Quá trình đô thị hóa ở thành phố hồ chí minh giai đoạn 1986 2000 - Pdf 47

1

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................................ 5
LỜI CẢM ƠN ...................................................................................................................... 6
MỞ ĐẦU ............................................................................................................................. 7
1. Lý do chọn đề tài .......................................................................................................... 7
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài ............................................................................................. 8
3. Đối tƣợng nghiên cứu................................................................................................. 10
4. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................................... 10
5. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................................ 11
6. Cấu trúc đề tài ............................................................................................................ 11
CHƢƠNG 1 - KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH TRƢỚC NĂM 1986 .............................................................................................. 13
1.1. Tổng quan về Thành phố Hồ Chí Minh .................................................................. 13
1.1.1. Vị trí địa lý ........................................................................................................ 13
1.1.2 Kinh tế xã hội ..................................................................................................... 14
1.1.3. Sơ lƣợc lịch sử .................................................................................................. 15
1.2. Đô thị hóa Thành phố Hồ Chí Minh trƣớc năm 1986 ............................................. 19
1.2.1. Khái niệm đô thị hóa......................................................................................... 19
1.2.2. Các cơ chế chính sách đô thị hóa Thành phố Hồ Chí Minh ............................. 28
1.2.3. Thực trạng ......................................................................................................... 30
CHƢƠNG 2 – ĐÔ THỊ HÓA Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ ............................................................................................... 35
2.1. Đƣờng lối đổi mới đất nƣớc từ Đại hội lần VI (năm 1986) của Đảng Cộng sản Việt
Nam ................................................................................................................................ 35
2.2. Chính sách quy hoạch phát triển Thành phố Hồ Chí Minh .................................... 42
2.3.3. Phát triển của các khu dân cƣ ........................................................................... 56
2.3.2. Phát triển của các khu công nghiệp .................................................................. 59





4

DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT
Bảng 1.1
Bảng 3.1
Bảng 3.2
Bảng 3.3

Bảng 3.4

Bảng 3.5
Bảng 3.6

Bảng 3.7

Bảng 3.8
Bảng 3.9
Bảng 3.10

Bảng 3.11

Tên bảng
Phân loại và phân cấp đô
thị ở Việt Nam
Tỷ trọng GDP TPHCM so
với cả nƣớc qua các năm
Cơ cấu GDP TPHCM

72
74

84

93
96

97

99
100
101

102


5

LỜI CAM ĐOAN
Chúng tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và
kết quả nghiên cứu nêu trong bài nghiên cứu là trung thực, đƣợc các đồng tác giả cho
phép sử dụng và chƣa từng đƣợc công bố trong bất kì một công trình nào khác.
Nhóm tác giả


6

LỜI CẢM ƠN
Để có thể thực hiện bài nghiên cứu khoa học này, chúng tôi đã nhận đƣợc nhiều ý

trên lãnh thổ, trong đó thành phố Hồ Chí Minh là một điển hình. Thành phố Hồ Chí Minh
là một trong những thành phố lớn và năng động nhất cả nƣớc. Vì vậy, công cuộc đô thị
hóa tại thành phố này cũng có phần nhanh hơn các vùng khác trong cả nƣớc. Tốc độ đô
thị hóa ở đây diễn ra mạnh mẽ, nhất là từ khi Việt Nam tiến hành đổi mới đã đƣa đến
nhiều biến đổi quan trọng về kinh tế, cơ sở hạ tầng, văn hóa, xã hội….
Cho đến nay về cơ bản Thành phố đã hòan thành việc nâng cấp, chỉnh trang các
quận nội thành và đang thực hiện những chủ trƣơng, quy hoạch mở rộng đối với các quận
đô thị mới nhƣ: Tân Bình, Gò Vấp, Bình Thạnh…nhằm hình thành vùng đô thị lớn của cả
nƣớc và khu vựcTrên cơ sở đó rút ra những bài học kinh nghiệm để tham khảo cho công
cuộc phát triển đô thị bền vững ở Thành phố Hồ Chí Minh nói chung trong các thời kỳ
tiếp theo nhất là trong giai đọan mở cửa, hội nhập với quốc tế hiện nay. Với những lý do
khoa học thực tiễn nêu trên, tôi chọn vấn đề nghiên cứu: “Quá trình đô thị hóa ở thành
phố Hồ Chí Minh từ 1986 đến 2000” làm đề tài nghiên cứu của chúng tôi.


