Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Hồ Chí Minh từ nay đến năm 2020 - Pdf 29


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG

PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG
YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHI MINH TỪ NAY ĐẾN NĂM 2020 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ


1.3.5.3. Tác động của Hội nhập kinh tế quốc tế với phát triển nguồn nhân lực
ở Việt Nam 28
1.4. KINH NGHIỆM CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH CNH, HĐH 31
1.4.1. Kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới về phát triển
nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa 31
1.4.2. Những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 32
1.4.3. Những bài học kinh nghiệm đối với thành phố Hồ Chí Minh 36
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
GIAI ĐOẠN 2001 – 2011 38
2.1. ĐẶC ĐIỂM, ĐIỀU KIỆN ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGUỒN NHÂN LỰC
VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 38
2.1.1. Những đặc điểm về tự nhiên 38
2.1.2. Những đặc điểm về kinh tế - xã hội 38
2.1.3. Về văn hóa xã hội 42
2.2. KHÁT QUÁT TÌNH HÌNH NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN
NHÂN LỰC Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2005 - 2011 43
2.2.1. Tình hình nguồn nhân lực cho quá trình CNH, HĐH ở thành phố
Hồ Chí Minh trong những năm qua 43
2.2.1.1. Qui mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực 43
2.2.1.2. Chất lượng nguồn nhân lực 48
2.2.2. Tình hình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở thành phố
Hồ Chí Minh 55
2.2.2.1. Đầu tư cho giáo dục cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông 55
2.2.2.2. Đào tạo chuyên nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh 56
2.2.3. Một số nhận xét về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở thành phố
Hồ Chí Minh 59
2.2.3.1. Những thành tựu đã đạt được 59
2.2.3.2. Một số tồn tại và thách thức trong công tác đào tạo và phát triển

3.3.4. Phát triển thị trường sức lao động 88
3.3.5. Thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng nhân tài 89
3.3.6. Hỗ trở các doanh nghiệp phát triển sản xuất, thu hút nhiều
lao động nhằm giảm tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động 90
3.3.7. Đầu tư phát triển y tế……… 91
3.3.8. Tạo môi trường lao động thuận lợi cho người lao động 92
3.3.9. Nhóm giải pháp ở phía các Doanh nghiệp 93
3.4. KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CHÍNH PHỦ, CÁC BỘ, NGÀNH LIÊN QUAN
VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ 94
3.4.1 Đối với Chính phủ 94
3.4.2. Đối với Thành phố 95
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1: Chỉ tiêu cơ cấu GDP ngành giai đoạn 2005 – 2011 40
Bảng 2: Lao động làm việc trong các ngành kinh tế ở thành phố Hồ Chí Minh 41
Bảng 3: Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên phân theo nhóm tuổi ở thành phố
Hồ Chí Minh 48
Bảng 4: Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động thành phố
Hồ Chí Minh 2011 53
Bảng 5: Nhu cầu tìm việc theo trình độ ở thành phố Hồ Chí Minh năm 2012 64
Bảng 6: Chỉ số nhu cầu nhân lực theo trình độ chuyên môn năm 2011-2012 65
DANH MỤC CÁC BIỂU

Biểu 1: Tỉ lệ GDP từng ngành so với thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2001 – 2011 39
Biểu 2: Lao động làm việc trong các ngành kinh tế ở thành phố Hồ Chí Minh
giai đoạn 2005 – 2012 39

- NQ-TW: Nghị quyết trung ương
- NQ-CP: Nghị quyết chính phủ
- OCDE: Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế Châu Âu
- ODA (Official Development Assistance): Hỗ trợ phát triển chính thức
- UBND: Ủy ban nhân dân
- UNIDO: Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hiệp Quốc
- XHCN: Xã hội chủ nghĩa
- FDI:Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
- WHO (World Health Organization): Tổ chức Y tế Thế giới

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
1. Dân số và lực lượng lao động của Nhật Bản từ năm 2005 -2012
2. Tổng GDP tốc độ phát triển phân theo các ngành kinh tế của thành phố Hồ Chí
Minh giai đoạn 2005-2011
3. Tỉ lệ GDP từng ngành so với thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2001 – 2011
4. Giá trị sản xuất của thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2001 – 2011
5. Lao động các ngành trong nền kinh tế quốc dân ở thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn
2005 - 2012
6. Dân số và tỷ lệ phát triển dân số ở thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2005-2011
7. Dân số trung bình phân theo giới tính ở thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn
2001 - 2011
8. Dân số phân theo thành thị và nông thôn ở thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2005-2011
9. Tốc độ tăng nguồn nhân lực ở thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2005 -2012
10. Dân số và lao động đang làm việc trong ngành kinh tế quốc dân của thành phố Hồ
Chí Minh giai đoạn 2005 – 2012
11. Số cơ sở y tế và cán bộ y tế ở thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2005- 2011
12. Hệ thống trường, lớp, giáo viên mẫu giáo ở thành phố Hồ Chí Minh
13. Hệ thống trường, lớp, giáo viên tiểu học ở thành phố Hồ Chí Minh
14. Hệ thống trường, lớp, giáo viên trung học cơ sở ở thành phố Hồ Chí Minh
15. Hệ thống trường, lớp, giáo viên trung học phổ thông ở thành phố Hồ Chí Minh

quên nhân tài và không để lãng phí nguồn nhân lực. Do vậy, các quốc gia cần phải chủ
động quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo và bồi dưỡng để nguồn nhân lực phát huy đạt hiệu
quả cao nhất.
Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội trong tình hình mới,
Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra những yêu cầu cơ bản trước mắt và lâu dài trong việc
sử dụng nguồn nhân lực có hiệu quả nhất, khai thác tiềm năng trí tuệ, phát huy những
yếu tố tinh thần gắn với truyền thống văn hóa dân tộc. Xây dựng mối quan hệ gắn bó
chặt chẽ giữa khai thác, sử dụng với việc đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao nguồn nhân

2
lực; coi chất lượng nguồn nhân lực là một tiền đề cơ bản để nâng cao hiệu quả kinh tế
- xã hội của đất nước.
Các Nghị quyết của Đảng và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước
đã đặt con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực trong sự nghiệp đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, con người và nguồn nhân lực là những nhân tố quan trọng
hàng đầu, quyết định sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của đất nước. Con
người Việt Nam có trình độ công nghệ tiên tiến hướng tới nền kinh tế tri thức với hàm
lượng chất xám (trí lực) cao và hiệu quả là tiền đề quan trọng để Việt Nam trở thành
nước công nghiệp vào năm 2020.
Chiến lược phát triển nguồn nhân lực đã trở thành một trong những nhiệm vụ hàng
đầu của mỗi tổ chức, doanh nghiệp và mỗi quốc gia trên thế giới. Nhiều quốc gia đã đặt
con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển và đề ra các chiến lược phát triển nguồn
nhân lực nhằm phục vụ tốt các yêu cầu phát triển trước mắt và lâu dài của mình.
Trong những thập kỷ gần đây, một số nước trong khu vực đã có những bước phát
triển quan trọng, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.
Các công trình nghiên cứu về “Sự thần kỳ Đông Á” đều nhấn mạnh tới vai trò của
nguồn nhân lực - vì nó có ý nghĩa to lớn quyết định trong việc đưa các nước này từ
chỗ kém phát triển, nghèo khổ, khan hiếm về tài nguyên và kiệt quệ sau chiến tranh đã
trở thành những nước công nghiệp mới, tạo ra sự tăng trưởng kinh tế cao và bền vững,
hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.

đời sống của người lao động.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nguồn nhân và phát triển nguồn nhân lực ở
thành phố Hồ Chí Minh, dưới góc độ kinh tế chính trị. Đối tượng nghiên cứu được đặt
trong mối quan hệ với sự phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh CNH, HĐH ở thành phố
Hồ Chí Minh và xu thế toàn cầu hóa kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển
kinh tế tri thức. Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Đề tài được nghiên cứu ở địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể là các đơn vị, các trường đại học, các trường dạy nghề,
các doanh nghiệp, các tổ chức nghiên cứu, ứng dụng và phát triển nhân lực. Thời gian

4
nghiên cứu của luận văn: phân tích, đánh giá thực trạng đối tượng nghiên cứu năm
2011 và định hướng phát triển đến năm 2020.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài của Luận văn thuộc chuyên ngành Kinh tế chính trị nên phương pháp sử
dụng sử dụng chủ yếu là phương pháp duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác-Lênin;
Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu tác giả còn sử dụng các phương pháp phân
tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp nội suy, thu thập số liệu, những thông tin
thực tế đã và đang diễn ra tại thành phố Hồ Chí Minh để xây dựng Luận văn. Mặt
khác, trên cơ sở những kiến thức đã học, những kinh nghiệm trong quá trình công tác
của bản thân để đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thành mục tiêu
nghiên cứu.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Đề tài
Việc nghiên cứu và thực hiện đề tài “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu
công nghiêp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Hồ Chí Minh từ nay đến năm 2020” là
việc làm cần thiết và có ý nghĩa quan trọng, giúp cho các cấp chính quyền của tỉnh có
những thông tin cần thiết để xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh; ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn của đề tài thể hiện qua các
nội dung sau đây:
Một là, hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về hoạch định chiến lược đào

trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Chương 2: Thực trạng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa ở thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2001 - 2013.
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực ở thành phố Hồ
Chí Minh từ nay đến năm 2020.
6
CHƯƠNG 1
CƠ SƠ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰCTRONG QUÁ TRÌNH CNH, HĐH.
1.1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực là một trong những vấn đề cốt lõi
của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia. Đặc biệt, trong thời đại ngày
nay, đối với các nước đang phát triển giải quyết vấn đề này đang là yêu cầu được đặt
ra hết sức bức xúc, nó vừa mang tính thời sự, vừa mang tính chiến lược xuyên suốt
trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước.
Nguồn nhân lực là một mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển con
người. Đứng về phương diện xã hội thì toàn bộ chiến lược phát triển con người cuối
cùng cũng trở thành nguồn nhân lực.
Ở đây, con người xuất hiện với tư cách là động lực của sự phát triển kinh tế - xã
hội: “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản chỉ đạo toàn bộ sự
phát triển đất nước” (Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII, 1997). Văn kiện Đại hội
Đảng lần thứ IX, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, năm 2001 thì lấy con người và
nguồn nhân lực là một trong ba khâu đột phá đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước: “Phát triển Giáo dục và Đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc
đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa là điều kiện để phát huy nguồn lực con
người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội; tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”.

có khả năng lao động, cũng như cả người ngoài tuổi lao động có nhu cầu và khả năng
tham gia lao động” (Phạm Thành Nghị, 2004).
Nguồn nhân lực là tổng hợp tiềm năng lao động của con người trong một quốc
gia, một vùng, một khu vực, một địa phương trong một thời điểm cụ thể nhất định.
Tiềm năng của nguồn nhân lực bao gồm thể lực, trí lực và tâm lực (đạo đức, lối sống,
nhân cách và truyền thống, lịch sử, văn hóa, dân tộc) của bộ phận dân số có thể tham
gia vào các hoạt động kinh tế xã hội. “Chúng tôi hiểu sức lao động hay năng lực lao
động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong

8
một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một
giá trị sử dụng nào đó” (Các Mác,1988).
Đề cao vai trò của yếu tố con người cũng là nét nổi bật trong tư tưởng kinh tế của
Karl Marx với tư tưởng chủ đạo: chỉ có lao động mới tạo ta giá trị nguồn gốc duy nhất
của mọi của cải trong xã hội. Tư tưởng này có ý nghĩa quan trọng; nó cho thấy tiến bộ
kỹ thuật không hề làm giảm ý nghĩa của yếu tố con người mà ngược lại, cùng với quá
trình áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất con người cùng với tiềm năng trí
tuệ có vai trò ngày càng quan trọng.
* Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Nguồn lực con người là quý
báu nhất, có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta khi nguồn lực tài chính và
nguồn lực vật chất còn hạn hẹp”, đó là “người lao động có trí tuệ cao, tay nghề thành
thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi nền giáo dục tiên
tiến gắn liền với một nền khoa học hiện đại” (ĐCS Việt Nam, 1997).
Ngoài ra, một số tác giả khác khi nghiên cứu các đề tài về nguồn nhân lực và
phát triển nguồn nhân lực Việt Nam cũng đã đưa ra những quan điểm khác nhau về
nguồn nhân lực; theo tôi, khái niệm nguồn nhân lực nên được hiểu một cách ngắn gọn
là nguồn lực con người. Điều đó, cũng có nghĩa là khái niệm nguồn nhân lực cần tập
trung phản ánh những vấn đề sau đây :
Một là, xem xét nguồn nhân lực dưới góc độ nguồn lực con người - yếu tố quyết
định sự phát triển của xã hội; hai là, nguồn nhân lực bao gồm số lượng và chất lượng,

đến nguồn nhân lực mà không đề cập đến sự phối hợp hài hòa giữa ba yếu tố trí lực,
thể lực và nhân cách thẩm mỹ, vì nó là điều kiện tạo nên sức mạnh trong mỗi con
người, trong cộng đồng và cũng là để hướng cho người lao động phát triển toàn diện.
1.1.2. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực
Từ khái niệm về nguồn nhân lực, chúng ta có thể hiểu về phát triển nguồn nhân
lực là gia tăng giá trị cho con người trên các mặt đạo đức, trí tuệ, kỹ năng lao động, thể
lực, tâm hồn… Để họ có thể tham gia vào lực lượng lao động, thực hiện tốt quá trình
sản xuất và tái sản xuất tạo ra nhiều sản phẩm, góp phần làm giàu cho đất nước làm
giàu cho xã hội.

10
Phát triển nguồn nhân lực được xem xét trên hai mặt chất và lượng. Về chất phát
triển nguồn nhân lực phải được tiến hành trên cả ba mặt: phát triển nhân cách, phát
triển trí tuệ, thể lực, kỹ năng và tạo môi trường thuận lợi cho nguồn nhân lực phát
triển; về lượng là gia tăng số lượng nguồn nhân lực, điều này tùy thuộc vào nhiều nhân
tố trong đó dân số là nhân tố cơ bản.
Bất kỳ quá trình sản xuất nào cũng có 3 yếu tố: sức lao động, đối tượng lao động
và tư liệu lao động. Do vậy, phát triển nguồn nhân lực chính là đầu tư vào các các yếu
tố của quá trình sản xuất. Cần lưu ý rằng trong tất cả các yếu tố đầu tư thì đầu tư vào
con người, đầu tư cho nguồn nhân lực là đầu tư quan trọng nhất. Đầu tư cho con người
được thể hiện ở nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn: giáo dục tại nhà trường, đào
tạo nghề nghiệp tại chỗ, chăm sóc y tế….
Phát triển nguồn nhân lực dưới góc độ của một đất nước là quá trình tạo dựng
một lực lượng lao động năng động, thể lực và sức lực tốt, có trình độ lao động cao, có
kỹ năng sử dụng, lao động có hiệu quả. Xét ở góc độ cá nhân thì phát triển nguồn nhân
lực là việc nâng cao kỹ năng, năng lực hành động và chất lượng cuộc sống nhằm nâng
cao năng suất lao động. Tổng thể phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động nhằm
nâng cao thể lực, trí lực của người lao động, đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất. Trí lực
có được nhờ quá trình đào tạo và tiếp thu kinh nghiệm. Thể lực có được nhờ vào chế
độ dinh dưỡng, rèn luyện thân thể và chăm sóc y tế, môi trường làm việc….

Trong điều kiện hiện nay, quan điểm về công nghiệp hóa dù trên góc độ nào cũng
cũng không đồng nhất quá trình phát triển công nghiệp. Công nghiệp hóa là quá trình
rộng lớn và phức tạp, bản chất của quá trình này bao hàm trên các mặt sau đây:
Thứ nhất, công nghiệp hóa là quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ hiện
đại cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân, trước hết là các ngành chiếm vị trí trọng
yếu. Thực hiện công nghiệp hóa trong điều kiện cách mạng khoa học - kỹ thuật ngày
nay, quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ cho các ngành phải gắn liền với quá
trình hiện đại hóa ở các phần cứng và phần mềm của công nghệ. Quá trình này đồng
thời là quá trình xây dựng xã hội văn minh công nghiệp và cải biến các ngành kinh tế,
làm cho nhịp độ tăng trưởng kinh tế - xã hội nhanh ổn định, cải thiện đời sống vật chất

