HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ KIM LIÊN
C¤NG NGHIÖP V¡N HãA ë
THµNH PHè Hå CHÝMINH HIÖN NAY
(Qua khảo sát một số lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA HỌC
HÀ NỘI – 2015
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ KIM LIÊN
C¤NG NGHIÖP V¡N HãA ë
THµNH PHè Hå CHÝMINH HIÖN NAY
(Qua khảo sát một số lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA HỌC
Mã số: 62 31 06 40
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ HƯƠNG
PGS.TS. NGUYỄN TOÀN THẮNG
HÀ NỘI - 2015
19
28
31
VĂN HÓA VÀ NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN Ở THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH
2.1. Một số khái niệm công cụ
2.2. Đặc điểm và vai trò của nghệ thuật biểu diễn
2.3. Những nhân tố tác động đến nghệ thuật biểu diễn ở Thành phố Hồ
Chí Minh hiện nay
31
Chƣơng 3: THỰC TRẠNG LĨNH VỰC NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN Ở
61
42
53
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
3.1. Thực trạng hoạt động sáng tạo/sản xuất nghệ thuật biểu diễn ở
Thành phố Hồ Chí Minh
3.2. Thực trạng công nghệ tổ chức biểu diễn và doanh thu
3.3. Thực trạng phân khúc thị trường và vấn đề bản quyền
3.4. Đánh giá chung
Chƣơng 4: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN
133
151
164
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
ASEAN
: Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
CLB
: Câu lạc bộ
CNVH
: Công nghiệp văn hóa
FTA
: Hiệp định Thương mại tự do
GĐ
: Giám đốc
NCS
Tp
: Thành phố
UNESCO
: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc
UNCTAD
: Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc
VH, TT & DL : Văn hóa, Thể thao và Du lịch
VCPMC
: Trung tâm Bảo vệ quyền tác phẩm âm nhạc Việt Nam
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
WTO
: Tổ chức Thương mại Thế giới
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 3.1:Tỷ lệ tăng doanh thu của sân khấu Hồng Vân giai đoạn 2009 – 2013
82
83
86
96
97
98
98
99
106
107
120
122
123
126
144
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1: Chính sách nhà nước cần ưu tiên để tạo động lực phát triển CNVH
139
Bảng 4.2: Giải pháp cần ưu tiên phát triển công nghiệp văn hóa
143
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
hoá của các nước trên thế giới” [70, tr.11]. Nghị quyết số 23 của Bộ Chính trị
(2009) về phát triển văn học, nghệ thuật thời kỳ mới đã khẳng định về sự hình
thành một thị trường hàng hóa và dịch vụ các sản phẩm văn học, nghệ thuật.
Nghị quyết số 22-NQ/TW về Hội nhập quốc tế (2013), trong đó việc xây dựng
Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa được xem là một trong
những nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ. Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI (Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI)
(2014), đề ra nhiệm vụ xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh, đẩy mạnh phát
triển công nghiệp văn hóa, tăng cường quảng bá văn hóa Việt Nam; phát triển
công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa.... Tuy
nhiên, cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa ban hành được Chiến lược phát triển công
nghiệp văn hóa. Điều này sẽ hạn chế việc cụ thể hóa những quan điểm đổi mới của
Đảng về phát triển văn hóa, phát huy sức mạnh nội sinh của dân tộc trong giai đoạn
đổi mới, hội nhập hiện nay. Vì vậy, thực hiện đề tài nghiên cứu này sẽ góp phần
triển khai đường lối của Đảng về phát triển văn hóa nói chung và công nghiệp văn
hóa nói riêng.
