Công nghiệp văn hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay (Qua khảo sát một số lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn) - Pdf 41

Header Page 1 of 123.

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ KIM LIÊN

C¤NG NGHIÖP V¡N HãA ë
THµNH PHè Hå CHÝMINH HIÖN NAY
(Qua khảo sát một số lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA HỌC

HÀ NỘI – 2015

Footer Page 1 of 123.


Header Page 2 of 123.

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ KIM LIÊN

C¤NG NGHIÖP V¡N HãA ë
THµNH PHè Hå CHÝMINH HIÖN NAY
(Qua khảo sát một số lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA HỌC
Mã số: 62 31 06 40

Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN

1
8

ĐỀ TÀI

1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
1.3. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Chƣơng 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU CÔNG NGHIỆP

8
19
28
31

VĂN HÓA VÀ NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN Ở THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH

2.1. Một số khái niệm công cụ
2.2. Đặc điểm và vai trò của nghệ thuật biểu diễn
2.3. Những nhân tố tác động đến nghệ thuật biểu diễn ở Thành phố Hồ
Chí Minh hiện nay

31

Chƣơng 3: THỰC TRẠNG LĨNH VỰC NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN Ở

61

4.3. Khuyến nghị về các giải pháp phát triển lĩnh vực nghệ thuật biểu
diễn ở Thành phố Hồ Chí Minh

128

KẾT LUẬN
DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

146
150

Footer Page 4 of 123.

133

151
164


Header Page 5 of 123.

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

ASEAN

: Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á


: Nghệ sĩ ưu tú

PGS.TS

: Phó Giáo sư, Tiến sĩ

TNHH

: Trách nhiệm hữu hạn

TPP

: Đối tác Xuyên Thái Bình Dương

TS

: Tiến sĩ

Tp

: Thành phố

UNESCO

: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc

UNCTAD

: Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc


Hồng Vân giai đoạn 2009 – 2013
Biểu đồ 3.4: So sánh tỷ lệ đóng góp vào việc tăng doanh thu từ các dòng
sản phẩm của sân khấu kịch Hồng Vân giai đoạn 2009 – 2013
Biểu 3.5: Đánh giá về giá vé tại sân khấu
Biểu 3.6: Đánh giá về chất lượng ca sĩ
Biểu 3.7: Mức độ hài lòng của khán giả đối với chất lượng chương trình
Biểu 3.8: Đánh giá về chất lượng diễn viên chính
Biểu 3.9: Đánh giá về chất lượng diễn viên phụ
Biểu 3.10: Mức độ hài lòng của khán giả đối với chất lượng nội dung các
vở diễn
Biểu 3.11: Thông tin về các chương trình ca nhạc ở sân khấu này qua các
kênh truyền thông
Biểu 3.12: Thông tin về các vở diễn của các sân khấu qua các kênh truyền
thông
Biểu 4.1: Mức độ hài lòng của khán giả đối với chất lượng nội dung các vở
diễn
Biểu 4.2: Đánh giá của cán bộ quản lý sân khấu về thuật ngữ CNVH
Biểu 4.3: Đánh giá của cán bộ quản lý nhà nước về thuật ngữ CNVH
Biểu 4.4: Các vấn đề đặt ra hiện nay đối với sự phát triển của CNNTBD
Biểu 4.5: Định hướng giá trị của các đơn vị nghệ thuật

82
83
86
96
97
98
98
99
106

mới về lao động sáng tạo văn hóa – nghệ thuật, coi đó là một loại lao động đặc
biệt và tìm tòi nhiều phương thức nhằm phát triển văn hóa – nghệ thuật trong điều
kiện nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên cho đến nay, cả về lý luận và thực tiễn phát
triển công nghiệp văn hóa chỉ mới ở giai đoạn đầu, có nhiều vấn đề đang đặt ra cần
phải tiếp tục nghiên cứu.
Việt Nam đang ở thời kỳ phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa (XHCN), phát triển công nghiệp văn hóa là tất yếu khách quan.
Trong định hướng phát triển văn hoá của Đảng và Chiến lược phát triển văn hóa
từ nay đến năm 2020, vấn đề phát triển công nghiệp văn hoá đã được đặt ra.
Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình phát triển văn hóa nói
chung, phát triển công nghiệp văn hóa nói riêng. Có thể nói, Nghị quyết Hội
nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (Nghị quyết
Trung ương 5 khóa VIII) được coi như Nghị quyết có ý nghĩa đột phá chỉ rõ vai
trò của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế: “Văn hóa là kết quả của kinh tế,
đồng thời là động lực của sự phát triển kinh tế. Các nhân tố văn hóa phải gắn kết
chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh
tế, xã hội, luật pháp, kỷ cương… biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất
của phát triển” [19, tr.55]. Trong phần giải pháp xây dựng và phát triển văn hóa,
chính sách kinh tế trong văn hóa đã được Đảng ta xác định là một trong những
chính sách quan trọng tạo điều kiện nhiều hơn để phát triển sự nghiệp văn hóa.
Trong Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 (2009), lần đầu tiên ở Việt
Nam, khái niệm “công nghiệp văn hóa” đã xuất hiện và khẳng định: “Phát triển