12
và tinh thần của các tầng lớp dân cư, thu hẹp dần chênh lệch trình độ kinh tế - xã hội
của các nước đó với các nước phát triển.
Thứ hai, quá trình công nghiệp hóa không chỉ liên quan đến phát triển công
nghiệp mà là quá trình bao trùm tất cả các ngành, các lĩnh vực hoạt động đất nước. Đó
là tất yếu vì nền kinh tế của mỗi nước là một hệ thống thống nhất, các ngành, các lĩnh
vực hoạt động có quan hệ tương đối với nhau. Sự thay đổi kinh tế, lĩnh vực hoạt động
này sẽ kéo theo sự thay đổi thích ứng của các ngành, lĩnh vực khác.
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các nước đang phát triển trong quá trình công
nghiệp hóa, diễn ra theo xu hướng sau:
- Nông nghiệp trong giai đoạn đầu giữ vững vị trí hàng đầu, là hoạt động kinh tế
cơ bản của người dân, tạo ra những hàng hóa tiêu dùng thiết yếu cho người dân và bảo
đảm một số điều kiện quan trọng cho phát triển nông nghiệp.
- Công nghiệp trong nhận thức được coi là ngành quan trọng, nhưng trong giai
đoạn đầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở các nước đang phát triển chỉ có lực
lượng công nhiệp nhỏ bé sản tiêu dùng đơn giản và khai thác các sản phẩm thô từ tài
nguyên thiên nhiên.
- Các hoạt động dịch vụ sản xuất và dịch vụ đời sống là điều kiện để phát triển
kinh tế và cải thiện đời sống dân cư. Không thề có quá trình công nghiệp hóa nhanh

Các lý luận hiện đại hóa là lý luận trên cơ sở thay thế tính đồng nhất bằng tính
hiện đại của xã hội. Các lý luận hiện đại hóa không phải là phương thức duy nhất để
lý giải những chuyển biến của xã hội.
Khái niệm hiện đại hóa được nói ở đây là toàn bộ các quá trình, các dạng cải
biến, các bước quá độ kinh tế, xã hội khác nhau đang tồn tại lên trình độ mới, cao hơn,
đựa trên những thành tựu của khoa học kỹ thuật nhằm phục vụ tốt hơn cho sự phát
triển toàn diện của con người và tiến bộ xã hội. Quan niệm hiện đại hóa xã hội như vậy
không những chỉ ra khả năng mới của các quốc gia trong thời đại cách mạng khoa học
- kỹ thật có thể xuất phát từ các trình độ kinh tế xã hội khác nhau, dù là rất thấp, tận
dụng điều kiện quốc tế mới và các thành quả của cách mạng khoa học - kỹ thuật để
“tiến thẳng” lên trình độ xã hội cao mà các nước phát triển cao khác đang hướng đến,

14
thông qua những bước trung gian ngắn với thời gian một vài thế hệ có thể đuổi kịp các
quốc gia “hiện đại”.
1.2. VAI TRÒ CỦA NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
1.2.1. Vai trò của nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực của sự phát triển
kinh tế như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người … Trong
các nguồn lực đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết định
trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay. Một nước
cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhưng không
có những con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thì khó có
khả năng có thể đạt được sự phát triển như mong muốn.
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và ngày nay trong công cuộc
hội nhập và phát triển nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh”, Đảng ta luôn xác định: Nguồn lao động dồi dào, con người Việt Nam
có truyền thông yêu nước, cần cù, sáng tạo, có nền tảng văn hoá, giáo dục, có khả năng
nắm bắt nhanh khoa học và công nghệ là nguồn lực quan trọng nhất - nguồn năng lực

