ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỖ VĂN THẮNG
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VỚI QUÁ
TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỖ VĂN THẮNG
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VỚI QUÁ
TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
Chuyên ngành: CNDVBC&CNDVLS
Mã số: 62220302
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS. TRỊNH DOÃN CHÍNH
Phản biện 1:
Phản biện 2:
PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................1
PHẦN NỘI DUNG ..........................................................................................17
Chương 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, VAI TRÒ
CỦA KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VỚI SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI ...................17
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ....................................17
1.1.1. Khoa học và các quan điểm khác nhau về khoa học............................. 17
1.1.2. Công nghệ và các quan điểm khác nhau về công nghệ ..........................29
1.2. VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VỚI SỰ PHÁT TRIỂN XÃ
HỘI .....................................................................................................................40
1.2.1. Khoa học và công nghệ là nền tảng phát triển xã hội .............................41
1.2.2. Khoa học và công nghệ là động lực phát triển xã hội .............................54
Kết luận chương 1 ...........................................................................................67
Chương 2. VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI QUÁ
TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY ..............................................................69
2.1. KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ................................................................................69
2.1.1. Một số vấn đề cơ bản về công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt
Nam ...................................................................................................................69
2.1.2. Nội dung và đặc điểm của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ở Thành phố Hồ Chí Minh ................................................................................81
2.2. THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẾN QUÁ
TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HIỆN NAY ..........................................................................................................97
2.2.1. Tác động của khoa học và công nghệ đến việc phát triển cơ sở hạ
HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VỚI QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI
HÓA Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY .................................................168
3.2.1. Nâng cao nhận thức về vai trò của khoa học và công nghệ đối với
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Thành phố Hồ Chí Minh .............169
3.2.2. Xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm phát huy vai trò của
khoa học và công nghệ đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở
Thành phố Hồ Chí Minh .................................................................................175
3.2.3. Kiện toàn và nâng cao năng lực bộ máy, đội ngũ cán bộ khoa học
và công nghệ; phát triển, sử dụng hiệu quả các nguồn lực khoa học và
công nghệ phục vụ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Thành
phố Hồ Chí Minh.............................................................................................183
3.2.4. Tập trung hiện đại hóa công nghệ, phát triển công nghệ cao đối với
những ngành công nghiệp trọng yếu của Thành phố Hồ Chí Minh ...............197
3.2.5. Phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao của
Thành phố Hồ Chí Minh .................................................................................200
Kết luận chương 3 .........................................................................................204
PHẦN KẾT LUẬN .................................................................................. 207
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .....................................................211
PHẦN PHỤ LỤC...........................................................................................222
PHỤ LỤC 1: NHỮNG HÌNH ẢNH MINH HỌA VỀ TÁC ĐỘNG CỦA KHOA
HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẾN KẾT QUẢ CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP
HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH .........................................222
PHỤ LỤC 2: ĐIỀU TRA CỦA TÁC GIẢ ...............................................................232
NHỮNG CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG
BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ............................................................240
2
coi là viễn tưởng, thì ngày nay đã và đang trở thành những công nghệ hiện
hữu đóng vai trò to lớn trong sự phát triển xã hội, như: công nghệ vũ trụ, công
nghệ viễn thông, công nghệ sinh học, công nghệ nano… Nhiều nước đã phát
triển nhanh nhờ vào sự tiến bộ của khoa học và công nghệ, như Nhật Bản,
Hàn Quốc, Singapore, Australia… Có thể nói, việc phát triển kinh tế - xã hội
của mỗi quốc gia phụ thuộc ngày càng nhiều hơn vào trình độ khoa học và
công nghệ, cũng như khả năng ứng dụng khoa học và công nghệ vào quá trình
sản xuất và đời sống xã hội của quốc gia đó.
