.266]. Từ đó,
Người đi đến kết luận: chủ nghĩa đế quốc là một lực lượng phản động quốc tế,
muốn đánh thắng chúng, phải thực hiện liên minh chiến đấu giữa lao động các
5
6

Hồ Chí Minh tuyển tập, Nxb Sự thật, H., 1960
Hồ Chí Minh (1924), “Đoàn kết giai cấp”, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H., 2000, T.1


11

thuộc địa với nhau và giữa lao động thuộc địa với vô sản ở chính quốc, không

T.9, Nxb CTQG, H., 2000


12

Với việc nắm bắt chính xác đặc điểm xu thế của thời đại, bằng thực tiễn
hoạt động trong phong trào vô sản, Hồ Chí Minh đã nhận thức ngày càng sâu
sắc về vai trò, nội dung của việc tranh thủ sức mạnh thời đại. Người khẳng định:
trước hết, đội tiền phong của giai cấp vô sản Việt Nam phải biết kết hợp chủ
nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản, độc lập dân tộc với
chủ nghĩa xã hội; đặt cách mạng Việt Nam trong sự gắn bó với cách mạng vô
sản thế giới, gắn mục tiêu cách mạng Việt Nam với mục tiêu chung của thời đại.
Theo Hồ Chí Minh tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc tế là sự tận
dụng những nhân tố có lợi của thời đại để tăng thêm sức mạnh tổng hợp cho
cuộc đấu tranh của dân tộc mình, chống lại kẻ thù có tiềm lực lớn hơn. Hồ Chí
Minh cho rằng: mỗi dân tộc, mỗi cuộc cách mạng đều có đặc thù riêng, đó là cơ
sở để mỗi đảng vạch ra đường lối cách mạng riêng của mình, nhưng phải có
những đặc điểm chung của nhân loại, là hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và
chủ nghĩa xã hội làm điểm tương đồng; lấy lý luận khoa học của giai cấp vô sản
là chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng, cơ sở để thực hiện đoàn kết. Người
nói“trong tình hình quốc tế hiện nay, những đặc điểm dân tộc và những điều
kiện riêng biệt của từng nước ngày càng trở thành nhân tố quan trọng trong
việc vạch ra chính sách của mỗi đảng cộng sản và đảng công nhân. Đồng thời
chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là cơ sở không gì lay chuyển nổi của cuộc đấu tranh
chung của tất cả các đảng ấy...”[8, tr.596] Hơn nữa, để tranh thủ sự đồng tình,
ủng hộ quốc tế phải làm cho mỗi dân tộc gạt bỏ được sự vị kỷ và chủ nghĩa dân
tộc hẹp hòi, phá bỏ sự biệt lập, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, mở ra mối
quan hệ quốc tế ngày càng rộng lớn giữa các dân tộc, làm cho vận mệnh của mỗi
dân tộc gắn liền với vận mệnh chung của cả loài người, và phải phấn đấu để
cách mạng mỗi nước phải phát triển hướng đến mục tiêu cao cả của nhân loại là

tiến bộ; đồng thời không quên nghĩa vụ quốc tế cao cả của mình.
Hồ Chí Minh rất coi trọng sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế, Người coi đó
vừa là biểu tượng cao cả của tình cảm quốc tế vô sản trong sáng, vừa là nghĩa vụ
thiêng liêng của những người cộng sản vì mục tiêu chung của giai cấp vô sản thế
giới; đồng thời vừa là điều kiện quan trọng giúp cho sự nghiệp đấu tranh của
một dân tộc phát triển, vừa là nhân tố góp phần vào thắng lợi chung của phong
trào vô sản quốc tế. Vì vậy, một mặt Hồ Chí Minh thẳng thắn phê phán các đảng
9

Hồ Chí Minh, “Cách mạng tháng Mười vĩ đại mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc”, Hồ Chí Minh
toàn tập, T.12, Nxb CTQG, H., 2000
10
Hồ Chí Minh, “Quốc tế cứu tế đỏ”, Hồ Chí Minh toàn tập, T.2, Nxb CTQG, H., 2000
11
Hồ Chí Minh, “Phát biểu tại phiên họp thứ 22 Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản”, Hồ Chí Minh toàn tập,
T.1, Nxb CTQG, H., 2000
12
Hồ Chí Minh, “Bản truyền đơn bằng tiếng Việt của Ban nghiên cứu thuộc địa của Đảng Công sản Pháp”, Hồ
Chí Minh toàn tập, T.1, Nxb CTQG, H., 2000