8

2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Vấn đề đô thị hóa (Urbanization) đã đƣợc nghiên cứu từ khá lâu trên thế giới nhƣ
“Quy hoạch đô thị” của Piere Mercin (bản dịch tiếng Việt, Nxb Thế Giới, 1993), “Urban
Life Reading in Urban Anthropology” (Third Edition, 1996). Tuy nhiên, ở Việt Nam vấn
đề đô thị hóa trong những năm gần đây mới đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên
cứu, tiêu biểu là các công trình:
Đô thị Việt Nam tập I, tập II của GS. Đàm Trung Phƣờng (Nxb Xây dựng, 1995) đã
đánh giá thực trạng, tình hình phát triển của mạng lƣới đô thị ở Việt Nam. Ông đƣa ra
những đóng góp nhằm định hƣớng phát triển cho các đô thị ở Việt Nam trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên, cuốn sách này chỉ nghiên cứu khái quát những
vấn đề chung của các đô thị ở Việt Nam, chƣa đi sâu vào nghiên cứu một đô thị cụ thể.
Chuyên khảo Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị của Nguyễn Thế Bá (Nxb Xây dựng,
1997) đã đề cập tới những vấn đề về lý thuyết đô thị và quy hoạch phát triển đô thị Việt

(Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2008) đã nêu bật vai trò trung tâm kinh tế, văn
hóa, xã hội của Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả chứng minh Thành phố này
là nơi tiếp thu sớm nhất và mạnh mẽ nhất các khoa học công nghệ và kỹ thuật tiên tiến từ
các nƣớc phƣơng Tây để phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, đến ứng
dụng có hiệu quả các kiểu quy hoạch - kiến trúc phƣơng Tây vào Thành phố. Ông cho
rằng ở Sài Gòn đã hình thành nên một nền công nghiệp tiên tiến so với các nƣớc trong
khu vực Đông Nam Á và sớm nhất so với những vùng miền khác trong cả nƣớc.
Đô thị hóa và phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam 1954 đến 1989 do Viện Kinh tế
Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 1991 đề cập đến tác động, ảnh hƣởng của đô thị
hóa ở Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh trong gần 40 năm qua.
Văn hóa làng xã trước sự thách thức của đô thị hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh của
tác giả Tôn Nữ Quỳnh Trân (Nxb Trẻ, 1999) gồm có ba chƣơng mô tả quá trình đô thị
hóa vùng ngoại thành và sự thay đổi văn hóa làng xã trong quá trình đô thị hóa.


10

Cuốn sách Nông dân ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh trong tiến trình đô thị
hóa của tác giả Lê Văn Năm (Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2007) đã phản ánh
chi tiết tình hình chuyển dịch đất đai và chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang
công nghiệp và dịch vụ ở các huyện ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả còn
mô tả những thay đổi mạnh mẽ trong đời sống nông dân. Đô thị hóa làm cho họ dần dần
rời bỏ ruộng đồng, chuyển sang những hoạt động kinh doanh, buôn bán, lao động bằng
những ngành nghề khác hay rơi vào cảnh thất nghiệp. Tác giả Lê Văn Năm còn đề cập tới
những thuận lợi và khó khăn tiêu cực do quá trình đô thị hóa mang lại.
Luận án Tiến sĩ khoa học Lịch sử của tác giả Nguyễn Thị Thủy với nhan đề Quá
Trình Đô thị hóa ở ven đô TP. Hồ Chí Minh (1975 – 1996). Luận án trình bày quá trình
đô thị hóa ở các quận huyện ven đô TP. Hồ Chí Minh nhƣ: Thủ Đức, quận 8, Bình
Thạnh, Tân Bình, Gò Vấp. Tác giả đã làm rõ quá trình biến đổi của các quận, huyện trong
khỏang thời gian 20 năm (1975 – 1996) trên tất cả các lĩnh vực, trong đó tập trung vào sự

