1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử phát triển xã hội, gia đình có vị trí đặc biệt, bởi nó
chính là tế bào của xã hội; từ gia đình, con người được sinh ra và trưởng
thành cả về thể chất và nhân cách. Xã hội và gia đình có tác động qua lại
với nhau; xã hội phát triển tạo điều kiện cho gia đình phát triển và ngược lại,
gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Ngày nay, vấn đề gia đình được thế giới rất
quan tâm. Liên hợp quốc đã lấy năm 1994 là "Năm quốc tế gia đình"; nhiều
nước phát triển và đang phát triển cũng nhận thức rõ rằng, củng cố sự vững
chắc của gia đình là nhân tố quan trọng để ổn định và phát triển xã hội.
Thực tế cho thấy, trong quá trình chuyển từ xã hội cổ truyền sang
xã hội hiện đại, sự biến đổi của gia đình đã diễn ra một cách sâu sắc, đồng
thời cũng đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, đặc biệt là trong quá trình đô
thị hóa (ĐTH). Nhiều quốc gia đã phải đối diện với không ít vấn đề liên
quan tới gia đình như nghèo đói, sự bùng nổ dân số, mâu thuẫn thế hệ, lệch
lạc trong mô hình gia đình; v.v.. Nghiên cứu các vấn đề này và đưa ra các
giải pháp phù hợp với bối cảnh hiện đại và tiếp nối với truyền thống đang
được nhiều quốc gia chú ý.
Ở Việt Nam nói chung, Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM) nói riêng,
trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), hội
nhập thế giới hiện nay, gia đình đang chứa đựng nhiều quan hệ đa dạng,
phức tạp và có nhiều biến đổi. Bối cảnh quá trình ĐTH đã làm cho gia đình
ở TP HCM thay đổi nhanh chóng và đối diện với nhiều thách thức mới để
thích nghi, tồn tại và phát triển. Thực tế cho thấy, không ít gia đình không
thích ứng được hoặc không thích ứng kịp với hoàn cảnh mới đã rơi vào
khủng hoảng, thậm chí đổ vỡ... Trước thực tế ấy, việc định hướng đúng sự
3
2002, tác giả Nguyễn Linh Khiếu đã nhấn mạnh vai trò của người phụ nữ
không chỉ trong chức năng giáo dục, mà còn trong chức năng kinh tế.
Trong bài "Suy nghĩ về việc xây dựng chiến lược phát triển gia đình hiện
nay" đăng trên Tạp chí Cộng sản, số 10-2003, Lê Thị Quý đã nhấn mạnh
việc phát triển gia đình trong mối quan hệ giới và bình đẳng giới; v.v.. Các
bài viết trên đã đề cập nhiều khía cạnh của vấn đề gia đình; phân tích mối
quan hệ biện chứng giữa phát triển gia đình và phát triển xã hội; tính tất
yếu khách quan của sự biến đổi cơ cấu, quy mô gia đình khi chuyển từ xã
hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp. Các tác giả cũng đã lý giải sâu
sắc ảnh hưởng nhiều mặt của xã hội với sự biến đổi của gia đình và dự báo
những xu hướng phát triển của gia đình.
Về ĐTH và mối quan hệ của nó với gia đình hiện nay cũng đã có
nhiều tác giả đề cập. Chẳng hạn, Trần Cao Sơn: "Dân số và tiến trình đô thị
hóa - động thái phát triển và triển vọng", Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
1995; Hoàng Ngọc Hòa: "Đô thị hóa trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa ở nước ta", Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 11-1996; Trần Ngọc
Hiên: "Kinh nghiệm về đô thị hóa ở các nước và sự vận dụng vào nước ta",
Tạp chí Cộng sản, số 13-1997; Hà Thị Phương Tiền - Hà Quang Ngọc:
"Lao động nữ di cư tự do, nông thôn - thành thị", Nxb Phụ nữ, Hà Nội,
2000; v.v.. Sự quan tâm chung của các tác giả là mối quan hệ qua lại trên
nhiều mặt giữa phát triển đô thị và xây dựng gia đình.