14

xã hội thuộc Quốc tế II vẫn chưa làm gì để giáo dục cho giai cấp công nhân
nước mình tinh thần quốc tế chủ nghĩa chân chính; mặt khác, Người không quên
nhắc nhở giai cấp vô sản "muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp
lấy mình đã" [13, tr.293]. Cũng theo Hồ Chí Minh: mối quan hệ giữa sức mạnh
dân tộc và sức mạnh thời đại là rất mật thiết, không thể tách rời, có tác dụng
thúc đẩy lẫn nhau phát triển, trong đó: nguồn sức mạnh nội sinh có vai trò quyết
định, nguồn sức mạnh ngoại sinh đóng vai trò quan trọng và chỉ được phát huy

15

nhau bảo vệ hoà bình và xây đắp dân chủ thế giới” [16, tr.8]. Cũng theo Hồ Chí
Minh: mở rộng đoàn kết, hợp tác không có nghĩa là đoàn kết vô nguyên tắc, là
hy sinh quyền lợi dân tộc; mà mục tiêu đầu tiên là để “làm cho nước mình ít kẻ
thù hơn hết, nhiều bạn đồng minh hơn hết” [17, tr.314], thực hiện mở rộng quan
hệ quốc tế không chỉ nhằm tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của những người vô
sản anh em, mà còn kéo phái chần chừ, trung lập ngả về phía mình, còn đối với
kẻ thù thì làm phân hoá hàng ngũ chúng. Muốn vậy phải kiên định mục tiêu
chiến lược, mềm dẻo trong sách lược, nhằm tranh thủ những điều kiện quốc tế
có lợi nhất cho cách mạng của ta. Mục tiêu chiến lược đó là: hoà bình phải gắn
liền với nền độc lập thực sự của quốc gia, dân tộc và được đặt trong môi trường
hoà bình thế giới, Người khẳng định: “nhân dân Việt Nam rất tha thiết với hoà
bình, nhưng hoà bình thật sự không thể tách khỏi độc lập thật sự” [18, tr.3]. Cuối
cùng, theo Hồ Chí Minh: “muốn làm cách mạng thắng lợi thì phải phân biệt rõ
ai là bạn ai là thù; phải thực hiện thêm bầu bạn, bớt kẻ thù.” [19, tr.605].
Tóm lại, theo Hồ Chí Minh: tranh thủ sự giúp đỡ của bè bạn quốc tế chính
là thực hiện kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; là thực hiện đoàn
kết quốc tế trên cơ sở tình cảm giai cấp vô sản; đồng thời là sự kết hợp chủ
nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản và còn là thực hiện xây
dựng khối liên minh chiến đấu giữa vô sản các nước để nhằm tăng cường sức
mạnh tổng hợp, huy động lực lượng cùng một lúc tiến công chủ nghĩa đế quốc
từ nhiều phía. Sức mạnh thời đại đó chính là sức mạnh của liên minh giai cấp vô
sản, của cách mạng vô sản và đảng tiên phong của nó, của lý luận và phương
pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin.
1.1.2 Cơ sở thực tiễn:
*) Thực tiễn Đảng lãnh đạo tranh thủ quốc tế từ năm 1945 đến năm 1965
Ngay khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời năm 1945, Chính phủ
đã sớm có những chủ trương đặt quan hệ ngoại giao với các nước trong khu vực
và trên thế giới. Song trên thực tế, do những hạn chế bởi điều kiện khách quan

của bạn bè quốc tế đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân ta. Nhân
kỷ niệm 10 năm Cách mạng tháng Tám, Hồ Chí Minh viết “10 năm trước đây,
chúng ta hầu như cô đơn, chỉ nhờ sức mạnh đoàn kết mà cách mạng thắng lợi.
Ngày nay, nhân dân ta lại có đại gia đình gồm 900 triệu anh em từ Á sang Âu
và nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới ủng hộ. Cho nên cuộc đấu tranh
chính trị để thực hiện hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước tuy
nhiều khó khăn, nhưng chúng ta nhất định thắng lợi”[21, tr.1]
Trong 10 năm tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (19551965), trên cơ sở không ngừng củng cố tình đoàn kết hữu nghị với Liên Xô,
Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác, ta đã tranh thủ viện trợ của các
nước anh em nhằm khôi phục và phát triển kinh tế miền Bắc: khôi phục giao
20
21

Lưu Văn Lợi (1996), “Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam 1945-1995”, Nxb CAND,, H., T.1
Hồ Chí Minh (1955), “Kỷ niệm Cách mạng tháng Tám”, Báo Nhân dân, số 534, ngày 19/8/1955