Nhận thức rõ vai trò quan trọng của khoa học và công nghệ đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội, cũng như với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, ngay từ những ngày đầu thống nhất đất nước (tại Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ IV, 1976), Đảng ta đã chủ trương: “tiến hành đồng thời
ba cuộc cách mạng: cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ
thuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa, trong đó cách mạng khoa học - kỹ
thuật là then chốt, đẩy mạnh công nghiệp hóa” [27, tr.998] và tại các kỳ đại
hội đại biểu toàn quốc sau đó, Đảng ta đều xác định khoa học và công nghệ là
một trong những động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển; bởi, chúng ta đi
lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp, nghèo nàn, lạc hậu, không qua
giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, lại bị tàn phá nặng nề qua các cuộc
chiến tranh, nền sản xuất về cơ bản vẫn là nền sản xuất nhỏ mang tính tiểu
nông, năng suất lao động thấp, cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật thiếu
thốn và lạc hậu, lực lượng lao động tuy dồi dào, nhưng trình độ khoa học và
công nghệ còn rất thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. Chúng ta phải thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, phát triển kinh tế - xã hội bằng chính con người với những đặc thù về
điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của mình. Để thực hiện được nhiệm vụ
khó khăn, phức tạp đó tất yếu chúng ta phải đẩy mạnh phát triển khoa học và
nhiên là 2.095,01km2, dân số hơn 10 triệu người, chiếm 0,60% diện tích và
8,34% dân số cả nước; có đường bộ, đường thủy và đường không giao thông
4
thuận tiện tới các vùng trong nước, cũng như với các nước trong khu vực và
quốc tế. Thành phố Hồ Chí Minh cũng là nơi sớm tiếp cận và được tiếp quản
những cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật, công nghệ hiện đại của phương
Tây từ trước những năm 1975, với nguồn lao động dồi dào, có trình độ khoa
học và công nghệ, có tư duy năng động, sáng tạo nhất trong cả nước. Với
những đặc điểm về địa lý, lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội và con người như
vậy, Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ là một đô thị lớn, là một trong những
trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội,… của cả nước, mà còn là nơi hội tụ và
giao lưu trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội với các vùng, các nước
trong khu vực và thế giới; nên việc phát triển Thành phố Hồ Chí Minh còn có
ý nghĩa là đầu tàu, là động lực thúc đẩy sự phát triển các địa phương khác.
Trong những năm qua Thành phố Hồ Chí Minh luôn tập trung đầu tư
phát triển khoa học và công nghệ, cũng như việc đẩy mạnh ứng dụng các tiến
bộ khoa học và công nghệ vào phát triển kinh tế - xã hội. Các khu chế xuất,
khu công nghiệp, các trung tâm công nghệ phần mềm, khu công nghệ cao
được đưa vào hoạt động; trang thiết bị, công nghệ ngày càng hiện đại; trình
độ khoa học và công nghệ của người lao động không ngừng được nâng lên.
Sự đầu tư phát triển khoa học và công nghệ đã cùng với các yếu tố, các lĩnh
vực khác đưa kinh tế - xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh ngày càng phát
triển ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn ở mức cao trên 8.5%, hàng năm
đóng góp gần 30% GDP của cả nước.
Tuy nhiên, việc phát triển kinh tế - xã hội nói chung, cũng như quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng ở Thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn
những hạn chế, đó là trình độ khoa học và công nghệ vẫn còn ở mức thấp,
Khoa học và công nghệ đang làm cho những biến đổi xã hội nói chung, ở
Việt Nam và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng ngày càng nhanh và toàn diện
hơn, nên đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhiều cơ quan, tổ
chức xã hội và các quốc gia nghiên cứu về vai trò, chức năng của khoa học và
công nghệ, cũng như phương thức đưa khoa học và công nghệ vào phát triển
6
sản xuất và đời sống xã hội. Có thể khái quát các công trình nghiên cứu trên
