2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Yêu nước vốn là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam đã được
hình thành từ hàng nghìn năm lịch sử, là một thành tố rất quan trọng có vai trò
quyết định đến sức mạnh dựng nước và giữ nước của nhân dân ta nói chung, sức
mạnh chiến đấu của quân đội ta nói riêng. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước,
dân tộc ta đã làm nên những kỳ tích vĩ đại hơn mười thế kỷ Bắc thuộc không bị
đồng hoá, đã đánh thắng những đế chế phong kiến phương Bắc và các thế lực đế
quốc lớn phương Tây, xây dựng một nước Việt Nam ngày một thịnh vượng. Với
ý nghĩa đó giáo dục chủ nghĩa yêu nước trong Quân đội nói chung và các nhà
trường quân sự nói riêng đã góp phần to lớn nâng cao tinh thần yêu nước cho toàn
quân, tạo nên sức mạnh chính trị, tinh thần to lớn trong lịch sử, đảm bảo cho quân
đội ta luôn trưởng thành và chiến thắng. Đó là bài học hết sức quý báu mà ngày
nay cần được tiếp thu phát huy có hiệu quả hơn trong điều kiện mới.
Hiện nay trong điều kiện mới, trước tác động của nhiều yếu tố khách quan
và nhân tố chủ quan, thì vấn đề giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho học viên các
nhà trường quân sự đang có những thuận lợi cơ bản. Đồng thời còn phải đối mặt
với không ít thách thức khó khăn trước diễn biến phức tạp của tình hình thế giới,
tình hình kinh tế chính trị văn hoá xã hội trong nước, sự chống phá quyết liệt của
kẻ thù trong chiến lược “Diễn biến hoà bình”, những tác động tiêu cực của mặt
trái cơ chế thị trường đã ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức, tình cảm yêu
nước, đến quá trình rèn luyện phẩm chất nhân cách và chất lượng học tập, công
tác của học viên trong nhà trường quân sự. Một số học viên có hiện tượng bộc lộ
khuynh hướng đề cao lợi ích vật chất, xem nhẹ giá trị truyền thống tốt đẹp của
dân tộc, nhận thức chưa đầy đủ về tri thức lịch sử, thiếu niềm tin vào chủ nghĩa
3
hình thức, phương pháp giáo dục chậm đổi mới, thiếu sáng tạo chưa đáp ứng
với yêu cầu của thực tiễn, quá trình giảng dạy các môn KHXH-NV cũng như
các môn khoa học kỹ thuật quân sự chỉ mới chú trọng đến việc truyền thụ
kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng, chưa thực sự quan tâm nhiều đến việc bồi dưỡng
về lập trường, tư tưởng, tình cảm, trách nhiệm đối với Tổ quốc, đối với truyền
thống dân tộc và CNXH cho HV. Một số cán bộ, HV trong nhận thức và hành
động còn giản đơn coi CNYN là vấn đề “vốn có ở người Việt Nam” từ đó cho
giáo dục CNYN là mất thời gian, vô bổ, cần tập trung làm việc khác. Mặt
khác về phương diện lý luận tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáo
dục CNYN cho quân nhân hiện nay, nhưng với đối tượng cụ thể là HV ở các
NTQS thì chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cơ bản hệ thống. Từ
những lý do trên việc nghiên cứu vấn đề giáo dục CNYN cho HV ở NTQS
hiện nay là một yêu cầu khách quan, cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng cả về lý
luận và thực tiễn. Đó là lý do chúng tôi chọn đề tài “ Giáo dục chủ nghĩa yêu
nước cho học viên NTQS hiện nay” với hy vọng góp phần nhỏ vào việc nâng
cao hiệu quả giáo dục CNYN cho HV các NTQS hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những căn cứ về lý luận và thực tiễn của việc giáo dục
HV ở các NTQS, tác giả đề xuất hệ thống biện pháp giáo dục CNYN cho họ
nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở các
NTQS, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ của quân đội trong tình hình mới .
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu là quá trình giáo dục-đào tạo ở các NTQS hiện nay.