17

thông và xây dựng mới nhiều nhà máy có vai trò chủ lực cho nền kinh tế với
thiết bị, kỹ thuật hiện đại. Tính đến năm 1964, các nước xã hội chủ nghĩa đã
viện trợ không hoàn lại và cho Việt Nam vay dài hạn 750 triệu rúp; với sự giúp
đỡ của Liên Xô về kinh tế - kỹ thuật, Việt Nam đã bảo đảm được 46% năng
lượng điện, 90% khai thác than, 100% trong ngành khai khoáng...[ 22, tr.387].
Nhờ đó, ta đã thực hiện thắng lợi Kế hoạch 3 năm khôi phục kinh tế (19551957), Kế hoạch ngắn hạn 3 năm phát triển kinh tế văn hóa (1958-1960) và Kế
hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965), miền Bắc đã đạt được những thành tựu
trong công cuộc xây dựng CNXH: cơ bản tự túc được lương thực và gần như
thỏa mãn các nhu cầu về tiêu dùng, bắt đầu có tích lũy nội bộ, hàng trăm xí
nghiệp trung ương và địa phương được đưa vào vận hành, đời sống kinh tế xã
hội được cải thiện, số học sinh và sinh viên tăng từ 3,5 đến 25 lần, bệnh dịch

nước nhà” [23, tr.572]. Trước tình hình Hiệp định Giơnevơ bị Mỹ - Diệm xóa bỏ,
nhu cầu của cách mạng miền Nam lên cao, tháng 05/1959 Đảng Cộng sản Việt
Nam đã ra Nghị quyết Trung ương 15 về cách mạng Việt Nam trong điều kiện
mới, trong đó xác định rõ mối quan hệ cách mạng miền Nam trong mối quan hệ
với cách mạng miền Bắc, quan hệ cách mạng Việt Nam với cách mạng ba nước
Đông Dương và đặt trong xu thế tiến triển của cách mạng thế giới, từ đó xác
định con đường tiến lên của cách mạng miền Nam nhằm góp phần đẩy mạnh
phong trào cách mạng quốc tế, bảo vệ hòa bình thế giới.
Đường lối cách mạng và những chủ trương tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế
của Nghị quyết Trung ương 15 (01/1959) đã được Đại hội III của Đảng (9/1960)
phát triển thành đường lơi chung của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn cách
mạng mới, là cơ sở để Đảng ta hình thành đường lối đối ngoại, đoàn kết quốc tế
và tranh thủ sự trợ giúp quốc tế cho cách mạng Việt Nam, nhất là cuộc kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta.
*) Mưu đồ đẩy mạnh chiến tranh và chiến lược toàn cầu của Mỹ
Thất bại trong chiến lược "chiến tranh đặc biệt", đế quốc Mỹ phải thực
hiện chiến lược "chiến tranh cục bộ" trên đất nước ta. Từ tháng 2/1965, tổng
thống Mỹ Johnson bắt đầu khởi xướng mở rộng cuộc chiến tranh trên toàn lãnh
thổ Việt Nam24, bằng việc huy động một số lượng lớn quân đội Mỹ và các nước
đồng minh tham chiến trực tiếp trên quy mô lớn ở miền Nam và một lực lượng
lớn không quân, hải quân đánh phá miền Bắc, với âm mưu đánh bại cách mạng
23

Đảng Cộng sản Việt Nam (1967), “Thống nhất tư tưởng, đoàn kết toàn Đảng đẩy mạnh hoàn thành nhiệm vụ
công tác trước mắt”, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 18, Nxb CTQG, Hà Nội, 2005
24
Từ 7/2/1965 tổng thống Mỹ ra lệnh cho hải quân và không quân Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc;
8/3/1965 lữ đoàn viễn chinh lính thuỷ đánh bộ Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng; 01/4/1965, Hội đồng An ninh quốc gia
Mỹ chấp thuận quan điểm phát động chiến tranh cục bộ xâm lược trực tiếp Việt Nam; 28/7/1965 Johnson tuyên
bố tăng số quân Mỹ ở miền Nam lên 125.000 người. Tính đến tháng 4/1968, số quân Mỹ lên đến 543.000 người

khi đưa quân đội lên phía trước thì cũng phải đưa các nhà ngoại giao lên phía
trước. Các tướng lĩnh muốn tôi đưa ra nhiều nhiều hơn nữa. Họ muốn tiến xa