thành các nhóm đề tài liên quan đến luận án như sau:
Thứ nhất là, nhóm các tài liệu, công trình nghiên cứu về khoa học và
công nghệ, vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung:
Liên quan đến chủ đề này C. Mác và Ph. Ăngghen đã có nhiều những
nghiên cứu phân tích, đánh giá, giải thích một cách sâu sắc về nguồn gốc, bản
chất, vai trò của khoa học và kỹ thuật với nhận thức, với biến đổi và sự phát
triển xã hội. Những tư tưởng, luận điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen được thể
hiện qua rất nhiều tác phẩm, như “Phê phán cương lĩnh Gô ta”, “Hệ tư tưởng
Đức”, “Chống Đuy Rinh”, “Tư bản”... Riêng Ph. Ăngghen trong tác phẩm
“Biện chứng của tự nhiên”, xuất bản ở Liên Xô, năm 1925, được Nxb. Chính
trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 1994 và đưa vào C.Mác và Ph.Ăngghen,
“Toàn tập”, tập 20, đã phân tích kỹ về nguồn gốc, động lực phát triển của
khoa học, tác động của khoa học đến nhận thức, đến phát triển xã hội và thực
hiện phân loại khoa học. Ở Việt Nam ngay trong thời kỳ đầu của công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chủ tịch đã có nhiều bài viết nêu rõ vai trò,
mối quan hệ giữa khoa học, kỹ thuật với sản xuất và đời sống xã hội, những
tư tưởng, quan điểm đó được thể hiện trong “Hồ Chí Minh toàn tập”, tập 14,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản (lần thứ ba), năm 2011. Đảng ta
cũng luôn xác định rõ quan điểm khoa học và công nghệ là then chốt, là động
lực phát triển kinh tế - xã hội nói chung, đẩy nhanh quá trình công nghiệp
actuelles de la recherche scientifique”, của Pierre Auger, UNESCO, Paris,
1961, nói về khuynh hướng nghiên cứu của khoa học hiện tại; ngoài ra phải
kể đến cuốn “Khoa học về khoa học”, của G.M. Đobrov, Nxb. Kieb, xuất bản
năm 1970, Nxb. Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội dịch năm 1976, nội dung của
cuốn sách trình bày về lịch sử, vị trí của khoa học luận, đặc điểm chung về sự
phát triển khoa học, những cơ sở, điều kiện để khoa học phát triển và dự báo
khoa học. Nghiên cứu về chủ đề này ở Việt Nam có cuốn “Về động lực của
khoa học và công nghệ đối với phát triển kinh tế - xã hội” của GS.TS. Lê Hữu
Tầng (chủ biên), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, xuất bản năm 1997; hay
8
cuốn “Phương pháp nghiên cứu khoa học”, của PGS.TS. Vũ Cao Đàm, Nxb.
Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, xuất bản năm 1998, đến nay được tái bản
nhiều lần, nội dung cuốn sách gồm hai phần: đại cương về khoa học và phần
phương pháp nghiên cứu khoa học; ngoài ra PGS.TS. Vũ Cao Đàm còn có rất
nhiều sách, bài viết về khoa học và công nghệ, cũng như vai trò của nó đối
với sự phát triển kinh tế - xã hội được xuất bản thành “Tuyển tập”, gồm 05
tập, Nxb. Thế giới, xuất bản năm 2009, trong đó tập 1 nói về các nội dung “lý
luận và phương pháp luận khoa học”; Liên quan đến lĩnh vực lịch sử phát
triển khoa học, kỹ thuật và công nghệ còn có cuốn “Lịch sử văn minh thế
giới”, do Lê Phụng Hoàng (chủ biên), Nxb. Giáo dục, Hà Nội, xuất bản năm
1999, cuốn sách đã ghi lại những thành tựu về khoa học, kỹ thuật, công nghệ
của nhân loại qua các thời đại, ngoài ra còn có cuốn “Giáo trình quản lý công
nghệ”, do Bộ môn Quản lý công nghệ, Khoa Khoa học quản lý, Trường đại
học Kinh tế quốc dân, Hà Nội biên soạn, Nxb. Đại học Kinh tế quốc dân, xuất
bản năm 2010.
Đối với các khái niệm, thuật ngữ về khoa học, kỹ thuật, công nghệ, cũng
như vai trò của nó đối với sự phát triển xã hội cũng được các nhà biên soạn từ
học và công nghệ với phát triển giáo dục và đào tạo” của Tạ Đức Thịnh, đăng
trong kỷ yếu hội thảo khoa học và công nghệ với phát triển kinh tế - xã hội do
Bộ Khoa học và Công nghệ phát hành trong số 1, năm 2009…
Thứ hai là, nhóm các tài liệu, các công trình nghiên cứu về khoa học và
công nghệ với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam:
Ở nhóm chủ đề này có thể kể đến một số tác phẩm nổi bật như: “Quan hệ
giữa phát triển khoa học và công nghệ với phát triển kinh tế xã hội trong
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam”, cuốn sách do nhiều tác giả, gồm
TS. Danh Sơn, TS. Nguyễn Thị Anh Thu và TS. Nguyễn Mạnh Huấn, Nxb.