5
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là biện pháp giáo dục chủ nghĩa yêu
nước cho HV các NTQS hiện nay.
4 . Giả thuyết khoa học
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết gồm: phương pháp phân tích,
tổng hợp, khái quát hoá, hệ thống hoá các nguồn tài liệu lý luận chuyên ngành,
liên quan…để xây dựng cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn bao gồm:
+ Quan sát thái độ, hành vi, hoạt động hàng ngày của lực lượng giáo dục
trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, nội dung giáo dục CNYN.
+Tiến hành điều tra bằng phiếu (An két) 500 HV đang được đào tạo
thành sĩ quan cấp phân đội, 250 cán bộ, giáo viên trực tiếp giảng dạy, quản
lý HV ở một số NTQS.
+ Toạ đàm trao đổi với HV và cán bộ quản lý, giáo viên khoa Khoa học
xã hội nhân văn, các cơ quan của một số NTQS.
+ Nghiên cứu sản phẩm giáo dục, tự giáo dục như: chương trình, kế hoạch,
báo cáo, tổng kết hàng năm từ 2002- 2007 của cơ quan chức năng và các báo cáo
tổng kết của các tiểu đoàn quản lý HV của một số nhà trường sĩ quan.
+ Tổng kết kinh nghiệm thực tiễn giáo dục CNYN cho HV ở các NTQS.
+ Tham khảo ý kiến của một số nhà khoa học, nhà sư phạm.
+ Khảo nghiệm đối với cán bộ quản lý và giáo viên về một số nội dung
nhằm kiểm chứng biện pháp đã đề xuất.
8. Đóng góp mới của đề tài
- Đề tài góp phần khái quát và làm rõ một số vấn đề lý luận về giáo dục
CNYN cho HV các NTQS. Chủ yếu trong đó là hệ thống khái niệm gồm:
7
CNYN; giáo dục CNYN; biện pháp giáo dục CNYN cho HV đào tạo sĩ quan
cấp phân đội ở các nhà trường quân sự hiện nay.
- Góp phần làm rõ những vấn đề thực tiễn đặt ra đối với việc giáo dục
CNYN cho HV đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở NTQS hiện nay.
- Đề xuất một số biện pháp giáo dục CNYN cho HV trong quá trình đào
Nxb QĐND 1999” Lương Gia Ban với “Chủ nghĩa yêu nước trong sự nghiệp
công nghiệp hoá hiện đại hoá” Nxb CTQG 1999. Các tác giả đã khái quát chủ
nghĩa yêu nước Việt Nam bắt nguồn và phát triển từ thời vua Hùng dựng
nước xuyên suốt cho đến ngày nay, từ tinh thần yêu nước của Hai Bà Trưng,
Bà Triệu đứng lên chống lại quân thù, đến Lý Bí khi dành được độc lập xưng
là Lý Nam Đế để quyết không chấp nhận quan hệ “phiên thuộc” với “thiên
triều”. CNYN Việt Nam từ thời Lý Thường Kiệt đã được khẳng định thành
văn ý chí bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
Từ thời Lê Lợi và Nguyễn Trãi, CNYN Việt Nam đã nêu ra lý tưởng dập tắt
muôn đời ngọn lửa chiến tranh xâm lược, xây dựng nền thái bình muôn thuở.
Và CNYN Việt Nam được giương cao trong phong trào nông dân Tây Sơn
với lãnh tụ thiên tài Quang Trung đã thể hiện một ý chí mãnh liệt của nhân
dân ta đòi chống áp bức, chống xâm lược để bảo vệ một Tổ quốc độc lập,
thống nhất: Đánh cho chúng trích luân bất phản, đánh cho chúng phiến giáp
bất hoàn, đánh cho sử thi Nam Quốc anh hùng chi hữu chủ. Đến thời đại Hồ
Chí Minh CNYN truyền thống Việt Nam được Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí
9
Minh khơi dậy và phát huy mạnh mẽ, cao độ hơn bao giờ hết, được thể hiện ở
ý chí “Không có gì quý hơn độc lập tự do” “Thà huy sinh tất cả chứ không
chịu mất nước, không chịu làm nô lệ” đã thôi thúc toàn dân tộc đứng lên dũng
cảm, kiên cường, đập tan mọi lực lượng và phương tiện chiến tranh hiện đại
nhất của chủ nghĩa đế quốc, giải phóng Miền Nam, thống nhất Tổ quốc, cả
nước tiến lên xây dựng CNXH. Ngày nay quan niệm về yêu nước không chỉ
dừng lại ở việc sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc mà còn phải được thể hiện
ở việc xây dựng Tổ quốc, làm cho dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ văn minh, phải chiến thắng sự nghèo hèn, lạc hậu, sự kém cỏi của dân
tộc, từng bước vươn lên theo kịp các nước trong khu vực và thế giới.