Footer Page 7 of 123.


Header Page 8 of 123.

2


Footer Page 8 of 123.


Header Page 9 of 123.

3

được các đơn vị chú trọng, như phát triển thị trường khán giả, phân đoạn thị
trường, chọn thị trường mục tiêu, đẩy mạnh tuyên truyền, quảng cáo, mở rộng
địa điểm biểu diễn, nâng cao chất lượng chương trình… Tuy nhiên, sự phát triển
lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn còn nhiều vấn đề đặt ra. Đó là hiện tượng sự phát
triển thị trường nghệ thuật còn mang tính tự phát, cạnh tranh không lành mạnh.
Nhiều mâu thuẫn xuất hiện như: mâu thuẫn giữa nhu cầu hưởng thụ nghệ thuật biểu
diễn và khả năng đáp ứng; mâu thuẫn giữa tính cấp bách phải phát triển lĩnh vực
nghệ thuật biểu diễn với nhận thức lạc hậu về tổ chức, quản lý tổ chức; mâu thuẫn
giữa bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống của nghệ thuật biểu diễn với mở rộng
giao lưu, hợp tác quốc tế… chưa được giải quyết.
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên, nghiên cứu sinh lựa chọn đề
tài: Công nghiệp văn hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay (Qua khảo sát
một số lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn) để viết luận án tiến sĩ văn hóa học. Hy
vọng kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực
tiễn của phát triển ngành công nghiệp văn hóa trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn ở
Việt Nam hiện nay.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Luận án góp phần làm rõ cơ sở lý luận nghiên cứu
công nghiệp văn hóa, lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn ở Tp. Hồ Chí Minh; trên cơ
sở đó khảo sát thực trạng công nghiệp văn hoá qua một số lĩnh vực nghệ thuật
biểu diễn; khuyến nghị một số giải pháp phát triển lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn
ở Tp. Hồ Chí Minh thời gian tới.
Nhiệm vụ nghiên cứu:

3.2. Phạm vi nghiên cứu: Luận án khảo sát từ năm 2010 đến 2015, vì đây
là khoảng thời gian các loại hình nghệ thuật biểu diễn như Kịch nói, Âm nhạc và
Múa ở Tp. Hồ Chí Minh phát triển khá rầm rộ, chứa đựng tính đại diện và điển
hình cho sự phát triển công nghiệp văn hóa thông qua các loại hình nghệ thuật
này ở Tp. Hồ Chí Minh.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Công nghiệp văn hóa có thể được nghiên cứu từ nhiều ngành khoa học
chuyên biệt như kinh tế học, xã hội học, văn hóa học, lịch sử văn hóa…Tuy
nhiên, để phù hợp với mã số chuyên ngành văn hóa học, luận án chú trọng
phương pháp tiếp cận văn hóa học đối với nghệ thuật biểu diễn, đặc biệt chú ý
đến giá trị thẩm mỹ, nghệ thuật và ảnh hưởng của nghệ thuật biểu diễn, tiềm
năng phát triển của nó trong giao lưu và hội nhập quốc tế hiện nay. Với cách tiếp
cận như vậy, để giải quyết được mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra, tác giả luận án chủ
yếu sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

Footer Page 10 of 123.


Header Page 11 of 123.