Đã có một số công trình, bài viết đề cập cụ thể hơn tới quan hệ
giữa gia đình và ĐTH ở TP HCM, như: Nguyễn Thành Rum: "Gia đình và
hôn nhân người Việt ở ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh", Luận án phó
tiến sĩ khoa học lịch sử, 1996; Lê Minh Nga: "Hai nguyên nhân làm tan rã
gia đình", Tạp chí Phụ nữ TP HCM, số 19-1996; Nguyễn Minh Hòa:
động của nó trong quá trình ĐTH hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu của luận án: Gia đình ở TP HCM được nghiên
cứu dưới góc độ chính trị - xã hội, trong quá trình ĐTH, nhất là trong thời
5
kỳ đổi mới đất nước từ năm 1986 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Cơ sở lý luận của luận án: Được thực hiện dựa trên những quan điểm
của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng,
chính sách và pháp luật của Nhà nước; kế thừa những thành tựu nghiên cứu
gần đây của các nhà khoa học về gia đình trong quá trình ĐTH.
Phương pháp nghiên cứu của luận án: Sử dụng các phương pháp
thống kê và điều tra xã hội học, phân tích và tổng hợp, gắn lôgíc với lịch sử
...
6. Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Luận án luận chứng khoa học về những biến động của gia đình
trong quá trình ĐTH ở một thành phố trọng điểm - TP HCM - mang sắc
thái đặc thù của vùng đất phía Nam.
- Qua nghiên cứu, luận án đề xuất một số giải pháp chủ yếu, phù
hợp, góp phần xây dựng gia đình trong quá trình ĐTH ở TP HCM.
7. Ý nghĩa của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể góp phần làm sáng tỏ thêm
những luận điểm lý luận và thực tiễn trong việc xây dựng mô hình gia đình
đô thị ở thành phố lớn; làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu khoa học
và giảng dạy một số chuyên đề liên quan của các bộ môn: Chủ nghĩa xã hội
khoa học, Xã hội học, Văn hóa xã hội chủ nghĩa...; góp phần làm luận cứ
cho việc hoạch định chủ trương, biện pháp của TP HCM đối với vấn đề gia
đình.
Khái niệm "gia đình" luôn gắn với khái niệm xã hội, trong đó gia
đình được xem là tế bào của xã hội. Trong tác phẩm "Nguồn gốc của gia
đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước" (1884), Ăngghen cũng đã chỉ ra
mối quan hệ biện chứng giữa gia đình và xã hội:
Theo quan điểm duy vật, nhân tố quyết định trong lịch sử,
quy cho đến cùng là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp.
8
Nhưng bản thân sự sản xuất đó lại có hai loại. Một mặt là sản
xuất ra tư liệu sinh hoạt, ra thức ăn, quần áo và nhà ở và những
công cụ cần thiết để sản xuất ra những thứ đó; mặt khác, là sự
sản xuất ra bản thân con người, là sự truyền nòi giống. Những
thiết chế xã hội, trong đó những con người của một thời đại lịch
sử nhất định đang sống là do hai loại sản xuất đó quyết định: Một
mặt là do trình độ phát triển của lao động và mặt khác là do trình
độ phát triển của gia đình [54, tr. 44].
Như vậy, theo Ăngghen, các mô hình gia đình trong lịch sử luôn
gắn với phương thức sản xuất và chế độ xã hội nhất định. Sự vận động,
biến đổi của gia đình luôn phụ thuộc vào sự vận động và biến đổi của xã
hội.