máu quân thù..”[20,tr. 200]. Việc làm trên đã phát huy được tinh thần yêu
nước trong mọi tầng lớp nhân dân từ người đan sọt đến người đánh cá, từ trẻ
em đến bậc cao niên, từ vua tôi đến tướng sĩ đều cháy bỏng lòng căm thù
giặc, thể hiện tinh thần yêu nước cao độ, tạo nên dấu ấn một thời đại gọi là
“hào khí Đông A” ba lần chiến thắng quân Nguyên hung bạo. Trong cuộc
kháng chiến chống quân Minh xâm lược (1418- 1427) giáo dục lòng yêu nước
và quyết tâm chiến đấu được thể hiện sinh động trong lời thề ở lũng nhai Lê
Lợi cùng 18 người thân tín: thề chết sống đều phải cùng nhau đánh tan quân
giặc Ngô không dám quên lời thề ước. Trong cuộc tiến công chiến lược đại
phá quân Thanh xâm lược (1789), tại buổi lễ duyệt binh lớn ở trấn Nghệ An,
Quang Trung đã kêu gọi, giáo dục lòng yêu nước cho quân sĩ: Quân Thanh
sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long các ngươi đã biết chưa?..từ đời Hán
đến nay, chúng đã mấy phen cướp nước ta, vơ vét của cải, người mình không
thể chịu nổi ai cũng muốn đánh đuổi chúng đi. Cùng với giáo dục lòng yêu
11
nước thì ông cha ta bao giờ cũng gắn với giáo dục lòng căm thù giặc để tạo
nên động lực mạnh mẽ ở quân sĩ khiến họ chiến đấu dũng cảm tiêu diệt kẻ
thù. Trong hịch tướng sĩ Trần Quốc Tuấn vạch rõ tội ác của giặc Nguyên
“Uốn lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình, đem thân dê chó bắt nạt tể phụ…
giả hiệu Vân Nam Vương để vét vàng bạc”[21, tr.258]. Trong bình ngô đại
cáo Nguyễn Trãi nói lên tội ác của giặc Minh đến mức tát cạn nước Đông Hải
không đủ rửa vết nhơ, chặt hết trúc Nam Sơn chẳng đủ ghi hết tội ác: Thui dân
đen trên lò bạo ngược, hãm con đỏ dưới hố tai ương. Đó chính là mạch nguồn
làm nên chiến thắng.
Giáo dục tinh thần độc lập dân tộc, lòng tự hào tự tôn dân tộc và ý chí
kiên cường bất khuất, quyết chiến quyết thắng. Trải qua các thế hệ nối tiếp
nhau ông cha ta luôn thể hiện tinh thần kiên quyết chống giặc ngoại xâm, thực
thế kỷ VIII quân Mông- Nguyên là đội quân hung hãn vào bậc nhất thế giới đã
chinh phục được nhiều nước, song khi đến nước ta thì cả ba lần đều bị thất bại
thảm hại, bởi vua tôi đồng lòng, anh em hoà thuận, cả nước góp sức. Trong
cuộc khởi nghĩa Lam sơn vấn đề đoàn kết, đồng cam cộng khổ trong quân sĩ
được Nguyễn Trãi nêu rõ “Hoà rượu cùng uống, binh sĩ một dạ cha con”[35,
tr.79]. Với quân đội của Tây Sơn được Quang Trung xây dựng theo nguyên
tắc “Quân lính cốt hoà thuận, không cốt đông”. [34, tr.101]. Như vậy, đoàn
kết trên dưới, đoàn kết nội bộ trong quân là nhân tố cơ bản góp phần làm nên
chiến thắng trong sự nghiệp giữ nước của dân tộc ta.