5

4.1. Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận mác xít và quan
điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và phát triển nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, mối quan hệ giữa phát triển văn
hoá và kinh tế trong phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp lịch sử - logic: Phương pháp lịch sử - logic giúp tác giả
luận án đi sâu tìm hiểu quá trình vận động và phát triển của công nghiệp văn hóa

này bằng quy trình sau:
Giai đoạn 1: Chọn mẫu. Chúng tôi chọn 200 khán giả của Sân khấu kịch
Idecaf, Sân khấu kịch Hồng Vân, Nhà hát Nhạc – Vũ kịch Tp. Hồ Chí Minh,
Nhà hát Kịch sân khấu nhỏ 5B, Sân khấu ca nhạc 126, Sân khấu ca nhạc Trống
Đồng, cách chọn mẫu thuận tiện – phi xác suất - nghĩa là chọn những khán giả
dễ tiếp cận nhất để khảo sát. Ngoài ra, khảo sát 100 cán bộ quản lý ở Sở Văn
hóa, Thể thao và Du lịch Tp. Hồ Chí Minh (Sở VH, TT & DL Tp. Hồ Chí Minh)
cán bộ/ nhân viên ở một số sân khấu kịch, ca nhạc nói trên.
Giai đoạn 2: Soạn câu hỏi khảo sát: dựa trên dữ liệu nghiên cứu của đề
tài; xây dựng bảng hỏi theo tiêu chí phát hiện: nhận thức, thái độ, hành vi của
các nhóm chủ thể khác nhau đối với lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn ở Tp. Hồ Chí
Minh hiện nay; khảo sát thử và điều chỉnh để hoàn thiện bảng hỏi.
Giai đoạn 3: Xây dựng và tập huấn khảo sát viên (khảo sát viên là tác giả
luận án, đồng nghiệp và một số sinh viên).
Giai đoạn 4: Khảo sát đại trà khán giả tại các sân khấu và tại các cơ quan
quản lý nhà nước về văn hóa.
Giai đoạn 5: Xử lý kết quả khảo sát bằng phần mềm SPSS 16.0 và lên
bảng biểu, sơ đồ, rút ra kết luận sơ bộ.
Chúng tôi còn tiến hành phỏng vấn sâu một số nhà quản lý văn hóa, các
doanh nghiệp văn hóa, các công ty tổ chức sự kiện…tìm ra những thuận lợi, khó
khăn cũng như những thành tựu và hạn chế, những vấn đề đặt ra trong lĩnh vực
nghệ thuật biểu diễn trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh.
+ Phương pháp thống kê – so sánh: Luận án sử dụng các số liệu thống kê
để phân tích và so sánh, đánh giá thực trạng về công nghiệp văn hóa trong lĩnh
vực nghệ thuật biểu diễn ở Tp. Hồ Chí Minh trong thời gian qua.
+ Phương pháp dự báo: Luận án kết hợp giữa phương pháp định tính và
phương pháp định lượng để dự báo về xu hướng phát triển của công nghiệp văn
hóa ở Tp. Hồ Chí Minh trong thời gian tới.

Footer Page 12 of 123.

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 2: Cơ sở lý luận tiếp cận nghiên cứu công nghiệp văn hoá và nghệ thuật
biểu diễn ở Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Thực trạng lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn ở Thành phố Hồ Chí Minh
hiện nay
Chương 4: Những vấn đề đặt ra đối với phát triển nghệ thuật biểu diễn ở
Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay và một số khuyến nghị

Footer Page 13 of 123.


Header Page 14 of 123.

8
Chƣơng 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI

1.1.1. Những nghiên cứu lý thuyết về công nghiệp văn hóa và nghệ
thuật biểu diễn
Hiện nay, ngành công nghiệp văn hoá nói chung và nghệ thuật biểu diễn
nói riêng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia. Vì vậy, công
nghiệp văn hóa (CNVH) đã trở thành đối tượng quan tâm của các nhà khoa học
và quản lý. Có thể nêu ra những công trình nghiên cứu lý luận (về khái niệm,
phân loại, cấu trúc, đặc trưng, quy luật tác động… của công nghiệp văn hóa và
nghệ thuật biểu diễn) tiêu biểu sau:
Trong cuốn sách nổi tiếng Dialectic of Enlightenment (Biện chứng của
Khai sáng) xuất bản năm 1947 của Adorno và Horkheimer, lần đầu tiên cụm từ
công nghiệp văn hóa (cultural industry) đã được sử dụng.