Công nghiệp văn hóa bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó, nghệ
thuật biểu diễn là một trong những lĩnh vực quan trọng có tính đặc thù. Nghiên
cứu công nghiệp văn hóa trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn ở Tp. Hồ Chí Minh
hiện nay là vấn đề hết sức bức thiết. Bởi lẽ, Tp. Hồ Chí Minh là một thành phố
công nghiệp trẻ, năng động và phát triển, có nhiều điểm giải trí về văn hóa nghệ
thuật nhất trong cả nước. Cùng với sự phát triển kinh tế, mức sống của người
dân được nâng cao, hoạt động vui chơi giải trí ngày càng được quan tâm hơn để
đáp ứng nhu cầu văn hoá tinh thần của xã hội. Sự phát triển về du lịch nảy sinh
yêu cầu phục vụ du khách cũng đã góp phần làm phong phú thêm lĩnh vực dịch
vụ này. Trong những năm đổi mới gần đây, do tác động của cơ chế thị trường và
ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hóa, hoạt động nghệ thuật biểu diễn ở Tp. Hồ Chí
Minh đã có những chuyển biến rõ rệt. Nhiều yếu tố của nghệ thuật biểu diễn
4
4. Dự báo xu hướng vận động, phát triển của công nghiệp văn hóa ở Việt
Nam nói chung, nghệ thuật biểu diễn ở Tp. Hồ Chí Minh nói riêng trong thời
gian tới; khuyến nghị một số giải pháp nhằm phát triển lĩnh vực nghệ thuật biểu
diễn ở Tp. Hồ Chí Minh trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập
quốc tế.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Nghệ thuật biểu diễn bao gồm nhiều lĩnh vực
khác nhau. Luận án chỉ tập trung nghiên cứu, khảo sát ba lĩnh vực: Âm nhạc,
Sân khấu Kịch nói và Múa ở một số đơn vị công lập và ngoài công lập trên địa
bàn Tp. Hồ Chí Minh.
Sở dĩ luận án chọn lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn tại Tp. Hồ Chí Minh vì
đây là lĩnh vực nghệ thuật khá nổi bật trong phát triển công nghiệp văn hóa cả
trên thế giới và trong nước. Khi bàn đến cơ cấu của công nghiệp văn hóa, các
nước châu Á, châu Âu, UNESCO cũng đều đề cập loại hình này trong cách phân
loại công nghiệp văn hóa. Trong loại hình nghệ thuật biểu diễn ở Tp. Hồ Chí
Minh thì lĩnh vực kịch nói, ca - múa - nhạc phát triển khá sôi nổi.
3.2. Phạm vi nghiên cứu: Luận án khảo sát từ năm 2010 đến 2015, vì đây
là khoảng thời gian các loại hình nghệ thuật biểu diễn như Kịch nói, Âm nhạc và
Múa ở Tp. Hồ Chí Minh phát triển khá rầm rộ, chứa đựng tính đại diện và điển
hình cho sự phát triển công nghiệp văn hóa thông qua các loại hình nghệ thuật
này ở Tp. Hồ Chí Minh.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Công nghiệp văn hóa có thể được nghiên cứu từ nhiều ngành khoa học
chuyên biệt như kinh tế học, xã hội học, văn hóa học, lịch sử văn hóa…Tuy
nhiên, để phù hợp với mã số chuyên ngành văn hóa học, luận án chú trọng
phương pháp tiếp cận văn hóa học đối với nghệ thuật biểu diễn, đặc biệt chú ý
đến giá trị thẩm mỹ, nghệ thuật và ảnh hưởng của nghệ thuật biểu diễn, tiềm
luận án chọn một số loại hình nghệ thuật biểu diễn để khảo sát, đánh giá dưới
góc nhìn công nghiệp văn hóa.
+ Phương pháp phân tích SWOT (Điểm mạnh - Điểm yếu - Cơ hội Thách thức): Phương pháp này giúp tác giả luận án chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu,
thời cơ, thách thức, triển vọng để phát triển công nghiệp văn hóa ở Tp. Hồ Chí
Minh; từ đó đề xuất giải pháp để giải quyết những vấn đề đang được đặt ra.
6
+ Phương pháp điều tra xã hội học: Chúng tôi thực hiện phương pháp
này bằng quy trình sau:
Giai đoạn 1: Chọn mẫu. Chúng tôi chọn 200 khán giả của Sân khấu kịch
Idecaf, Sân khấu kịch Hồng Vân, Nhà hát Nhạc – Vũ kịch Tp. Hồ Chí Minh,
Nhà hát Kịch sân khấu nhỏ 5B, Sân khấu ca nhạc 126, Sân khấu ca nhạc Trống
Đồng, cách chọn mẫu thuận tiện – phi xác suất - nghĩa là chọn những khán giả
dễ tiếp cận nhất để khảo sát. Ngoài ra, khảo sát 100 cán bộ quản lý ở Sở Văn
hóa, Thể thao và Du lịch Tp. Hồ Chí Minh (Sở VH, TT & DL Tp. Hồ Chí Minh)
cán bộ/ nhân viên ở một số sân khấu kịch, ca nhạc nói trên.