Giáo dục tư tưởng nhân đạo, nhân văn, trong chống giặc ngoại xâm, để
chiến thắng ông cha ta không chỉ bằng tài thao lược mà còn biết dùng phép
“Mưu phạt công tâm”. Kế sách đánh vào lòng người thể hiện tính nhân đạo
13
truyền thống của dân tộc Việt Nam, không chỉ tiết kiệm xương máu của binh
sĩ trong chiến tranh mà còn thể hiện sự độ lượng, tầm nhìn xa trông rộng với
sự bang giao, hoà hiếu về sau giữa hai nước. Lòng nhân đạo của ông cha ta
luôn được thể hiện một cách sâu sắc, nó trở thành vấn đề nhất quán về mặt
chính sách được đem ra giáo dục cho quân sĩ. Ta hiếu sinh, không hiếu sát,
khi kẻ địch đã lâm vào cảnh cùng đường chỉ còn chờ chết thì ông cha ta cũng
sẵn sàng “Thể lòng trời, mở đường hiếu sinh”. Điều đó được chứng minh
trong kháng chiến chống quân Minh, khi chiến thắng nghĩa quân Lam sơn đã
tha cho mười vạn hàng binh, cấp lương thực phương tiện cho chúng về nước.
Đó chính là cốt cách nhân nghĩa, nhân văn con người Việt Nam, của văn minh
Đại Việt mà ông cha đã giáo dục cho quân sĩ.
+ Về hình thức giáo dục tinh thần yêu nước cho quân sĩ phổ biến có
hiệu quả nhất là những chiếu chỉ của vua, lời kêu gọi, lời tuyên thề, lời hịch,
lời thơ hùng hồn thống thiết đầy tâm huyết của tướng lĩnh trước khi ra quân.
vấn đề về giáo dục CNYN, trong đó làm rõ những nội dung, phương pháp tiến
hành giáo dục CNYN trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ như:
+Về nội dung, giáo dục đường lối kháng chiến của Đảng, mục tiêu độc
lập dân tộc và CNXH; giáo dục lòng tự hào dân tộc, tinh thần đoàn kết, tự lực
cánh sinh, lòng căm thù giặc sâu sắc, ý chí quyết tâm chiến đấu cao sẵn sàng xả
thân vì nước; xây dựng niềm tin vững chắc vào thắng lợi cuối cùng của cuộc
kháng chiến cho quân và dân ta.
+Về phương pháp, hình thức như: tuyên truyền, giải thích, động viên,
thuyết phục liên tục và sâu rộng đến đông đảo mọi tầng lớp nhân dân; phát
huy tính tiền phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ Đảng viên; thông qua
15
các tác phẩm văn học nghệ thuật, các phương tiện thông tin đại chúng, các
cuộc mít tinh để vạch trần hành động tàn bạo của địch, khơi dậy lòng căm
thù giặc sâu sắc, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu đến thắng lợi cuối
cùng; thường xuyên tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị- tư tưởng, đấu tranh
khắc phục khuynh hướng lệch lạc, bi quan, kém tin tưởng, chủ quan, nôn
nóng....của một số cán bộ, đảng viên, quần chúng; tổ chức các cuộc vận
động chính trị, phát động các phong trào cách mạng như “Quỹ kháng chiến”,
“Hũ gạo kháng chiến”, “Mùa đông binh sĩ”, “Hội mẹ chiến sĩ”; các phong
trào thi đua yêu nước như: công nhân thi đua “Đạt ba điểm cao”; nông dân
thì ngày đêm bám ruộng đồng “Thóc thừa cân, quân thừa người”; phụ nữ
“Ba đảm đang”; tri thức có phong trào “Ba quyết tâm”; lực lượng vũ trang
“Thi đua giết giặc lập công”; thi đua trở thành “Dũng sĩ diệt Mỹ”…Các
phong trào đó đã phát huy sức mạnh to lớn của các lực lượng, trong mọi lĩnh
vực góp phần vào đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và
đế quốc Mỹ, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc thống nhất Tổ quốc.