nghệ thuật đều có thể coi là một ngành công nghiệp văn hóa [109, tr.208].
Harold L. Vogel1 (2001), Entertainment Industry Economics - A Guide for
Financial Analysis- Hướng dẫn phân tích tài chính cho nền công nghiệp giải trí,
Cambridge University Press. Tác giả của công trình đã phân tích và chứng minh
ngành công nghiệp giải trí là một trong những ngành lớn nhất của nền kinh tế
Mỹ và trong thực tế đã trở thành một trong những ngành kinh tế nổi bậc nhất
trên phạm vi toàn cầu với các sản phẩm: phim, âm nhạc, chương trình truyền
hình, phát thanh, quảng cáo, nghệ thuật biểu diễn, thể thao... Bên cạnh đó, công
trình cũng là tài liệu tham khảo hữu ích về các vấn đề về kinh tế, tài chính, sản
xuất, tiếp thị và vui chơi giải trí ở Mỹ và nhiều nước khác trên thế giới đối với
các nhà đầu tư, quản trị kinh doanh, kế toán, luật sư, nhà quản lý nghệ thuật và
độc giả nói chung.
Throsby David and Glenn A. Withers: The Economics of the Performing
Arts - Kinh tế học về Nghệ thuật biểu diễn (edition 1993), Edward Arnold
(Australia). Ở công trình này, các tác giả đã đề cập đến các vấn đề chung về
nghệ thuật biểu diễn và hệ thống lý thuyết trong kinh tế của nghệ thuật biểu diễn.
Ngoài ra, một số nước châu Á như Trung Quốc, Hồng Kông, Nhật Bản,
Hàn Quốc, Ấn Độ... đã và đang đặt ra mục tiêu trở thành cường quốc về “công
nghiệp văn hóa”. Khái niệm công nghiệp văn hóa được dùng phổ biến.
Ở Hồng Kông, tư tưởng về công nghiệp văn hóa lần đầu tiên được nêu lên
do một số tổ chức phi chính phủ về văn hóa vào khoảng năm 1999 – 2000.

Footer Page 15 of 123.


Header Page 16 of 123.

10

Trong bản báo cáo năm 2003, định nghĩa các ngành công nghiệp văn hóa được



Header Page 17 of 123.

11

sản xuất hiện đại. Về phạm vi công nghiệp văn hóa, Bộ Văn hóa Trung quốc đã
đưa ra 9 loại ngành nghề lớn như ngành trình diễn, ngành tivi điện ảnh, ngành
video, ngành vui chơi giải trí văn hóa, ngành du lịch văn hóa, ngành văn hóa
mạng, ngành báo chí xuất bản, ngành cổ vật và tác phẩm văn nghệ, ngành đào
tạo, bồi dưỡng nghệ thuật vào phạm vi quản lý của công nghiệp văn hóa [58,
tr.85-86]. Đại hội đại biểu lần thứ XVI của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đưa
ra khái niệm công nghiệp văn hóa và coi đó là sự đột phá quan trọng về lý luận
văn hóa của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Nghiên cứu về công nghiệp văn hóa không thể không kể đến những quan
tâm nghiên cứu của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên hợp quốc
(UNESCO). Cùng với những vấn đề nảy sinh trong phát triển xã hội đương đại,
với tư cách là một cơ quan văn hóa của Liên hợp quốc, UNESCO ngày càng có
những quan tâm đặc biệt đến vấn đề này, cả về phương diện lý luận lẫn phương
diện thực tiễn. Từ những nhận thức mới về vai trò của văn hóa đối với sự phát
triển của các quốc gia và nhân loại nói chung, UNESCO đã đề cập đến vai trò
của văn hóa trong những lĩnh vực cụ thể, trong đó có công nghiệp văn hóa.
Trong công trình: Các ngành công nghiệp văn hóa – Tâm điểm của văn
hóa trong tương lai [116], UNESCO đã định nghĩa: “Các ngành công nghiệp kết
hợp sự sáng tạo, sản xuất và khai thác các nội dung có bản chất phi vật thể và
văn hóa. Các nội dung này thường được bảo vệ bởi luật bản quyền và thể hiện
dưới dạng các sản phẩm hay dịch vụ”. Các ngành công nghiệp văn hóa bao gồm
ngành in ấn, xuất bản, đa phương tiện, nghe nhìn, ghi âm, điện ảnh, thủ công và
thiết kế. Đối với một số nước, các ngành công nghiệp văn hóa còn bao hàm kiến
trúc, nghệ thuật biểu diễn, nghệ thuật thị giác, thể thao, sản xuất nhạc cụ, quảng