Gia đình luôn gắn liền với những đặc trưng và trình độ của phương
thức sản xuất của một xã hội nhất định. Lịch sử đã chứng minh rằng, trong
quá trình vận động của mình, mỗi hình thái kinh tế - xã hội có những hình
thức gia đình tương ứng. Theo quan điểm của L.H. Moóc-gan và được
Ăngghen tán thành, thì: "Gia đình là một yếu tố năng động, nó không bao
giờ đứng nguyên một chỗ, mà chuyển từ hình thức thấp lên một hình thức
cao, như xã hội phát triển từ một giai đoạn thấp lên một giai đoạn cao" [54,
tr. 57].
Khi mô tả sự đa dạng, phức tạp của kiểu hôn nhân và gia đình
phương Tây, tác giả coi sự biến đổi về hôn nhân và gia đình như là một quy
luật tất yếu của lịch sử mà không nhìn thấy những ảnh hưởng tiêu cực của
xã hội tư bản đến vấn đề gia đình; những chuẩn mực của gia đình truyền
thống và gia đình hạt nhân đang bị xói mòn trong xã hội phương Tây.
Những kiểu gia đình mới lạ - như tác giả mô tả - chỉ chứng minh cho sự
suy đồi, bế tắc của gia đình trong xã hội tư bản. Những mô hình gia đình đó
không phải là quy luật phổ biến đối với tất cả các quốc gia trên thế giới.
Đây chính là mặt hạn chế và sai lầm của Tô-phơ-lơ.
10
Tổ chức Văn hóa, khoa học và giáo dục của Liên hợp quốc
(UNESCO) đưa ra định nghĩa: "Gia đình là một nhóm người có quan hệ họ
hàng, cùng sống chung và ngân sách chung" [75, tr. 10]. Định nghĩa này đã
nhấn mạnh hai chức năng cơ bản của gia đình là chức năng sinh đẻ (huyết
thống) và chức năng kinh tế. Khái niệm "gia đình" ở đây được sử dụng để
chỉ một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và huyết
thống, phản ánh mối quan hệ cùng chung sống giữa cha mẹ, con cái, họ
hàng, đồng thời gắn liền với nó là chức năng kinh tế của gia đình. Theo
trình độ phát triển của xã hội, gia đình ngày càng tỏ rõ vai trò là một đơn vị
kinh tế cơ sở; chính hoạt động kinh tế chủ động và tự chủ này tạo nên sự
bền vững của gia đình.
Ở Việt Nam, khi bàn tới khái niệm "gia đình", một số tác giả cũng
có những định nghĩa khác nhau, tùy theo góc độ tiếp cận. Theo Đại từ điển
tiếng Việt, "gia đình là tập hợp những người có quan hệ hôn nhân và huyết
thống sống chung trong cùng một nhà" [95, tr. 719]. Trong cuốn "Tâm lý
học gia đình", Ngô Công Hoàn đã đưa ra khái niệm: "Gia đình là một nhóm
nhỏ xã hội, có quan hệ gắn bó về hôn nhân hoặc huyết thống, tâm sinh lý,
thay đổi cùng với sự phát triển của xã hội [40, tr. 7].
Từ cách hiểu trên, với phương pháp tiếp cận lịch sử, trình bày một
cách khái quát, chúng tôi quan niệm: Gia đình là tế bào của xã hội, trong đó
các thành viên cùng sinh sống dựa trên mối quan hệ hôn nhân và huyết thống,
cùng có chung những giá trị vật chất và tinh thần, cùng thực hiện các chức
năng khách quan phù hợp với yêu cầu, đặc điểm của mỗi giai đoạn lịch sử
nhất định.
1.1.1.2. Vai trò, chức năng của gia đình
Vai trò, chức năng của gia đình là một trong những nội dung then
chốt của việc nghiên cứu gia đình. Chức năng gia đình là cụ thể hóa vai trò
của gia đình; chức năng gia đình là cách thức cơ bản thỏa mãn các nhu cầu
sống, sinh hoạt và phát triển của gia đình trong quan hệ với xã hội. Các
13
nghiên cứu về gia đình - dù xét trên cấp độ vĩ mô (trong mối quan hệ với xã
hội tổng thể), hay xét ở cấp độ vi mô (trong mối quan hệ tương quan và tác
động qua lại giữa các thành viên) - đều khẳng định: gia đình có những chức
năng cụ thể, đặc trưng. Gia đình được tạo lập, tồn tại và phát triển chính là
do nó có sứ mệnh đảm đương những chức năng đặc biệt mà xã hội và tự nhiên
đã trao cho, không một thiết chế xã hội nào thay thế được. Quan hệ giữa gia
đình và xã hội cũng như quan hệ giữa các thành viên và các thế hệ trong gia
đình thông qua việc thực hiện các chức năng gia đình.