Ngoài ra các công trình khoa học trên còn đề xuất một số biện pháp nhằm
Theo V.I.Lênin, CNYN nói chung “Là một trong những tình cảm sâu
sắc nhất đã được củng cố qua hàng trăm, hàng nghìn năm tồn tại của các Tổ
quốc biệt lập” [19, tr. 226].
Theo từ điển triết học viết “Chủ nghĩa yêu nước- nguyên tắc đạo đức
và chính trị, một tình cảm xã hội, mà nội dung là tình yêu và lòng trung thành
với Tổ quốc….”.[39, tr.712]
Từ điển tiếng Việt định nghĩa “Chủ nghĩa yêu nước là lòng thiết tha với Tổ
quốc của mình, thường biểu hiện tinh thần sẵn sàng huy sinh vì Tổ quốc”[40, tr.173] .
17
Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam lại quan niệm “CNYN là nguyên
tắc đạo đức về chính trị mà nội dung là tình yêu, lòng trung thành, ý thức
phục vụ Tổ quốc” [38, tr.518]
Từ những khái niệm trên có thể khái quát CNYN trên một số nội dung sau:
CNYN là phạm trù lịch sử, nó được hình thành, phát triển và biến đổi
qua các thời kỳ lịch sử, tinh thần yêu nước, lòng yêu nước có thể nảy sinh rất
sớm từ khi nhà nước mới hình thành, cộng đồng quốc gia mới xuất hiện.
Nhưng CNYN đòi hỏi một bước phát triển cao của tinh thần yêu nước, khi
tình cảm yêu nước được nâng lên một trình độ nhận thức sâu sắc, có hệ thống,
chi phối một cách có ý thức mọi hành vi ứng xử của con người.
CNYN là tình cảm vừa có tính phổ quát của nhân dân các quốc gia dân
tộc, vừa mang tính đặc thù của từng quốc gia dân tộc, do điều kiện tự nhiên,
đặc điểm tộc người, hoàn cảnh, nội dung, lịch sử cụ thể của từng nước quy định.
Trong xã hội có giai cấp, CNYN mang tính giai cấp, biểu thị quyền lợi và
nguyện vọng của các giai cấp khác nhau, nhưng cũng không loại trừ tình cảm
yêu nước của cả cộng đồng và trước lợi ích chung của cộng đồng các giai cấp có
thể liên kết lại trong cuộc đấu tranh chung vì lợi ích cộng đồng. Về phương diện
này, CNYN được coi là chuẩn mực đạo đức và có thể giữ vai trò điều tiết lợi
thế giới quan Việt Nam được hun đúc trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước
và giữ nước như Giáo sư Trần Văn Giầu viết “CNYN truyền thống Việt Nam
hẳn không phải là một triết thuyết thâm viễn, cũng không phải là một tín
ngưỡng huyền diệu, nó là hệ thống tư tưởng nhận thức và ứng xử đơn giản
nhưng vừa đủ để cho dân tộc Việt Nam tồn tại và tồn tại trong danh dự” [15,
tr.6]. CNYN thời đại Hồ Chí Minh không đối lập mà kế thừa phát triển CNYN
19
truyền thống lên tầm cao mới, chất lượng mới. Đó là CNYN trên lập trường
giai cấp công nhân, gắn với chủ nghĩa Mác- Lênin, độc lập dân tộc gắn với
CNXH, giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp công nhân, giải phóng
lao động, giải phóng xã hội, giải phóng con người.