với nhau và để cho kinh tế có thể bắt rễ trong văn hóa”.
Theo UNESCO, sản phẩm văn hóa là kết quả của hoạt động sáng tạo, sản
xuất, khai thác giá trị văn hóa trong ngành công nghiệp văn hóa. Sản phẩm văn
hóa được lưu thông, buôn bán trên thị trường nên còn được gọi là hàng hóa văn
hóa. UNESCO cho rằng: hàng hóa văn hóa là “các sản phẩm tiêu dùng chứa
đựng ý tưởng, biểu tượng và lối sống. Chúng có chức năng thông báo hoặc giải
trí, đóng góp cho việc xây dựng bản sắc văn hóa cộng đồng và ảnh hưởng đến
các tập quán văn hóa”. Sản phẩm văn hóa mang tính phi vật thể. Điều này có thể
thấy rõ trong các sản phẩm văn hóa nghệ thuật thuộc loại hình nghệ thuật biểu
diễn. Các sản phẩm văn hóa khác như tác phẩm hội họa, điêu khắc, trưng bày
sắp đặt tuy có vỏ vật chất để biểu hiện nhưng phần quan trọng vẫn là nội dung, ý
tưởng sáng tạo, hình tượng nghệ thuật mang tính biểu cảm và phi vật thể.

Footer Page 18 of 123.


Header Page 19 of 123.

13

1.1.2. Những nghiên cứu về thực tiễn công nghiệp văn hóa và nghệ
thuật biểu diễn
Ngoài nghiên cứu về lý luận, các nhà khoa học còn quan tâm đến thực
tiễn. Đó là chính sách phát triển, thực tiễn phát triển, kinh nghiệm quản lý, giải
pháp phát triển CNVH và nghệ thuật biểu diễn… Có thể kể ra một số công trình
tiêu biểu sau:
James Heilbrun and Charles M.Gray (1993), The Economics of Art and
Culture - An American Perspective - Kinh tế học về Nghệ thuật và Văn hóa –
Một triển vọng ở Mỹ, Cambridge University Press. Các vấn đề được bàn đến
trong công trình này là: Vấn đề tài chính, kinh tế của mỹ thuật và nghệ thuật biểu

Economic: Sổ tay kinh tế học văn hóa (2011). Ở công trình này, giáo sư đã tập
trung phân tích những thay đổi trong lĩnh vực kinh tế văn hóa trong xã hội
đương đại; Phân tích những tác động của công nghệ mới đối với ngành công
nghiệp sáng tạo. Bên cạnh đó, tác giả còn phân tích những tính chất kinh tế của
hoạt động văn hóa, nghệ thuật như: vấn đề đấu giá sản phẩm, thị trường tiêu thụ
sản phẩm văn hóa nghệ thuật, giá cả, thị trường lao động của các nghệ sĩ, sáng
tạo và sáng tạo kinh tế, giá trị văn hóa, toàn cầu hóa và thương mại quốc tế,
internet, phương tiện truyền thông kinh tế, bảo tàng, các tổ chức phi lợi nhuận,
biểu diễn nghệ thuật, xuất bản, kinh tế phúc lợi. Đây là cuốn sách thực sự có giá
trị đối với những người nghiên cứu về lĩnh vực công nghiệp văn hóa và những
vấn đề liên quan đến kinh tế văn hóa.
Harry Hillman, Joni M.Cherbo2 and Margaret J. Wyszomirski3 (2000) The
Public Life of the Arts in America - Đời sống công cộng của nghệ thuật ở Mỹ,
(Nxb Rutgers University Press, New York). Công trình gồm 2 phần: Phần
I:“Exploring a changing landscape”, Phần II: “The public and the arts”.Công
trình này đã có những đóng góp quan trọng trong hệ thống tài liệu về nghệ thuật
ở Mỹ. Công trình đã cung cấp nhiều thông tin khoa học có giá trị như: 96% người
dân Mỹ liên quan đến hoạt động nghệ thuật dưới nhiều hình thức trực tiếp hay
gián tiếp: là khán giả, là những người có sở thích, hoặc thông qua truyền hình, ghi
âm, video, Internet... Công trình cũng cho thấy nền công nghiệp văn hóa đã đóng
góp quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế Mỹ. Bên cạnh đó, nền công
nghiệp văn hóa Mỹ cũng đang tìm cách để ngày càng phục vụ những lợi ích
công ngày càng tốt hơn. Các tác giả công trình cũng cho rằng các chính sách
công của chính phủ sẽ tác động đến nghệ thuật và văn hóa Mỹ. Vì vậy, theo họ,
Mỹ nên tiếp tục hỗ trợ nghệ thuật để lĩnh vực này không ngừng phát triển. Điều
này hỗ trợ góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng, duy trì sự

Footer Page 20 of 123.



trình giải quyết nhu cầu và mối quan tâm đối đầu với các nhà quản lý nghệ thuật
trong thế kỷ XXI. Đây là một tài liệu tham khảo không thể thiếu cho tất cả các nhà
quản lý nghệ thuật và việc phát triển công nghiệp nghệ thuật biểu diễn.

Footer Page 21 of 123.


Header Page 22 of 123.

16

Một công trình khác nghiên cứu về thị trường và chiến lược phát triển
khán giả: “Who is my maket? Aguide to researching audience and visitors in the
ats” (Ai là thị trường của tôi? Hướng dẫn nghiên cứu tác giả và du khách trong
các tổ chức nghệ thuật) của Helen Close và Robert Dovovan, xuất bản năm
1998. Đây là công trình đầu tiên về nghiên cứu thị trường khán giả tại các tổ
chức văn hóa nghệ thuật. Công trình này gồm 4 phần. Ở phần đầu, các tác giả
đưa ra khái niệm phát triển khán giả và phân tích sự cần thiết nghiên cứu phát
triển thị trường khán giả. Trong phần hai, các tác giả trình bày các nguyên tắc cơ
bản của quá trình nghiên cứu thị trường như: phương pháp và loại hình nghiên
cứu, cách xây dựng, thiết kế bảng hỏi nghiên cứu định lượng, phân tích các dữ
liệu thu thập được và trình bày kết quả nghiên cứu. Phần tiếp theo là một số vấn
đề trong quá trình thực hiện nghiên cứu thị trường; nghiên cứu lợi thế cạnh
tranh, gây quỹ và tài trợ, lập hồ sơ dữ liệu khách hành và các yếu tố ảnh hưởng
đến quyết định mua hàng của khán giả ở Australia…
Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn đề cập đến một số quan điểm và chính
sách văn hóa liên quan đến công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa của một số
nước trên thế giới. Tiêu biểu như ở nước Anh – một trong những quốc gia đi đầu
trong phát triển các ngành công nghiệp sáng tạo và văn hóa trên thế giới. Chính
phủ Anh đã có nhiều chính sách hỗ trợ tích cực cho phát triển các ngành công

tổ chức phi chính phủ và giới văn nghệ sĩ trong quá trình nghiên cứu, hình thành,
xây dựng và triển khai thực hiện chính sách văn hóa.
Đánh giá chung:
Có thể thấy, cho đến nay, các nhà khoa học trên thế giới đã có khá nhiều
các công trình nghiên cứu về công nghiệp văn hóa cũng như nghệ thuật biểu
diễn. Các vấn đề được các học giả nghiên cứu tập trung ở một số mặt:
Về nghiên cứu lý thuyết: Xuất phát từ các góc độ tiếp cận cũng như điều
kiện lịch sử, địa lý, kinh tế, văn hóa khác nhau nên các nhà nghiên cứu về công
nghiệp văn hóa đều đưa ra những cách hiểu khác nhau về quan niệm cũng như
cách phân loại lĩnh vực này. Vẫn còn nhiều tranh luận xoay quanh tên gọi: công
nghiệp văn hóa, công nghiệp sáng tạo, công nghiệp văn hóa và sáng tạo, công
nghiệp nghệ thuật, công nghiệp bản quyền, công nghiệp giải trí... Mặc dầu tên
gọi khác nhau nhưng tất cả các quốc gia đều nhìn nhận công nghiệp văn hóa là
một ngành công nghiệp. Nghĩa là, công nghiệp văn hóa cũng bao gồm các hoạt
động sản xuất, khai thác, phân phối và tiêu thụ sản phẩm như các ngành công
nghiệp khác. Chỉ khác là đối tượng của quá trình sáng tạo, sản xuất và khai thác
ở đây không phải là sản phẩm vật chất thông thường mà là sản phẩm văn hóa.

Footer Page 23 of 123.


Header Page 24 of 123.

18

Sở dĩ, UNESCO và các nước như Phần Lan, Tây Ban Nha, Đức, Hàn
Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc... sử dụng khái niệm “các ngành công nghiệp văn
hóa” (Cultural Industries) vì quan niệm đây là ngành công nghiệp kết hợp sự
sáng tạo, sản xuất và khai thác các nội dung có bản chất phi vật thể và văn hóa;
những sản phẩm và dịch vụ này có ý nghĩa văn hóa xã hội cao. Anh, Australia,

Có khá nhiều nghiên cứu góp phần làm rõ hơn khái niệm, đặc trưng, cấu
trúc và vai trò... của công nghiệp văn hóa và nghệ thuật biểu diễn gắn với đặc thù
của Việt Nam, như: đề tài khoa học, sách, hội thảo khoa học và các bài viết:

Footer Page 25 of 123.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status