người. Với tư cách là mục tiêu và động lực phát triển, con người có vai trò to lớn
không những trong đời sống kinh tế mà còn trong lĩnh vực hoạt động khác. Bởi vậy,
phải quan tâm, nâng cao chất lượng con người, không chỉ với tư cách là người lao
động sản xuất, mà với tư cách là công dân trong xã hội, một cá nhân trong tập thể, một
thành viên trong cộng đồng nhân loại không thể thực hiện được công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nếu không có đội ngũ đông đảo những công nhân lành nghề, những nhà khoa
học kỹ thuật tài năng, giỏi chuyên môn nghiệp vụ, những nhà doanh nghiệp tháo vát,
những nhà lãnh đạo, quản lý tận tụy biết nhìn xa trông rộng.
1.2.2. Vai trò của nguồn nhân lực đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Phát triển kinh tế không chỉ là sự tăng lên về số lượng, chủng loại và chất lượng
sản phẩm mà còn làm thay đổi cả cơ cấu kinh tế. Dưới góc độ đó, những nhân tố liên
quan đến phát triển kinh tế có những đặc điểm riêng của nó. Nhân tố đóng vai trò quan

16
trọng đối với phát triển kinh tế trước hết đó là phát triển lực lượng sản xuất trong đó
nhân tố cốt lõi là nguồn lao động. V.I. Lênin cho rằng: “Lực lượng sản xuất hàng đầu
của toàn nhân loại là người công nhân, là người lao động” (Lênin toàn tập,
1899).
Như vậy nguồn lực con người không chỉ có ý nghĩa đối với tăng trưởng kinh tế
mà còn đóng vai trò quyết định đối với phát triển kinh tế. Nguồn lực con người không
chỉ có ý nghĩa trong việc kết hợp các yếu tố tự nhiên, mà còn cải tạo tự nhiên để tạo ra
của cải có ích cho con người và xã hội. Chính vì vậy sự phát triển của một quốc gia về
kinh tế, chính trị, xã hội đều do con người và lấy con người là nhân tố trung tâm của
sự phát triển nhanh và bền vững.
Nhân tố thứ hai liên quan đến phát triển kinh tế là quan hệ sản xuất. Như chúng
ta biết quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất thể
hiện tính chất tốt xấu về mặt xã hội của những quá trình sản xuất đó. Quan hệ sản xuất
được thể hiện trên ba nội dung quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ về tổ chức
quá trình sản xuất xã hội hay trao đổi kết quả lao động cho nhau và quan hệ phân phối
sản phẩm. Trong ba mặt của quan hệ sản xuất thì quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là

chứng tỏ vai trò của nguồn nhân lực có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Trong các nguồn
nhân lực sẵn có thì chất lượng nguồn nhân lực có ý nghiã đặc biệt quan trọng. Như đã
phân tích trên để cải biến đối tượng lao động thông qua tư liệu lao động phải sử dụng
lao động chân tay, song để sáng tạo ra các đối tượng lao động và tư liệu lao động mới
tất yếu cần đến đội ngũ lao động trí óc.
Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực trước hết phải kể đến là
sức khỏe của nguồn nhân lực. Đây là một yêu cầu tất yếu, tiên quyết và không thể
thiếu. Bởi sức khỏe là nhân tố quyết định để duy trì sự tồn tại, là cơ sở cốt yếu để tiếp
nhận, duy trì và phát triển trí tuệ. Hơn thế, chỉ có sức khỏe mới là cơ sở cho giáo dục
đào tạo tốt hơn, mới hình thành được nguồn nhân lực có sức khỏe tốt không chỉ về thể
trạng mà cả nội dung bên trong của nó nguồn nhân lực có chất lượng cao.
Ngày nay với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ
thì vai trò của đội ngũ trí thức, lao động chất xám ngày càng tăng và càng có ý nghĩa
quyết định. Điều này đã được Karl Marx dự báo khoa học về vai trò của lao động trí

Trích đoạn Phân tích cung – cầu lao động ở thành phố Hồ Chí Minh Phân tích xu hướng nhu cầu lao động ở thành phố Hồ Chí Minh Xu hướng nhu cầu nhân lực theo ngành nghề Hồ Chí Minh Định hướng phát triển nguồn nhân lực ở thành phố Hồ Chí Minh Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực ở thành phố Hồ Chí Minh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status