- Biểu hiện CNYN của HV các nhà trường quân sự
Học viên các nhà trường quân sự là những lực lượng đông đảo, bao
gồm những người khoẻ, trẻ, tiêu biểu cho ý chí, hành động mưu trí, sáng tạo,
dũng cảm. Do tính chất, nhiệm vụ đào tạo của NTQS nên vừa có những biểu
hiện chung của CNYN Việt Nam, vừa có những nét đặc thù riêng. Những
biểu hiện chủ yếu của CNYN trong HV các NTQS hiện nay là:
+ Nhận thức sâu sắc nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong thời kỳ
mới đó là bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của
Tổ quốc và chế độ XHCN, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ mọi thành
quả cách mạng trong bất kể tình huống nào. Có tinh thần hy sinh quên mình
luôn đặt lợi ích cách mạng, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân. Có lòng trung
thành vô hạn tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân, lòng thuỷ chung
với bạn bè trên thế giới. Ngày nay chúng ta đang đứng trước những thách
thức mới, kẻ thù đang tiến hành âm mưu xoá bỏ nền độc lập dân tộc, xoá bỏ
chế độ XHCN ở nước ta. Chúng không từ một thủ đoạn nào và không loại trừ
khả năng chúng dùng lực lượng trực tiếp phát động cuộc chiến tranh bằng vũ
nhân dân trong đó có gia đình người thân của họ. Trong điều kiện hiện nay ở đâu,
lúc nào quân đội cũng thể hiện rõ tinh thần tận tâm, tận lực phục vụ, bảo vệ giúp đỡ
nhân dân, biết bao tấm gương dám hy sinh quyền lợi, tính mạng của mình để cứu
21
giúp dân trong hoạn nạn.....những việc làm thiết thực đó thực sự là chổ dựa tin cậy,
kính trọng, yêu mến của nhân dân.
+ Chủ nghĩa yêu nước của HV được thể hiện ở việc tham gia tích cực
vào
các hoạt động ngoại khoá, hoạt động đền ơn đáp nghĩa; ủng hộ đồng bào gặp
hoạn nạn; xoá đói giảm nghèo; chăm sóc bà mẹ Việt Nam anh hùng, gia đình
có công với đất nước..; đấu tranh phòng chống các tệ nạn xã hội.
+ Chủ nghĩa yêu nước của HV còn được biểu hiện ở động cơ, thái độ,
ý chí quyết tâm học tập, nghiên cứu chiếm lĩnh tri thức các môn KHXH-NV,
khoa học-kỹ thuật quân sự, nghệ thuật quân sự, để vận dụng linh hoạt, sáng
tạo có hiệu quả trong hoạt động thực tiễn nghề nghiệp; ở việc chấp hành
nghiêm pháp luật của nhà nước, kỷ luật quân đội, nhà trường, tích cực tu
dưỡng rèn luyện mọi mặt để trở thành người Đảng viên, người sĩ quan cấp
phân đội “có phẩm chất chính trị vững vàng và đạo đức cách mạng trong
sáng, có mặt bằng kiến thức trình độ đại học...có kiến thức quân sự chuyên
ngành...” [9, tr.14,15], đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong
tình hình mới. Biểu hiện cao nhất về CNYN của người HV là quá trình
nhận thức phải được chuyển hoá thành kết quả học tập, kết quả rèn
luyện, công tác và tinh thần sẵn sàng nhận nhiệm vụ đi bất cứ nơi đâu
khi ra trường và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
+ Chủ nghĩa yêu nước của HV còn được biểu hiện ở tình yêu quê
hương, đất nước, gia đình, làng xóm, phố phường nơi họ sinh ra và lớn lên.
Đồng thời còn là tình cảm sâu đậm đối với bạn bè, đồng chí, đồng đội cùng
lượng, phương tiện và lựa chọn các nội dung, phương pháp tác động phù hợp
23
để nâng cao giác ngộ lý tưởng cách mạng, trách nhiệm với vận mệnh dân tộc,
hạnh phúc của nhân dân, góp phần thiết thực vào sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc XHCN.