Giai đoạn 2: Soạn câu hỏi khảo sát: dựa trên dữ liệu nghiên cứu của đề
tài; xây dựng bảng hỏi theo tiêu chí phát hiện: nhận thức, thái độ, hành vi của
các nhóm chủ thể khác nhau đối với lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn ở Tp. Hồ Chí
Minh hiện nay; khảo sát thử và điều chỉnh để hoàn thiện bảng hỏi.
Giai đoạn 3: Xây dựng và tập huấn khảo sát viên (khảo sát viên là tác giả
luận án, đồng nghiệp và một số sinh viên).
Giai đoạn 4: Khảo sát đại trà khán giả tại các sân khấu và tại các cơ quan
quản lý nhà nước về văn hóa.
Giai đoạn 5: Xử lý kết quả khảo sát bằng phần mềm SPSS 16.0 và lên
bảng biểu, sơ đồ, rút ra kết luận sơ bộ.
Chúng tôi còn tiến hành phỏng vấn sâu một số nhà quản lý văn hóa, các
doanh nghiệp văn hóa, các công ty tổ chức sự kiện…tìm ra những thuận lợi, khó
khăn cũng như những thành tựu và hạn chế, những vấn đề đặt ra trong lĩnh vực
xây dựng và phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung luận án kết cấu thành 4 chương, 13 tiết. Cụ thể:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 2: Cơ sở lý luận tiếp cận nghiên cứu công nghiệp văn hoá và nghệ thuật
biểu diễn ở Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Thực trạng lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn ở Thành phố Hồ Chí Minh
hiện nay
Chương 4: Những vấn đề đặt ra đối với phát triển nghệ thuật biểu diễn ở
Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay và một số khuyến nghị
8
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI
1.1.1. Những nghiên cứu lý thuyết về công nghiệp văn hóa và nghệ
thuật biểu diễn
Hiện nay, ngành công nghiệp văn hoá nói chung và nghệ thuật biểu diễn
nói riêng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia. Vì vậy, công
nghiệp văn hóa (CNVH) đã trở thành đối tượng quan tâm của các nhà khoa học
và quản lý. Có thể nêu ra những công trình nghiên cứu lý luận (về khái niệm,
phân loại, cấu trúc, đặc trưng, quy luật tác động… của công nghiệp văn hóa và
nghệ thuật biểu diễn) tiêu biểu sau:
Trong cuốn sách nổi tiếng Dialectic of Enlightenment (Biện chứng của
Khai sáng) xuất bản năm 1947 của Adorno và Horkheimer, lần đầu tiên cụm từ
công nghiệp văn hóa (cultural industry) đã được sử dụng.
Theodor Adorno trong cuốn sách khác: Culture Industry Reconsidered đã
trên phạm vi toàn cầu với các sản phẩm: phim, âm nhạc, chương trình truyền
hình, phát thanh, quảng cáo, nghệ thuật biểu diễn, thể thao... Bên cạnh đó, công
trình cũng là tài liệu tham khảo hữu ích về các vấn đề về kinh tế, tài chính, sản
xuất, tiếp thị và vui chơi giải trí ở Mỹ và nhiều nước khác trên thế giới đối với
các nhà đầu tư, quản trị kinh doanh, kế toán, luật sư, nhà quản lý nghệ thuật và
độc giả nói chung.
Throsby David and Glenn A. Withers: The Economics of the Performing
Arts - Kinh tế học về Nghệ thuật biểu diễn (edition 1993), Edward Arnold
(Australia). Ở công trình này, các tác giả đã đề cập đến các vấn đề chung về
nghệ thuật biểu diễn và hệ thống lý thuyết trong kinh tế của nghệ thuật biểu diễn.
Ngoài ra, một số nước châu Á như Trung Quốc, Hồng Kông, Nhật Bản,
Hàn Quốc, Ấn Độ... đã và đang đặt ra mục tiêu trở thành cường quốc về “công
nghiệp văn hóa”. Khái niệm công nghiệp văn hóa được dùng phổ biến.
Ở Hồng Kông, tư tưởng về công nghiệp văn hóa lần đầu tiên được nêu lên
do một số tổ chức phi chính phủ về văn hóa vào khoảng năm 1999 – 2000.