20

hơn. Song Bộ Ngoại giao cũng phải cung cấp cho tôi thêm cái gì nữa” [25,
tr.415].
Với mưu đồ tăng cường chiến tranh huỷ diệt đi đôi với tạo sức ép quốc tế
tới cuộc kháng chiến của nhân dân ta, tạo cục diện quốc tế có lợi cho cuộc chiến
đã trở thành một yêu cầu mang tính chiến lược của đế quốc Mỹ, nhằm hỗ trợ
tích cực cho thực hiện mục tiêu chiến tranh của Mỹ. Trước thực tiễn bất lợi đó,
đòi hỏi Đảng ta phải có đường lối, phương châm, chính sách đoàn kết đúng đắn
nhằm tranh thủ cao nhất sự ủng hộ, đồng tình của phong trào cách mạng thế
giới. Một mặt, Đảng phải khẳng định đường lối độc lập, tự chủ, biết dựa vào
thực lực để tiến hành kháng chiến và phải đánh thắng đế quốc Mỹ, làm cơ sở
cho bạn bè quốc tế hiểu rõ quyết tâm tiến hành cuộc kháng chiến của nhân dân
ta, tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam, góp phần thúc đẩy phong
trào cách mạng thế giới phát triển, từ đó tạo thành phong trào đoàn kết quốc tế
ủng hộ mạnh mẽ cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, làm cho tương
quan so sánh lực lượng có lợi cho cuộc kháng chiến; mặt khác, phải vừa kiên trì
nguyên tắc đoàn kết quốc tế vô sản, vừa mềm dẻo, linh hoạt nhằm đấu tranh với
những biểu hiện dẫn đến nguy cơ phá vỡ tính đoàn kết trong nội bộ các nước xã
hội chủ nghĩa, ảnh hưởng đến phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và trào
lưu giải phóng dân tộc.
Bên cạnh đó, đế quốc Mỹ tiến hành lôi kéo một số nước châu Á - Thái
Bình Dương tham gia mở rộng chiến tranh Việt Nam, sử dụng lực lượng tay sai
tiến công và uy hiếp Vương quốc Lào và Camphuchia, gây ra tình hình căng
thẳng ở khu vực Đông Nam Á, trực tiếp đe dọa độc lập, chủ quyền và nền hoà
bình, trung lập của hai Vương quốc Lào và Campuchia. Đòi hỏi Đảng ta phải có

kiến nghị với hai đồng Chủ tịch Hội nghị Giơnevơ, để buộc Mỹ và chính quyền
tay sai Nam Việt Nam tôn trọng Hiệp định. Ngày 09/7/1965 Chính phủ Cộng
hoà Nhân dân Trung Hoa ra tuyên bố “Nhân dân Trung Quốc quyết không
khoanh tay ngồi nhìn Mỹ mở rộng xâm lược Việt Nam và Đông Dương”. Điều
đó đã làm thất bại một bước mưu đồ nham hiểm, lợi dụng hoà hoãn và mâu
thuẫn giữa các nước lớn để kìm hãm và làm suy yếu cuộc đấu tranh sống còn
của nhân dân ta; tạo điều kiện tập hợp lực lượng đông đảo cho phong trào cộng
sản và công nhân quốc tế ủng hộ Việt Nam. Bên cạnh đó, nhằm tranh giành tăng
cường ảnh hưởng đối với Việt Nam cũng như với phong trào cộng sản và công
nhân quốc tế, cả hai nước Liên Xô, Trung Quốc đều bắt đầu có những bước đi
mạnh mẽ hơn trước trong việc ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam,
như tăng cường viện trợ hoặc có những phát ngôn mạnh mẽ trước các hành động


22

mở rộng chiến tranh của Mỹ. Điều này đã tạo ra cơ hội để cách mạng Việt Nam
tận dụng triệt để sự ủng hộ đường lối kháng chiến và tranh thủ sự trợ giúp có
lợi nhất của hai nước đồng minh lớn trong điều kiện hai nước đang từng bước đi
đến những thoả thuận hoà hoãn với Mỹ gây bất lợi cho cách mạng Việt Nam,
mở ra thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh việc trợ giúp và ủng hộ cuộc kháng chiến
chống Mỹ của nhân dân Việt Nam.
Điều lo ngại là trong khi Mỹ ngày càng dấn sâu vào các chính sách quân
sự ở Việt Nam, thì mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc bộc lộ ngày càng
công khai với mức độ căng thẳng ngày càng tăng, có nguy cơ làm phân liệt
phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Trong cuộc chạy đua nắm giữ vai trò
lãnh đạo phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, cả hai nước đều muốn lôi
kéo Việt Nam ủng hộ mình, đồng thời phê phán bên kia, thông qua các hứa hẹn
tăng cường viện trợ cho Việt Nam, đi ngược lại những nguyên tắc của chủ nghĩa
quốc tế trong sáng. Đầu những năm 1960, lãnh đạo Trung Quốc hứa hẹn viện trợ

“khi ăn chắc, miền Bắc có thể giúp quân sự cho miền Nam, nghĩa là khi hoàn
toàn chắc chắn không xảy ra chuyện gì, có thể cung cấp một số vũ trang mà
không cho ai biết. Nhưng nói chung là không giúp”[27, tr.42]; hoặc muốn Việt
Nam đánh Mỹ, không muốn Việt Nam đàm phán với Mỹ ngay cả khi diễn biến
cách mạng đã có nhiều dấu hiệu thuận lợi, trong hội đàm với Việt Nam tháng
4/1968 đại biểu Trung Quốc khuyên “Lúc này Việt Nam chấp nhận đàm phán
chưa phải là thời cơ và tư thế trên cao, ta đã nhân nhượng một cách vội vã”[28,
tr.51]. Có thể nói chính những chính sách hai mặt này của Liên Xô và Trung
Quốc đã gây không ít khó khăn cho cách mạng Việt Nam mỗi khi muốn đẩy
mạnh cuộc kháng chiến tiến lên một bước mới, vì vậy vấn đề đặt ra là làm sao
chúng ta vừa tiến hành đường lối kháng chiến thuận lợi với sự trợ giúp của hai
đồng minh lớn, vừa không để cuộc kháng chiến của nhân dân ta bị chi phối bởi
chính sách hoà hoãn của cả Liên Xô và Trung Quốc.
Tuy nhiên, dù Liên Xô và Trung Quốc có những mâu thuẫn về đường lối
cách mạng, nhưng trước sự lên án mạnh mẽ của các nước xã hội chủ nghĩa, của
nhiều đảng cộng sản và công nhân trên thế giới đối với hành động chiến tranh
của Mỹ, bày tỏ sự ủng hộ đối với sự nghiệp đấu tranh cho hoà bình, độc lập và
thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam; hơn nữa Liên Xô đang là đồng Chủ
tịch Hội nghị Giơnevơ, Trung Quốc vốn là thành viên tích cực kiến tạo nên thoả
thuận chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương và Việt Nam, lên cả
hai nước không thể làm ngơ trước việc đế quốc Mỹ ngang nhiên can thiệp và
27

28

Bộ Ngoại giao Việt Nam, “Sự thật về mối quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong ba mươi năm qua”, Nxb. Sự
thật, H,. 1979
Bộ Ngoại giao Việt Nam, “Sự thật về mối quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong ba mươi năm qua”, Nxb. Sự
thật, H,. 1979


chia rẽ nghiêm trọng: Quốc hội Mỹ chia rẽ sâu sắc, chính giới Mỹ bất đồng
trước những phiêu lưu mới của chính quyền Mỹ; sự phản đối gay gắt chiến tranh
29

Trịnh Vương Hồng, “Tổn thất của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam”, Báo Quân đội
nhân dân, số ra ngày 22/4/2005


25

xâm lược của những cá nhân và tổ chức tiến bộ, có uy tín trong chính giới Mỹ
đã hạn chế sự hiếu chiến của giới quân sự Mỹ, cô lập giới ủng hộ chiến tranh ở
Mỹ; phong trào phản chiến đã lôi cuốn hàng chục triệu người tham gia.
Chính giới nhiều nước, kể cả các nước đồng minh của Mỹ cũng bị phân
hoá, thậm chí ra mặt xa lánh; các nước phụ thuộc giảm hẳn lòng tin vào đế quốc
Mỹ; một số nước tư sản phương Tây và Nhật Bản đã tranh thủ việc Mỹ sa lầy ở
Việt Nam để vươn lên, thoát khỏi sự khống chế của Mỹ về chính trị, kinh tế và
quân sự, gây bất lợi cho ý định leo thang, mở rộng chiến tranh của Mỹ. Trước
những diễn biến của tình hình chính trị thế giới, đặt ra cho Đảng ta vấn đề phải
tập hợp lực lượng và tranh thủ dư luận quốc tế nhằm tranh thủ sự đồng tình,
ủng hộ của nhân loại tiến bộ thế giới, lôi kéo các nước còn đang do dự, trung
lập ngả sang ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, làm phân hóa
sâu sắc lực lượng đồng minh và nội bộ hàng ngũ kẻ thù, cô lập đế quốc Mỹ và
tay sai.
1.2 Chủ trương của Đảng về tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế trong
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1965-1975)
1.2.1 Quá trình hình thành chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam
về tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế
Ngay khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức sâu sắc mối
quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng quốc tế và nhận ra


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status