Từ đó chúng ta có thể quan niệm giáo dục CNYN là những hoạt động
tự giác, tích cực của các lực lượng giáo dục với những mục tiêu, yêu cầu, nội
dung, phương pháp cụ thể phù hợp với từng đối tượng, điều kiện, thực tiễn
giáo dục nhất định để tác động đến từng con người, từng tổ chức nhằm nâng
cao nhận thức về lòng tự hào dân tộc, trách nhiệm, nghĩa vụ với Tổ quốc; bồi dưỡng
tình yêu quê hương, đất nước, con người, được thể hiện ra ý chí quyết tâm vượt
qua mọi huy sinh gian khổ mang hết sức lực trí tuệ tài năng thực hiện thắng lợi
mọi nhiệm vụ được giao, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Quan niệm trên cho thấy giáo dục CNYN là quá trình nhà giáo dục làm
cho đối tượng giáo dục nhận thức được những giá trị đích thực của CNYN để
từ đó đối tượng giáo dục có niềm tin vững chắc, có thái độ đúng đắn và hành
động yêu nước tích cực trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Từ vấn đề trên có thể hiểu giáo dục CNYN cho HV ở NTQS là hệ thống
những cách thức, biện pháp tác động giáo dục liên tục, có chủ đích từ các lực
lượng giáo dục đến học viên trong quá trình đào tạo nhằm nâng cao nhận thức
về lòng tự hào dân tộc, tình yêu quê hương, đất nước, nâng cao trách nhiệm
nghĩa vụ với Tổ quốc; xây dựng ý chí quyết tâm vượt qua mọi khó khăn gian khổ
thực hiện tốt nhiệm vụ học- rèn, góp phần phát triển nhân cách người sĩ quan
theo mục tiêu yêu cầu đào tạo, đáp ứng với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc.
- Giáo dục CNYN cho HV ở NTQS với tư cách là một quá trình giáo
dục mang tính tự giác, tích cực, liên tục diễn ra sự tác động hai chiều giữa các
25
tộc....có lòng kiên định với mục tiêu lý tưởng chiến đấu, lập trường cách mạng,
bản lĩnh chính trị, lòng trung thành tuyệt đối với Đảng với Tổ quốc, với nhân dân;
có tình yêu quê hương, đất nước, gia đình, người thân, bè bạn, tinh thần đồng chí
đồng đội, đồng cam chịu khổ cùng nhau học tập, rèn luyện, công tác; có lòng vị
tha, lòng tự hào tự tôn dân tộc dám xả thân vì Tổ quốc; tự giác tham gia đầy đủ và
có hiệu quả những việc làm thiết thực như: học tập, rèn luyện, phòng chống thiên
tai lũ lụt, tham gia xoá đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, bảo vệ môi trường,
chống tệ nạn xã hội .. Sẵn sàng nhận nhiệm vụ, đi bất cứ nơi đâu khi Tổ quốc cần.
- Giáo dục CNYN được xem là một trong những nhiệm vụ, nội dung
giáo dục nhân cách toàn diện cho các HV ở NTQS, nó được tiến hành đồng
thời đan xen trong sự vận động của các nhiệm vụ, nội dung giáo dục phẩm
chất nhân cách, giáo dục chính trị tư tưởng, đặc biệt là các nội dung hoạt
động của công tác đảng công tác chính trị, nhằm góp phần to lớn trong việc
xây dựng yếu tố chính trị tinh thần cho HV, phát huy sức mạnh, đoàn kết
trong thực hiện nhiệm vụ học- rèn và các nhiệm vụ khác được giao, đáp ứng
yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
- Giáo dục CNYN cho HV các NTQS được thực hiện trong suốt thời gian
đào tạo, đó là quá trình họ lựa chọn tiếp nhận, tích luỹ dần những giá trị về
CNYN, từ đó để nâng cao hiểu biết về lịch sử, văn hoá, truyền thống của dân
tộc, đất nước quân đội, nhà trường đơn vị, từng bước xây dựng tình cảm, niềm
tin, thái độ, hành động yêu nước của người sĩ quan tương lai. Sự chuyển biến
về giác ngộ CNYN của HV được biểu hiện rõ nét thông qua kết quả học tập,
rèn luyện, công tác của họ ở từng năm học, khoá học, so với mục tiêu giáo dụcđào tạo ở các nhà trường và thông qua sự tin tưởng, lòng trung thành tuyệt đối
với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ gì khi
26