Khoa học xã hội, Hà Nội, xuất bản năm 1999, nội dung cuốn sách nói về: Vai
trò động lực của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội,
những yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đối với hoạt động khoa học và công
nghệ và đổi mới cơ cấu công nghệ cho phù hợp yêu cầu chuyển dịch cơ cấu
10
kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Về vấn đề công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam có sách “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt
Nam, lý luận và thực tiễn”, do nhiều tác giả biên soạn, trong đó
GS.TS.Nguyễn Trọng Chuẩn, PGS.TS. Nguyễn Thế Nghĩa và PGS.TS. Đặng
Hữu Toàn (đồng chủ biên), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm
2002, đây là công trình viết tương đối đầy đủ và sâu sắc cả về mặt lý luận
cũng như việc tổng kết đánh giá kinh nghiệm thực tiễn quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở một số nước và Việt Nam. Cũng về vấn đề này có cuốn
“Tiềm lực và vai trò khoa học - công nghệ Việt Nam”, do Nxb. Cục thống kê
TP. Hồ Chí Minh, xuất bản năm 2003, hoặc cuốn “Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn về đánh giá nhiệm vụ khoa học và công nghệ Việt Nam”, do Phan
Xuân Dũng và Hồ Thị Mỹ Duệ biên soạn, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
xuất bản năm 2006. Viết về vai trò của tri thức có cuốn “Phát triển kinh tế tri
chuyên ngành, có thể kể đến một số như bài “Chuyển giao công nghệ trong
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam”, do Phan Thành Phố,
đăng trong Tạp chí Cộng sản, số 463, năm 1994; hay bài “Vai trò của cuộc
cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại trong phát triển kinh tế - xã hội và
bảo đảm an ninh quốc phòng”, do Lê Văn Quang, đăng trong Tạp chí Triết
học, số 133, năm 2002; hoặc bài “Phát triển nguồn nhân lực khoa học và
công nghệ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” do
Nguyễn Thành Long, đăng trong Tạp chí Lý luận chính trị, số 05, năm 2003;
và bài “Những thành tựu, hạn chế và thách thức của quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước ta trong điều kiện toàn cầu hoá”, do Vũ Đình Cự,
đăng trong Tạp chí Lý luận chính trị, số 12, năm 2005…
Thứ ba là, nhóm các tài liệu, đề tài, công trình nghiên cứu về khoa học
và công nghệ đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Thành phố
Hồ Chí Minh:
Chủ đề này cũng đã có khá nhiều tổ chức, cá nhân tiến hành nghiên cứu
với rất nhiều công trình, sách ấn phẩm khoa học đã được công bố. Trước hết,
phải kể đến các “Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh,
12
đặc biệt tại lần thứ VII, VIII, IX và lần thứ X” đã phân tích, đánh giá một
cách tổng quát và sâu sắc những kết quả, thành tựu, những tồn tại, nguyên
nhân hạn chế và đề ra các phương hướng, mục tiêu, giải pháp cơ bản để phát
huy vai trò của khoa học và công nghệ làm động lực quan trọng hàng đầu
thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, cũng như quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa của Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, (năm 2010) Thành uỷ thành
phố Hồ Chí Minh cũng đã ban hành: Chương trình số 01-Ctr/TU, “Về thực
hiện thông báo kết luận số 234/TB/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện
Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII, nhiệm vụ giải pháp phát triển khoa học
triển kinh tế - xã hội nói chung và đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nói riêng của Thành phố Hồ Chí Minh được đăng tải trên các báo mạng,
các cổng thông tin điện tử của các sở, ban ngành Thành phố Hồ Chí Minh;
cũng như những luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ viết về các đề tài “tri thức”,
“nền kinh tế tri thức”, “nguồn nhân lực chất lượng cao” của Thành phố Hồ
Chí Minh.
Như vậy, cho đến nay vẫn chưa có những công trình, đề tài nghiên cứu
trực tiếp và hệ thống về vai trò tác động của khoa học và công nghệ đối với
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay,
nhưng những công trình trên là nguồn tài liệu quý báu để nghiên cứu sinh kế
thừa, tiếp tục nghiên cứu những vấn đề về lý luận và thực tiễn của đề tài được
trình bày trong luận án.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án
Mục đích của luận án:
Từ những vấn đề lý luận chung về khoa học và công nghệ, luận án nhằm
chỉ ra thực trạng vai trò của khoa học và công nghệ với quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay; từ đó đề xuất những
phương hướng và giải pháp chủ yếu để phát huy hơn nữa vai trò của khoa học
và công nghệ với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thành phố Hồ
Chí Minh.
14
Nhiệm vụ của luận án:
Để đạt được mục đích trên, luận án phải thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu
như sau:
Một là, trình bày, luận giải làm rõ những vấn đề về lịch sử phát triển
khoa học, kỹ thuật, công nghệ; những vấn đề lý luận chung về khoa học và
công nghệ, vai trò của khoa học và công nghệ với việc phát triển kinh tế - xã
Một là, trên cơ sở lý luận chung về vai trò của khoa học và công nghệ với
quá trình phát triển kinh tế - xã hội, luận án góp phần làm rõ thực trạng, vai
trò của khoa học và công nghệ với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
Thành phố Hồ Chí Minh.
Hai là, từ những phân tích, đánh giá về thực trạng, vai trò của khoa học và
công nghệ đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở Thành phố Hồ Chí
Minh, luận án cũng đề xuất những phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm
phát huy hơn nữa vai trò của khoa học và công nghệ với quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Về ý nghĩa khoa học:
Trên cơ sở lý luận chung về vai trò của khoa học và công nghệ trong đời
sống kinh tế - xã hội, thì luận án đã làm sáng tỏ những nội dung, đặc điểm,
thực trạng về vai trò của khoa học và công nghệ với quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
Về ý nghĩa thực tiễn:
Những đánh giá về thực trạng vai trò của khoa học và công nghệ với quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh và những
phương hướng giải pháp mà luận án đưa ra sẽ góp phần giúp Đảng bộ, chính
quyền và các sở, ban ngành chức năng của Thành phố Hồ Chí Minh tham
khảo trong việc hoạch định chủ trương, chính sách và giải pháp để phát huy
hơn nữa vai trò của khoa học và công nghệ trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Luận án cũng có thể dùng
làm tài liệu tham khảo cho các ngành: Khoa học quản lý, Khoa học và công
16
nghệ luận, Khoa học chính sách, Triết học, Xã hội học, Công tác xã hội … ở
các viện, trung tâm nghiên cứu, các trường cao đẳng, đại học trong cả nước.
sản xuất; và hai là, sự phát triển của khoa học là sự kế thừa các tri thức của
con người về thế giới khách quan qua các thế hệ khác nhau. Xuất phát từ thực
tiễn, đặc biệt là thực tiễn lao động sản xuất, quá trình hoạt động của con
người luôn đòi hỏi phải hiểu biết ngày càng sâu sắc hơn về bản chất của mọi
sự vật, hiện tượng cũng như quá trình vận động của chúng để cải tạo tự nhiên,
18
xã hội vì sự tồn tại và phát triển của con người, điều đó đã được C.Mác Ph.Ăngghen nêu rõ: “Từ trước đến nay, khoa học tự nhiên cũng như triết học
đã hoàn toàn coi thường ảnh hưởng của hoạt động con người đối với tư duy
của họ. Hai môn ấy một mặt chỉ biết có tự nhiên, mặt khác chỉ biết có tư
tưởng. Nhưng chính việc người ta biến đổi tự nhiên, chứ không phải chỉ một
mình giới tự nhiên, là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của tư duy con
người, và trí tuệ con người đã phát triển song song với việc người ta đã học
cải biến tự nhiên” [47, tr.720]. Chính vì vậy, ngay từ khi hình thành xã hội
loài người, trong quá trình hoạt động của mình con người có những nhận thức
dù là giản đơn về sự vật, hiện tượng, quá trình của thế giới khách quan nhờ
vào những kinh nghiệm trong hoạt động hàng ngày. Những tri thức kinh
nghiệm đó được tích luỹ ngày càng nhiều và càng phong phú, nhưng vẫn chỉ
mang tính riêng biệt, chưa có hệ thống, để từ đó giúp con người tìm ra bản
chất của sự vật, hiện tượng, cho nên chúng không thể thoả mãn nhu cầu nhận
thức của con người, và do đó cũng chưa đóng vai trò đáng kể trong phát triển
sản xuất và đời sống xã hội. Cùng với sự phát triển của xã hội, con người
không ngừng tác động vào thế giới khách quan buộc chúng phải bộc lộ những
thuộc tính, bản chất, quy luật nội tại vốn có của mình, từ đó thúc đẩy tư duy
của con người nghiên cứu tìm hiểu, nhận thức rõ bản chất, quy luật vận động,
phát triển của sự vật, hiện tượng, quá trình và mối liên hệ của chúng và con
người đã tập hợp những tri thức kinh nghiệm, những sự kiện ngẫu nhiên, rời
rạc về các sự vật, hiện tượng để tiếp tục nghiên cứu, khái quát thành hệ thống
của con người. Khoa học giúp cho con người ngày càng có khả năng chinh
phục tự nhiên và xã hội. Khoa học vừa là một hình thái ý thức xã hội, vừa là
một dạng hoạt động, một công cụ nhận thức. Mỗi khoa học phát triển gồm có
4 yếu tố cơ bản: 1) Tri thức kinh nghiệm. 2) Tri thức lý luận. 3) Phương pháp,
cách xử lí. 4) Giả thuyết và kết luận. Hệ thống khoa học được chia thành khoa
học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học kỹ thuật; mỗi loại khoa học nói trên
đều có phần cơ bản và phần ứng dụng” [34, tr.508]; và Luật Khoa học và