những vấn đề kinh tế và cƣ dân, xã hội.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng phƣơng pháp lịch sử và phƣơng pháp logic. Phƣơng pháp lịch sử
dùng để nêu lên các sự kiện, thành tự theo mốc thời gian cho thấy quá trình đô thị hóa
diễn ra trên từng địa bàn, từng thời điểm cụ thể.
Phƣơng pháp logic dùng để nêu lên bản chất, nguyên nhân và xu hƣớng vận động
của quá trình đô thị hóa, đánh giá những thành tựu, hạn chế của quá trình đó cũng nhƣ đề
ra các chính sách phù hợp trong thời gian tới.
Ngoài ra công trình còn sử dụng các phƣơng pháp các phƣơng pháp thống kê, so
sánh, điều tra xã hội học để từ đó rút ra những nhận xét, kết luận bổ sung cho những vấn
đề mà tƣ liệu lịch sử còn thiếu, không bao quát hết đƣợc.
6. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, đề tài nghiên cứu của
chúng tôi có cấu trúc nhƣ sau:


12

Chƣơng 1. Khái quát về quá trình đô thị hóa Thành phố Hồ Chí Minh trƣớc năm
1986.
Chƣơng 2. Đô thị hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới và hội
nhập quốc tế.
Chƣơng 3. Tác động của đô thị hóa với sự phát triển kinh tế xã hội.


13

CHƢƠNG 1 - KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƢỚC NĂM 1986


các quận 5, 6; 11, 7 ,8, Bình Thạnh, Nhà Bè,... ở trên vùng đất thấp có độ cao trung bình
dƣới 1 mét.
Về hình dạng “Thành phố Hồ Chí Minh có hình dáng nhƣ chim đại bàng tung cánh
ra biển Đông, thân hình từ đông Thủ Đức tới tây Bình Chánh rộng 47 km, hai cánh từ bắc
Củ Chi tới nam Cần Giờ dài 102 km”[8; tr9].
Về giao thông, Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh nằm trên những trục đƣờng đi lại
và trao đổi hàng hóa quan trọng của Nam Bộ. Về dƣờng thủy, sông Đồng Nai, sông Sài
Gòn với vùng đất cao miền Đông Nam Bộ và với biển Đông, qua đó có thể đi đến các
tình miền Trung, miền Bắc và các nƣớc. Rạch Bến Nghé, rạch Ong và nhiều sông rạch
khác đã nối liền Sài Gòn với hệ thống sông Vàm Cỏ và từ đó với các hệ thống sông Cửu
Long. Các con đƣờng thủy đó đƣợc bổ sung nhiều kênh rạch đƣợc đào trong các thế kỷ
XVIII, XIX, XX. Sài Gòn trở thành một cảng đón tiếp thuyền từ các nơi đến buôn bán.
Về đƣờng bộ, ngay từ thế kỷ XVII, XVIII, Sài Gòn đã chứng minh đƣợc vai trò
quan trọng của mình khi là con đƣờng từ Cố Đô Huế các tỉnh miền Trung sang Cam –
pu- chia, các tỉnh phía Nam, năm 1623 chúa Nguyễn cho lập hai đồn thu thuế ở Sài Gòn
cũng là vì tầm quan trọng của nó. Cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, Thực dân Pháp cho
xây dựng tuyến đƣờng sắt đi Mỹ Tho và đƣờng sắt xuyên Việt, đƣờng sắt di Lộc Ninh.
Thành phố Hồ Chí Minh có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, không có sự phân chia
chia bốn mùa Xuân – Hạ - Thu – Đông mà chỉ có hai mùa khô và mùa mƣa đƣợc phân
chia khá rõ. Vì thế, cảnh quan thiên nhiên thành phố luôn có sự tƣơi tốt quanh năm.
1.1.2 Kinh tế xã hội
Kinh tế thành phố luôn duy trì tăng trƣởng ở mức cao trong nhiều năm liên tục. Nếu
trƣớc thời kỳ đổi mới, trong 10 năm (1976 - 1985), tổng sản phẩm nội địa (GDP) của