10
Trong bản báo cáo năm 2003, định nghĩa các ngành công nghiệp văn hóa được
nêu rõ: “một nhóm các hoạt động kinh tế khai thác và triển khai tính sáng tạo, kỹ
năng và tài sản trí tuệ để sản xuất và phân phối các sản phẩm và dịch vụ có ý
nghĩa văn hóa và xã hội, một hệ thống sản xuất thông qua đó tiềm năng tạo ra giàu
có và sáng tạo nghề nghiệp được thực hiện”. Danh sách các ngành công nghiệp
văn hóa được liệt kê bao gồm: quảng cáo, kiến trúc, nghệ thuật, cổ vật và đồ thủ
công, thiết kế, giải trí kỹ thuật số, phim và video, âm nhạc, nghệ thuật trình diễn,
xuất bản và in ấn, phần mềm và kỹ thuật máy tính, phát thanh truyền hình.
Hiện nay, Hàn Quốc là một trong năm nước có ngành công nghiệp văn
hóa mạnh nhất thế giới. Có được điều này là vì Chính phủ Hàn Quốc khẳng định
văn hóa là một lĩnh vực kinh tế năng động, đóng góp trực tiếp và gián tiếp vào
sự phát triển của nền kinh tế Hàn Quốc. Luật Phát triển Nghệ thuật và Văn hóa
(UNESCO). Cùng với những vấn đề nảy sinh trong phát triển xã hội đương đại,
với tư cách là một cơ quan văn hóa của Liên hợp quốc, UNESCO ngày càng có
những quan tâm đặc biệt đến vấn đề này, cả về phương diện lý luận lẫn phương
diện thực tiễn. Từ những nhận thức mới về vai trò của văn hóa đối với sự phát
triển của các quốc gia và nhân loại nói chung, UNESCO đã đề cập đến vai trò
của văn hóa trong những lĩnh vực cụ thể, trong đó có công nghiệp văn hóa.
Trong công trình: Các ngành công nghiệp văn hóa – Tâm điểm của văn
hóa trong tương lai [116], UNESCO đã định nghĩa: “Các ngành công nghiệp kết
hợp sự sáng tạo, sản xuất và khai thác các nội dung có bản chất phi vật thể và
văn hóa. Các nội dung này thường được bảo vệ bởi luật bản quyền và thể hiện
dưới dạng các sản phẩm hay dịch vụ”. Các ngành công nghiệp văn hóa bao gồm
ngành in ấn, xuất bản, đa phương tiện, nghe nhìn, ghi âm, điện ảnh, thủ công và
thiết kế. Đối với một số nước, các ngành công nghiệp văn hóa còn bao hàm kiến
trúc, nghệ thuật biểu diễn, nghệ thuật thị giác, thể thao, sản xuất nhạc cụ, quảng
cáo và du lịch văn hóa. Như vậy, phạm vi của các ngành công nghiệp văn hóa
khá rộng, từ những ngành mang tính truyền thống như văn hóa dân gian, thủ
công, lễ hội, văn học, nghệ thuật biểu diễn đến các ngành mang nặng tính công
nghệ như điện ảnh, truyền thông, phim hoạt hình kỹ thuật số, trò chơi điện tử và
các ngành thiên về dịch vụ như kiến trúc và quảng cáo.
12
Các ngành công nghiệp văn hóa có sự kết hợp chặt chẽ giữa văn hóa, nghệ
thuật, kinh tế và công nghệ. Các ngành này đều sáng tạo, sản xuất và phân phối
các sản phẩm và dịch vụ sử dụng nguồn lực trí tuệ của con người như những
nguyên liệu đầu vào then chốt.
Vai trò quan trọng của văn hóa đã được thể hiện qua bốn mục tiêu cuộc
vận động Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa: (1) Với khẩu hiệu “Văn hóa vì
phát triển” đã khẳng định vị trí quan trọng của văn hóa trong phát triển, tìm mọi
phương thức có thể cho sự phù hợp giữa sản xuất và sáng tạo, để kinh tế có thể
James Heilbrun and Charles M.Gray (1993), The Economics of Art and
Culture - An American Perspective - Kinh tế học về Nghệ thuật và Văn hóa –
Một triển vọng ở Mỹ, Cambridge University Press. Các vấn đề được bàn đến
trong công trình này là: Vấn đề tài chính, kinh tế của mỹ thuật và nghệ thuật biểu
diễn ở Hoa Kỳ; chính sách công và vai trò của nó đối với các loại hình văn hóa
nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật biểu diễn; một số khái niệm, lý thuyết liên quan
đến hoạt động biểu diễn nghệ thuật; vấn đề sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm nghệ
thuật biểu diễn; vấn đề tài chính và thị trường nghệ thuật trong xã hội đương đại; dự
báo tương lai phát triển nghệ thuật biểu diễn tại Hoa Kỳ.