Mặt khác, gia đình là một phạm trù lịch sử. Mỗi thời đại lịch sử cũng
như mỗi chế độ xã hội đều sản sinh ra một loại gia đình tương ứng, xây
dựng một kiểu gia đình lý tưởng phù hợp với những chức năng xã hội của
nó. Ở thời tiền sử - như Mác và Ăngghen viết trong "Hệ tư tưởng Đức":
Gia đình "là quan hệ xã hội duy nhất". Khi đó, gia đình có vai trò vừa là
cộng đồng lao động, vừa là cộng đồng sinh hoạt, là khuôn khổ tồn tại của
tổng hợp quan trọng nhất, nó là rõ mục đích, giá trị mà gia đình hướng tới.
Còn theo GS. Lê Thi, ngoài các chức năng tái sản xuất ra con người;
làm kinh tế; nuôi dạy, giáo dục con cái; thỏa mãn nhu cầu tình cảm, cân
bằng tâm lý, gia đình còn có chức năng bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người ốm,
người già, phụ nữ, trẻ em [79, tr. 46]. Đây là một chức năng mà ít tài liệu nói
tới. TS. Lê Ngọc Văn lại cho rằng, gia đình có ba chức năng cơ bản: Chức
năng kinh tế; chức năng sinh đẻ và chăm sóc sức khỏe gia đình; chức năng
giáo dục - xã hội hóa [8, tr. 114-115]. Khi đề cập tới các chức năng này, tác
giả đã chú ý làm rõ sự khác biệt trong thực hiện các chức năng gia đình
giữa gia đình nông thôn và gia đình đô thị qua một số nội dung như: vai trò
hoạt động kinh tế của gia đình; sự thay đổi về nhận thức và nhu cầu trong
thực hiện chức năng sinh đẻ và chăm sóc sức khỏe gia đình; những khó
khăn, thuận lợi và xu hướng trong việc thực hiện chức năng giáo dục - xã
hội hóa gia đình.
15
Trong giáo trình môn "Chủ nghĩa xã hội khoa học" hiện hành [35, tr.
422] lại trình bày tách riêng chức năng sản xuất (kinh tế) và chức năng tiêu
dùng ra làm hai chức năng độc lập.
Trong nội dung chức năng giáo dục của gia đình, có tác giả không
trình bày rõ quan hệ giữa các thành viên trong việc nuôi dưỡng vật chất,
sinh học mà chủ yếu chỉ trình bày mặt giáo dục. Có tác giả đồng nhất chức
năng tiêu dùng với chức năng kinh tế; chức năng sinh đẻ với tái sản xuất ra
con người... Đúng ra, tiêu dùng bao gồm cả mặt vật chất và mặt tinh thần,
nên không thể đồng nhất chức năng tiêu dùng với chức năng kinh tế; chức
năng tái sản xuất ra con người cũng rộng hơn (bao gồm cả nuôi dưỡng,
giáo dục, tự phát triển) so với chức năng sinh đẻ, duy trì nòi giống.
Qua tham khảo nhiều cách tiếp cận khác nhau và bằng sự nghiên
lượng của các thành viên.
Hai là: Chức năng kinh tế (sản xuất các giá trị vật chất)
Cùng với quá trình phát triển lực lượng sản xuất, gia đình trở thành
một đơn vị kinh tế. Gia đình là một đơn vị có chung tài sản, trước hết về mặt
vật chất và sáng tạo ra các tài sản đó thông qua hành vi sản xuất, làm kinh
tế. Đây là một nền tảng vật chất không thể thiếu của gia đình. Tất nhiên,
mức độ biểu hiện của chức năng này rất khác nhau trong tiến trình lịch sử.
Trong xã hội Việt Nam truyền thống, đơn vị kinh tế gia đình gắn liền
với nền kinh tế nông nghiệp sản xuất nhỏ, kinh tế hàng hóa chưa phát triển, lại
chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng nho giáo. Ở đó nặng về tư tưởng "trọng
nông, ức thương", tự cung, tự cấp. Với phương châm tự cung, tự cấp,
"trước khi thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, chưa có một triều đại nào cho
phép thương nhân trong nước ra nước ngoài buôn bán, quá lắm là mở cửa
biển cho tàu buôn nước ngoài đến" [10, tr. 55]. Nhiều triều đại của nhà
nước phong kiến đã chủ trương phát triển nông nghiệp và coi lao động nông
nghiệp của các hộ gia đình nông dân như là một yếu tố để đảm bảo đời
17
sống của từng gia đình và đồng thời là một nhân tố cơ bản phát triển kinh tế
quốc gia.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH), do còn sản xuất
hàng hóa, còn nhiều thành phần kinh tế, khi kinh tế nhà nước và kinh tế tập
thể chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của cuộc sống, thì kinh tế gia đình (tồn tại
dưới hình thức hộ gia đình cá thể, tiểu chủ) là điều cần thiết. Kinh tế gia
đình vừa tăng thêm thu nhập cho gia đình, vừa góp phần tạo ra nhiều của
cải cho xã hội. Hoạt động kinh tế gia đình có những mức độ và hình thức
thể hiện khác nhau, nhưng đều vì mục đích tăng thu nhập, làm giàu chính
đáng, tạo điều kiện để thực hiện các chức năng khác của gia đình, góp phần
để định hướng sự phát triển nhân cách. Tuy nhiên, giáo dục gia đình lại có
vai trò quan trọng đầu tiên trong việc hình thành và phát triển nhân cách cá
nhân. Nội dung giáo dục gia đình bao gồm "các yếu tố của văn hóa gia đình,
văn hóa cộng đồng, nhằm tạo lập và phát triển nhân cách của con người như:
đạo đức, lối sống, ứng xử, tri thức, lao động và khoa học..." [34, tr. 81].
Giáo dục gia đình được thực hiện trong suốt quá trình sống của con người
với những hình thức và nội dung giáo dục cụ thể, phong phú.
Mác từng chỉ ra rằng: Con người là một động vật xã hội; sau khi lọt
lòng mẹ, nếu đứa trẻ không được sống trong môi trường gia đình, không
được sự giáo dục của gia đình, của xã hội, sẽ không trở thành một con
người thực thể. Quá trình chuyển biến đứa trẻ từ lúc lọt lòng đến lúc trưởng
thành, từ một thực thể - sinh học tự nhiên thành một thực thể xã hội mang
bản chất xã hội trước hết là nhờ sự nuôi dưỡng, giáo dục của gia đình. Đứa
trẻ sống được, lớn lên từng ngày trước hết nhờ sự nuôi dưỡng, chăm sóc
của cha mẹ chúng. Mặt mạnh đặc trưng của gia đình là mối quan hệ tình
cảm ruột thịt giữa cha mẹ và con cái, tạo nên một sự cảm hóa to lớn tác
động mạnh mẽ tới đứa trẻ.
Trong xã hội nông nghiệp Việt Nam, theo quan niệm giáo dục nho
19
giáo, giáo dục gia đình chủ yếu thiên vị giáo dục đạo đức, giáo dục phẩm
hạnh, giáo dục "đối nhân xử thế" trong quan hệ gia đình, họ hàng, làng xóm...
Những quan điểm "tam cương, ngũ thường", "danh phận"... trong xã hội
phong kiến được các gia đình chấp nhận và tuân thủ khá chặt chẽ. Mô hình
"người quân tử", "kẻ tiểu nhân" như có một công thức định sẵn và được các
gia đình đưa vào giáo dục gia đình một cách phổ biến.
Ngày nay, trong gia đình hiện đại, chức năng nuôi dưỡng, giáo dục
gia đình được phát triển ở một trình độ mới. Một bộ phận khá lớn trẻ em ăn
thỏa mãn nhu cầu tâm - sinh lý, đa số gia đình thật sự là tổ ấm của các
thành viên.
Như vậy, gia đình là thiết chế đa chức năng. Thông qua việc thực
hiện các chức năng trên đây mà gia đình tồn tại và phát triển, đồng thời tác
động đến tiến độ chung của cộng đồng (làng, xã, khu phố...) và xã hội. Các
chức năng thực hiện trong sự thúc đẩy, hỗ trợ lẫn nhau. Dĩ nhiên, việc phân
chia các chức năng của gia đình chỉ là tương đối. Ở các giai đoạn lịch sử
khác nhau, những nội dung của mỗi chức năng được biến đổi phù hợp với
những điều kiện cụ thể, với quá trình phát triển xã hội.
1.1.1.3. Các kiểu (hình thức) gia đình
Các kiểu (hình thức) gia đình tùy thuộc vào nền tảng cấu thành gia
đình, chức năng và trình độ phát triển kinh tế xã hội.
Trong thực tế lịch sửỷ, có nhiều kiểu (hình thức) gia đình khác nhau
trên cơ sở những tiêu chí (dấu hiệu) cụ thể nhất định. Kết hôn là mở đầu
cho một gia đình mới. Cho nên, đặc điểm kết hôn thường được quan tâm
nghiên cứu trước hết và được coi là tiêu chí hàng đầu để nhận dạng các
kiểu gia đình. Trong tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu
và của nhà nước", nhân những nghiên cứu có giá trị của L.M. Moóc-gan,
Ăngghen, đã chỉ ra những nét cơ bản của lịch sử gia đình trên cơ sở dấu hiệu
kết hôn. Theo đấy, có hai kiểu gia đình: tập thể và cá thể.
21
Gia đình tập thể tồn tại trong xã hội cộng sản nguyên thủy với những
đặc trưng chung là: kinh tế cộng đồng nguyên thủy, tính giao tập thể, không
có áp bức và bất bình đẳng giữa các thành viên, chế độ mẫu quyền, nhiều
thế hệ và đông đúc... Gia đình tập thể lần lượt có những hình thức cụ thể
hơn tương ứng với các giai đoạn phát triển của xã hội. Đó là: gia đình cùng
dòng máu (kết hôn nhiều vợ nhiều chồng, nam nữ trong cùng một thế hệ tất
nhược điểm nhất định đối với sự phát triển gia đình. Tuy vậy, hiện nay, gia
đình hạt nhân ngày càng phổ biến, do nó có khả năng đáp ứng được nhiều
hơn những nhu cầu của con người (nhất là giới trẻ) trong cuộc sống hiện
đại và điều kiện kinh tế, vật chất ngày càng cao. Phát huy những ưu điểm
và khắc phục những nhược điểm của hai hình thức gia đình này là đòi hỏi
của quản lý xã hội hiện nay.
Thông thường, gia đình có hai mối quan hệ cơ bản: hôn nhân và huyết
thống. Từ dấu hiệu của các quan hệ này mà chia ra hai kiểu gia đình: đầy đủ
và không đầy đủ. Gia đình đầy đủ là gia đình có cả bố mẹ và con cái cùng
các thành viên khác (nếu có) chung sống. Gia đình không đầy đủ (thiếu
thành phần) là gia đình khuyết chồng hoặc vợ hay không có con... Gia đình
đầy đủ có thuận lợi hơn về mặt tâm lý và thực hiện các chức năng khách
quan của mình. Gia đình không đầy đủ thường là do ly thân, ly hôn, góa
bụa, phụ nữ không chồng mà có con..., do vậy, có không ít khó khăn, rất
cần được thông cảm, động viên và giúp đỡ.