15

thành phố chỉ tăng bình quân 2,7%/năm, thì trong giai đoạn 1991-2010, thành phố là một
trong rất ít địa phƣơng có tốc độ tăng trƣởng kinh tế bình quân hai con số trong suốt 20
năm. Từ năm 2011 đến nay, thành phố cũng đạt mức tăng trƣởng kinh tế xấp xỉ

Angkor rộng lớn. Tuy nhiên, sự ảnh hƣởng của Angkor lên vùng đất Sài Gòn lúc này rất
hạn chế. Vào thế kỷ XII, vùng đất Gia Định nằm trên lằn ranh tranh chấp giữa các quốc
gia Đại Việt, Cham Pa, Chân Lạp và Xiêm La. Do đó, từ thế kỷ XII đến thế kỷ XVII,
vùng đất Nam Bộ nói chung rơi vào tình trạng hoang hóa do các thế lục tranh chấp làm
ảnh hƣởng đến đời sống của cƣ dân. Những nhóm ngƣời thƣa thớt tập trung sinh sống ở
vùng đất Vũng Tàu – Bà Rịa, Prei Nokor,...
Vào thế kỷ XVII, công cuộc Nam tiến đƣợc đẩy mạnh, những cƣ dân ngƣời Việt từ
miền Bắc theo những chiếc thuyền đã ngƣợc sông Sài Gòn từ cửa Cần Giờ vào định cƣ ở
vùng đất Sài Gòn ngày nay. Tại khu vực Bà Rịa, ngƣời Việt chọn đất Mô Xoài làm nơi
sinh sống. Đặc điểm chung của hai vùng đất này đều là những nơi có đất đai màu mỡ,
nƣớc ngọt đầy đủ, khí hậu thoáng đảng,... rất thuận lợi cho việc thúc đẩy kinh tế, làm ăn
sinh sống. Bên cạnh ngƣời Việt, ngƣời Hoa khi đó do Dƣơng Ngạn Địch và Trần Thƣợng
Xuyên dẫn đầu (khoảng 3000 ngƣời) vì không chịu thần phục nhà Thanh đã tiến hành
cuộc di dân xuống vùng đất Nam Bộ, phần lớn là khu vực Đông Nam bộ ngày nay, họ
làm ăn, dần dần hòa nhập với các dân tộc khác nhƣ Kinh, Khơ me, S Tiêng,...
Vào năm 1623, Chúa Nguyễn Phúc Nguyên sau khi gả công chúa Ngọc Vạn (1620)
cho Vua Chân Lạp Chey Chettha II đã xin lập hai đồn thu thuế là Prei NoKor (Sài Gòn)
và Kas Nobei (Bến Nghé), đây đƣợc xem là bƣớc chân đầu tiên của ngƣời Việt ta trong
công cuộc khai hoang hƣớng về phía Nam.
Năm 1698, Chúa nguyễn Phúc Chu cử Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam
thiết lập chính quyền. Nguyễn Hữu Cảnh đã lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phƣớc Long, xứ
Sài Gòn làm huyện Tân Bình, đặt ra hai dinh trấn Trấn Biên (Biên Hòa) và Phiên Trấn
(Gia Định) và cho quan vào cai trị. Từ đây, Chúa Nguyễn đã chính thức xác lập chủ
quyền của Việt Nam trên vùng đất mới.


17

Thời điểm ban đầu, khu vực Biên Hòa, Gia Định có khoảng 60.000 hộ với 200.000
nhân khẩu. Với nhiều biến động trong lịch sử mà quá trình đô thị hóa của vùng đất Sài

đầu thập niên 1870, Thành phố Sài Gòn vẫn nằm trong địa hạt hành chính tỉnh Gia Định.
Ngày 15 tháng 3 năm 1874, Tổng thống Pháp Jules Grévy ký sắc lệnh thành lập Thành
phố Sài Gòn, đứng đầu là viên đốc lý ngƣời Pháp.
Trong suốt thời kỳ Pháp thuộc, Sài Gòn trở thành trung tâm quan trọng, không chỉ
là trung tâm hành chính mà còn là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục của cả Liên bang
Đông Dƣơng, Sài Gòn đƣợc mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông” hoặc “Paris Phƣơng
Đông”
Đến năm 1945 Sài Gòn - Chợ Lớn có dân số khoảng 500.000 ngƣời. Chiến tranh
Đông Dƣơng tác động cuộc di dân từ nông thôn lên thành thị, khiến bốn năm sau (vào
năm 1949) dân số tăng hơn gấp đôi, số dân Sài Gòn lúc đó là 1.200.000 ngƣời và sang
năm 1954 với hàng trăm nghìn ngƣời di cƣ vào Nam từ phía bắc vĩ tuyến 17 làm cho dân
số Sài Gòn tăng nhanh đạt 2.000.000 ngƣời.
Đến năm 1955, Việt Nam Cộng hòa đƣợc thành lập, Sài Gòn trở thành thủ đô và
cũng là thành phố lớn nhất của quốc gia non trẻ này với tên gọi chính thức “Đô thành Sài
Gòn”. Năm 1954, thành phố tiếp nhận một lƣợng di dân mới từ miền Bắc Việt Nam
(phần đông là ngƣời Công giáo, còn gọi là dân Bắc kỳ Công giáo) tập trung tại các khu
vực nhƣ Xóm Mới, Gò Vấp, Bình An, Quận 8, và rải rác tại các quận khác. Theo nghị
định số 110 - NV ngày 27 tháng 3 năm 1959 của Tổng thống Ngô Đình Diệm, từ 6 quận,
Sài Gòn đƣợc chia thành 8 quận với tổng cộng 41 phƣờng.
Vào nửa cuối thập niên 1950, dựa vào sự viện trợ của Chính phủ Hoa Kỳ và các
nƣớc đồng minh, Sài Gòn trở thành một thành phố hoa lệ đƣợc mệnh danh “Hòn ngọc
Viễn Đông”. Từ giữa thập niên 1960 đến những năm đầu thập niên 1970, quân đội Hoa
Kỳ vào tham chiến tại miền Nam cũng gây nên những xáo trộn đối với thành phố. Nhiều
cao ốc, công trình quân sự mọc lên, lối sống của giới trẻ Sài Gòn cũng chịu ảnh hƣởng
bởi văn hóa Âu Mỹ. Thành phố Sài Gòn trở thành một trung tâm về chính trị, kinh tế, văn
hóa, giải trí ở khu vực Đông Nam Á.


19



phát triển. Nhờ sự hoạt động có hiệu quả của các thƣơng nhân mà các đô thị đầu tiên bắt
đầu xuất hiện.
Đô thị là một hình thức quần cƣ đặc biệt của xã hội loài ngƣời, là một tổ chức
không gian cƣ trú, sinh hoạt của cộng đồng ngƣời với các hoạt động chủ yếu trong lĩnh
vực phi nông nghiệp, là nơi tập trung dân cƣ với mật độ dân số cao, dân cƣ sống theo lối
sống thành thị. Đô thị ngày nay có nhiều điểm khác biệt so với đô thị so với đô thị thời
xƣa, sự khác biệt này đƣợc thể hiện qua sự phát triển của khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ
tầng, cơ cấu kinh tế, quy mô dân số cũng nhƣ tỉ lệ dân cƣ đô thị… Trên thế giới có nhiều
cách định nghĩa đô thị khác nhau, tùy thuộc và yếu tố chính trị - hành chính.
Theo quan niệm của một số nhà nghiên cứu phƣơng Tây thì: Đô thị (urban, city) là
một giai đoạn phát triển của nhân loại (Gordon Childe). Bách khoa toàn thƣ Hoa kỳ (The
America Encylopedia) cho rằng: “như cách sử dụng thông thường, city chỉ một tập hợp
dân cư có quy mô đáng kể, là nơi mà điều kiện sống có kiểu trái ngược với đời sống nông
thôn và hoang dã…Với nghĩa này, city là một hiện tượng chung của xã hội văn minh”.
[9; tr6]. Theo nhƣ định nghĩa này, sự tách nông nghiệp ra khỏi cơ cấu kinh tế là yếu tố
chính thúc đẩy sự hình thành đô thị.
Theo những nhà quy hoạch đô thị Mỹ thì “đô thị là nơi tập trung dân cư với quy mô
lớn tại một khu vực địa dư cụ thể, trong đó người ta hỗ trợ nhau một cách thường xuyên
và sòng phẳng thông qua các họat động kinh tế của khu vực đó… và là nơi có cơ hội để
có được môi trường sống đa dạng và nhiều kiểu sống khác nhau”[9, tr6]. Ở định nghĩa
này thì lại tập trung vào số lƣợng cƣ dân sinh sống trên một địa bàn mà ở đó, con ngƣời
kinh tế là mối quan hệ chính giữa các cƣ dân.
Bách khoa toàn thƣ Liên Xô định nghĩa: “Đô thị là khu dân cư rộng lớn, dân cư ở
đây chủ yếu hoạt động trong các ngành công nghiệp, thương nghiệp cũng như các lĩnh
vực phục vụ, quản lý khoa học và văn hóa”. [20; tr8]. Theo định nghĩa này, đô thị là khu
vực tập trung đông dân cƣ, kinh tế chủ yếu là kinh tế phi nông nghiệp.


21

CP ngày 07 tháng 5 năm 2009 về việc phân loại đô thị cũng nhƣ đƣa ra chƣơng trình phát
triển đô thị. Theo Nghị định mới này, đô thị ở Việt Nam đƣợc phân thành 6 loại nhƣ sau:
loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III, loại IV và loại V đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm
quyền quyết định công nhận.
1. Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành,
huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc.
2. Đô thị loại I, loại II là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành,
huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc; đô thị loại I, loại II là thành phố
thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã ngoại thành.
3. Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thành, nội
thị và các xã ngoại thành, ngoại thị.
4. Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại thị.
5. Đô thị loại V là thị trấn thuộc huyện có các khu phố xây dựng tập trung và có thể
có các điểm dân cư nông thôn.
Bảng phân loại và phân cấp đô thị ở Việt Nam Nghị định số 42/2009/NĐ - CP

Loại đô thị

Vai trò
trung tâm
chủ yếu

Quy mô
Dân số
(ngƣời)

Lao động
phi nông
nghiệp (%)