Throsby David and Glenn A. Withers: The Economics of the Performing
Arts - Kinh tế học về Nghệ thuật biểu diễn (edition 1993), Edward Arnold
(Australia). Ở công trình này, ngoài nghiên cứu về lý luận kể trên, các tác giả
còn phân tích một số kinh nghiệm về chính sách công của nghệ thuật biểu diễn
và các quan điểm về chính sách công. Phát triển các lý thuyết cơ bản về hành vi của
các tổ chức nghệ thuật, người tiêu dùng và khách hàng trung thành; kiểm chứng
tính đúng đắn của những lý thuyết này với thực tiễn. Công trình đã trở thành một
trong những tài liệu tham khảo quan trọng trong lĩnh vực kinh tế văn hóa.
Cùng với Throsby David, giáo sư Victor A. Ginsburgh - một nhà kinh tế
học người Bỉ, gốc Áo, chuyên nghiên cứu các lý thuyết về kinh tế vi mô, văn hóa
kinh tế đã cho ra đời tác phẩm: Handbook of the Economics of Art and Culture Sổ tay Kinh tế học Văn hóa và Nghệ thuật. Công trình gồm 05 phần với các nội
dung chuyên sâu như: Giá trị và việc xác định giá trị trong nghệ thuật và văn
hóa; cung, cầu; tiêu dùng và đầu tư; đổi mới và thay đổi công nghệ, thương mại,
phát triển đa dạng văn hóa và các vấn đề văn hóa rộng hơn.
14
Ruth Towse là giáo sư đầu ngành của lĩnh vực kinh tế và công nghiệp văn
hóa, bà đã tham gia giảng dạy ở rất nhiều trường đại học nổi tiếng ở trên thế giới
về những lĩnh vực này vừa xuất bản cuốn sách: A Handbook of Cultural
Economic: Sổ tay kinh tế học văn hóa (2011). Ở công trình này, giáo sư đã tập
xuất) và bên cầu (tiêu thụ) trong cán cân kinh tế. Các ngành công nghiệp được
tạo nên do nhu cầu của xã hội và cung ứng cho thị trường sản phẩm, dịch vụ để
đáp ứng nhu cầu đó. Tương tự như vậy, ngành công nghiệp văn hóa ra đời do
nhu cầu văn hóa, tinh thần của xã hội.
Với cách tiếp cận văn hóa là một ngành công nghiệp, Richard E. Caves chuyên gia đầu ngành của Đại học Harvard về lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn
hóa, công nghiệp văn hóa đã xuất bản cuốn sách: Creative Industries: Contracts
Between Art and Commerce, Ngành công nghiệp sáng tạo: khế ước giữa nghệ
thuật và thương mại, Harvard University Press (2000). Nghiên cứu này phân tích
vấn đề tổ chức của các ngành công nghiệp sáng tạo bao gồm nghệ thuật thị giác và
biểu diễn, phim, nhà hát, xuất bản sách... Ông cho rằng, việc tổ chức kinh doanh
của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp sáng tạo cũng được
thực hiện theo một logic, quy trình giống như các lĩnh vực kinh doanh khác.