Các hình thức gia đình còn được phân theo nơi cư trú sinh sống và
khái quát nhất là hai kiểu: gia đình nông thôn và gia đình đô thị. Điều kiện
tự nhiên, sự khác biệt, chênh lệch giữa các vùng (miền) đã in dấu ấn vào
gia đình. Thường gia đình ở nông thôn mọi mặt hạn chế hơn, thấp hơn gia
đình ở đô thị. Khắc phục sự chênh lệch, tạo sự xích lại gần nhau giữa các
gia đình miền núi và miền xuôi, giữa nông thôn và đô thị, giữa các vùng
miền, là tinh thần của công bằng và bình đẳng xã hội.
23
Liên quan đến gia đình các vùng miền là các kiểu gia đình theo dấu
hiệu giai tầng. Gia đình nông dân sống ở nông thôn, tất cả hoặc hầu hết các
thành viên đến tuổi lao động đều làm nông nghiệp. Các gia đình công
nhân, trí thức, viên chức... chủ yếu sống ở đô thị. Các đặc trưng giai tầng nghề nghiệp chi phối đến các mối quan hệ trong mỗi loại gia đình, đến tác
đình tư sản, gia đình viên chức, gia đình thị dân chủ yếu sống bằng nghề buôn
bán nhỏ. Trong những năm 1945 - 1954, ở vùng giải phóng đã xuất hiện những
yếu tố của gia đình kiểu mới, còn ở vùng địch tạm chiếm về cơ bản vẫn là mô
hình gia đình kiểu cũ. Sau ngày miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, các gia
đình ở miền Bắc từng bước xây dựng, hình thành kiểu gia đình mới. Những
năm 1954 - 1975, các gia đình ở miền Nam nói chung, ở Sài Gòn - Gia Định
nói riêng, nhất là ở các đô thị, vừa sống dưới ách kìm kẹp của chế độ Mỹ Ngụy, vừa bị tác động mạnh mẽ của chế độ thực dân mới Mỹ. Sau ngày miền
Nam giải phóng, đất nước thống nhất, cả nước quá độ tiến lên CNXH, các
gia đình Việt Nam phát triển, từng bước định hình mô hình gia đình kiểu mới
- GĐVH.
1.1.2. Quan niệm về đô thị và đô thị hóa
1.1.2.1. Quan niệm về đô thị
Đô thị đã xuất hiện hàng nghìn năm trước Công nguyên. Những thành
phố đầu tiên trên thế giới được thiết lập ở Sumer (I-rắc) khoảng 5.000 năm
trước Công nguyên, khi nhiều nông dân định cư ở vùng đất phì nhiêu giữa sông
Tigris và Euphrates miền Nam Mesopotamia [5, tr. 302]. Ở châu Á, những
thành phố đầu tiên được hình thành tại các vùng Harrappa, Mohenjo-daro
thuộc thung lũng sông Indus (nay là Pa-ki-xtan) vào khoảng 2.500 năm trước
Công nguyên. Chế độ tư hữu ra đời đã làm cho sức sản xuất phát triển, phân
công lao động ngày càng chuyên môn hóa, dẫn đến sự phát triển của nông
nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, dần dần hình thành nên các đô thị. Những đô
thị đầu tiên ở vùng sông Nin (Ai Cập), vùng Lưỡng Hà, sông Ấn (Ấn Độ),
25
vùng sông Hoàng Hà (Trung Quốc), rồi đến sự xuất hiện của các đô thị Hy
Lạp, La Mã cổ đại... đánh dấu những bước tiến về quá trình phát triển đô thị
và xã hội.
Khi phân tích về quá trình hình thành các đô thị, trong tác phẩm