Đồng bộ, cơ
bản hoàn chỉnh

II

Liên tỉnh

> 800.000

>70

> 10.000

Đồng bộ, tiến
tới cơ bản hoàn
chỉnh

III

Tỉnh, liên
tỉnh

> 150.000

>65

> 6.000

Từng mặt đƣợc


> 2.000

Đã hoặc đang
xây dựng tiến
tới đồng bộ và
hoàn chỉnh

Các đô thị đƣợc xác định là đô thị đặc thù thì tiêu chuẩn về quy mô dân số và mật
độ dân số có thể thấp hơn, nhƣng tối thiểu phải đạt 60% tiêu chuẩn quy định, các tiêu
chuẩn khác phải đạt quy định so với các loại đô thị tƣơng đƣơng và bảo đảm phù hợp với
tính chất đặc thù của mỗi đô thị. Căn cứ các tiêu chuẩn nhƣ trên, đến năm 2010 số lƣợng
mỗi loại đô thị nhƣ sau:
- Đô thị loại đặc biệt: 2 (Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh)
- Đô thị loại I: 11 (Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Huế, Vinh, Đà Lạt, Nha Trang,
Quy Nhơn, Buôn Ma Thuột, Thái Nguyên, Nam Định)
- Đô thị loại II: 11 (Biên Hòa, Hạ Long, Vũng Tàu, Việt Trì, Hải Dƣơng, Thanh
Hóa, Mỹ Tho, Long Xuyên, Pleiku, Phan Thiết, Cà Mau)
- Đô thị loại III: 37 (các thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh)
- Đô thị loại IV: 50 (các thị xã và thị trấn)
- Đô thị loại V: 634 (các thị trấn)
Theo Nghị định mới này, cùng với Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn là đô thị
loại đặc biệt. Quận Gò Vấp là một trong những quận nội thành nằm ở phía Tây Bắc của
thành phố Hồ Chí Minh có vai trò và vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế, văn
hóa và quốc phòng.


24

Nhƣ vậy, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về đô thị, song chúng ta có thể hiểu đô

nghiệp để thiết lập các thiết chế mới, phát huy khả năng sáng tạo của cá nhân. Theo
quan điểm này, thì đô thị hóa không chỉ tạo ra sự thay đổi trong dân cƣ mà còn làm
chuyển thể những khuôn mẫu trong đời sống xã hội. Nó tạo nên một lối sống đặc thù, bao
gồm những mô hình hành vi ứng xử đặc trƣng của ngƣời dân đô thị, đƣợc gọi là lối sống
đô thị[4; tr16].
Từ góc độ quy hoạch đô thị: đô thị hóa là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ
sở hạ tầng, văn hóa, lối sống dân cư.
Trên quan điểm một vùng: đô thị hoá là một quá trình hình thành, phát triển các
hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị. Theo quan điểm này thì tốc độ đô thị hóa,
trình độ đô thị hoá nhằm mô tả diến biến, tình trạng của quá trình.
Trên quan điểm kinh tế quốc dân: Đô thị hoá là một quá trình biến đổi về sự phân
bố các yếu tố lực lƣợng sản xuất, bố trí dân cƣ những vùng không phải đô thị thành đô
thị, ở đây ngƣời ta lại nhấn mạnh vai trò và tỷ lệ 3 yếu tố của sản xuất để xác định mức
độ đô thị hóa, theo đó:
“Khu vực I: kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp sẽ ngày càng giảm dần theo xu thế phát
triển của các hoạt động kinh tế - xã hội đô thị.
Khu vực II: kinh tế công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sẽ ngày càng đóng vai trò
quan trọng trong quá trình đô thị hóa.
Khu vực III: khu vực dịch vụ (theo nghĩa hẹp) quản lý xã hội, nghiên cứu, du lịch,…
cũng có vai trò quan trọng ngày càng tăng lên trong quá trình đô thị hóa”.
Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu cũng đã đƣa ra những quan điểm khác nhau về
đô thị hóa:
Trong quyển kinh tế học của Phạm Ngọc Côn, định nghĩa về đô thị hóa đã đƣợc nêu
lên nhƣ sau: “Đô thị hóa theo hàm nghĩa chung nhất, là quá trình song song với sự phát
triển công nghiệp hóa và cách mạng khoa học công nghệ, dân số và sức lao động phân



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status