Công trình cung cấp một cách toàn diện các vấn đề cốt lõi trong quản lý
nghệ thuật biểu diễn là: Theatre Management: Producing and Managing the
Performing Arts - Quản lý Nhà hát: Sản xuất và quản lý nghệ thuật biểu diễn của
David M. Conte4and Stephen Langley, xuất bản năm 2007. Theo các tác giả này,
vấn đề cốt lõi trong quản lý nghệ thuật biểu diễn là sản xuất giới thiệu các sản
phẩm nghệ thuật đáp ứng nhu cầu của khách hàng và phù hợp với tiềm lực của
đơn vị nghệ thuật; vấn đề tìm kiếm và phát triển thị trường khán giả, tài chính,
ngân sách, quan hệ công chúng, tính sáng tạo và xây dựng đội ngũ nguồn nhân lực
của đơn vị nghệ thuật; những nhiệm vụ, tổ chức và cơ cấu pháp lý, địa điểm thực
hiện những dự án nghệ thuật biểu diễn, phòng vé và công tác bán vé; vấn đề gây
quỹ, tiếp thị, quảng cáo… Trong việc cập nhật một cách cẩn thận, kỹ lưỡng những
thông tin từ các nhà quản lý nhà hát, quản lý nghệ thuật biểu diễn tại Mỹ, công
trình giải quyết nhu cầu và mối quan tâm đối đầu với các nhà quản lý nghệ thuật
trong thế kỷ XXI. Đây là một tài liệu tham khảo không thể thiếu cho tất cả các nhà
quản lý nghệ thuật và việc phát triển công nghiệp nghệ thuật biểu diễn.
16
17
hóa đặc biệt khác với các hàng hóa thông thường. Khác với Pháp, Mỹ quan niệm
văn hóa là một loại sản phẩm hàng hóa, tập trung đầu tư phát triển công nghiệp
văn hóa, đặc biệt là điện ảnh và âm nhạc. Mỹ không có chính sách văn hóa giống
như các nước Châu Âu. Tổng thống hay Quốc hội, chính quyền Trung ương
không trực tiếp can thiệp vào chính sách văn hóa cụ thể. Nhà nước chỉ thông qua
Luật công pháp quy định thành lập Quỹ quốc gia về văn hóa và nhân văn, hỗ trợ
vật chất, tạo môi trường khuyến khích tự do trong sáng tạo... Hay như ở Hàn
Quốc, đặc điểm nổi bật nhất hiện nay trong chính sách văn hóa của Hàn Quốc là
sự dịch chuyển từ chỗ quá trình hoạch định chính sách văn hóa hoàn toàn tập
trung trong tay cơ quan quản lý nhà nước trung ương sang phân cấp, phân quyền
cho các chính quyền địa phương với sự tham gia tích cực của xã hội dân sự, bao
gồm các đơn vị, tổ chức văn hóa – nghệ thuật, các nhà nghiên cứu văn hóa, các
tổ chức phi chính phủ và giới văn nghệ sĩ trong quá trình nghiên cứu, hình thành,
xây dựng và triển khai thực hiện chính sách văn hóa.
Đánh giá chung:
Có thể thấy, cho đến nay, các nhà khoa học trên thế giới đã có khá nhiều
các công trình nghiên cứu về công nghiệp văn hóa cũng như nghệ thuật biểu
diễn. Các vấn đề được các học giả nghiên cứu tập trung ở một số mặt:
Về nghiên cứu lý thuyết: Xuất phát từ các góc độ tiếp cận cũng như điều
kiện lịch sử, địa lý, kinh tế, văn hóa khác nhau nên các nhà nghiên cứu về công
nghiệp văn hóa đều đưa ra những cách hiểu khác nhau về quan niệm cũng như
cách phân loại lĩnh vực này. Vẫn còn nhiều tranh luận xoay quanh tên gọi: công
nghiệp văn hóa, công nghiệp sáng tạo, công nghiệp văn hóa và sáng tạo, công
nghiệp nghệ thuật, công nghiệp bản quyền, công nghiệp giải trí... Mặc dầu tên
gọi khác nhau nhưng tất cả các quốc gia đều nhìn nhận công nghiệp văn hóa là
một ngành công nghiệp. Nghĩa là, công nghiệp văn hóa cũng bao gồm các hoạt
động sản xuất, khai thác, phân phối và tiêu thụ sản phẩm như các ngành công
nghiệp khác. Chỉ khác là đối tượng của quá trình sáng tạo, sản xuất và khai thác
công nghiệp văn hóa và nghệ thuật biểu diễn trong thời gian qua.
1.2.1. Những nghiên cứu lý thuyết về công nghiệp văn hóa và nghệ
thuật biểu diễn
Có khá nhiều nghiên cứu góp phần làm rõ hơn khái niệm, đặc trưng, cấu
trúc và vai trò... của công nghiệp văn hóa và nghệ thuật biểu diễn gắn với đặc thù
của Việt Nam, như: đề tài khoa học, sách, hội thảo khoa học và các bài viết: