5
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tư tưởng về con người của triết học Mác-Lênin được hình thành
trên cơ kế thừa biện chứng những tư tưởng tiến bộ của nhân loại; từ đó,
triết học Mác - Lênin đã khẳng định vai trò cải tạo thế giới, làm nên lịch sử
của con người. Trong tư tưởng khoa học và cách mạng ấy, con người vừa
là mục tiêu, vừa là động lực phát triển của lịch sử. Bản chất nhân đạo, mục
tiêu cao cả, thước đo nhân văn của sự phát triển xã hội là phát triển vì con
người, đưa con người từ vương quốc của tất yếu sang vương quốc của tự
do. O
Triết học Mác-Lênin còn khẳng định rằng, để có những con người
phát triển toàn diện, cần phải có một nền kinh tế phát triển cao, một nền
văn hóa tiên tiến, một nền khoa học - kỹ thuật hiện đại, một nền giáo dục
phát triển. Việc tạo ra những thành tựu kinh tế - xã hội đó không những là
điều kiện để làm tăng thêm nền sản xuất xã hội, mà còn là điều kiện duy
nhất để tạo ra những con người phát triển toàn diện; trong đó, sự phát triển
tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người.
Những quan điểm trên của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin
đã được thực tiễn hơn một thế kỷ qua chứng minh tính đúng đắn của nó.
Song, ngày nay, đứng trước sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa, chủ
nghĩa Mác-Lênin nói chung và quan niệm về con người của triết học MácLênin nói riêng đang bị tấn công từ nhiều phía. Những kẻ chủ trương xét lại
chủ nghĩa Mác cho rằng, tư tưởng giải phóng con người của triết học Mác đã
cũ, lạc hậu, một chiều và không tưởng; rằng, học thuyết Mác đã bị những
người kế tục làm cho xơ cứng, trở thành cái không thể vận dụng và phát
triển phù hợp với thời đại mà khoa học - kỹ thuật đang tiến nhanh như vũ
6
7
người như vậy mới đáp ứng nhu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa.
Trong khi vấn đề đặt ra như vậy thì, do nhiều nguyên nhân, vấn đề
xây dựng con người, phát huy vai trò của họ lại đang đứng trước những
khó khăn không nhỏ cả từ phương diện nhận thức lẫn tổ chức thực tiễn.
Về nhận thức, chúng ta thấy có hai cực đoan sai lầm: Một là, tuyệt đối hóa
vai trò nhân tố con người tới mức tái sinh trở lại yếu tố của bệnh duy ý
chí; hai là, tuyệt đối hóa nhân tố kỹ thuật-công nghệ dẫn tới xuất hiện yếu
tố của chủ nghĩa kỹ trị. Về mặt thực tiễn: việc đầu tư cho sự phát triển
nguồn lực con người chưa thật sự được xem trọng; việc phát huy nguồn
nhân lực đang có cũng chưa thật có hiệu quả... Không khắc phục những
thiếu sót trên đây, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa khó đi tới đích.
Để góp phần giải quyết có hiệu quả vấn đề vừa nêu, việc làm rõ giá trị
khoa học, bản chất cách mạng trong quan điểm của triết học Mác-Lênin về
con người sẽ giúp chúng ta thấy rõ rằng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa ở nước ta hiện nay chỉ có thể thắng lợi nhờ chiến lược phát triển
con người Việt Nam toàn diện với tư cách vừa là mục tiêu, vừa là động lực
của sự nghiệp đó.
Xuất phát từ cách đặt vấn đề như vậy, chúng tôi chọn vấn đề:
"Quan điểm của triết học Mác-Lênin về con người với việc xây dựng con
người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa" làm đề tài
của luận án này.
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề con người trong triết học Mác - Lênin đã được các nhà
khoa học thế giới và Việt Nam đề cập đến từ nhiều góc độ khác nhau.
Liên quan tới đề tài này, ở Liên xô (trước đây) và Cộng hòa dân
chủ Đức (cũ) đã có nhiều cuốn sách được xuất bản. Chẳng hạn:
Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới. Cùng với quá trình thực hiện chương
trình nghiên cứu cơ bản này, đã có hàng trăm bài báo, báo cáo khoa học
9
của các nhà khoa học trong cả nước viết về con người được liên tục đăng
tải trên các tạp chí Cộng sản, Triết học, Nghiên cứu lý luận, Thông tin lý
luận, Khoa học xã hội... Các tác giả như Nguyễn Duy Quý, Lê Hữu Tầng,
Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Thị Ngọc Trầm, Dương Phú Hiệp, Lê Thi,
Phạm Như Cương, Nguyễn Ngọc Long, Phạm Ngọc Quang, Đặng Hữu
Toàn,... đã công bố nhiều bài báo đề cập đến các góc độ khác nhau của việc
xây dựng con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Nhiều luận án tiến sĩ xung quanh vấn đề con người cũng đã được bảo
vệ trong những năm qua. Chẳng hạn, Nguyễn Thế Kiệt: "Vai trò của
những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong việc xây dựng con
người mới trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam"; Vũ Thị
Tùng Hoa: "Mối liên hệ giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội trong quá trình
hình thành và phát triển con người"... Các luận án tiến sĩ trên đã đi sâu giải
quyết ở các góc độ khác nhau nhiều vấn đề có liên quan tới quan niệm của
triết học Mác - Lênin về con người, tới việc xây dựng con người Việt Nam.
Song, cho đến nay, việc vận dụng quan điểm của triết học Mác-Lênin về con
người vào việc xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa với tư cách là một luận án tiết sĩ triết học vẫn chưa có.
Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài nêu trên để thực hiện luận án tiến sĩ triết
học của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Luận án có mục đích: Góp phần nhận thức những quan điểm cơ
bản của triết học Mác-Lênin về con người. Trên cơ sở đó, phân tích những
yêu cầu đối với việc xây dựng con người Việt Nam trong quá trình công
hiện đại hóa đất nước.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
11
- Luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong việc
hoạch định chiến lược phát triển con người trong thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay.
- Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc
nghiên cứu và giảng dạy triết học Mác-Lênin nói chung, quan niệm của
triết học Mác - Lênin về con người nói riêng trong sự vận dụng cụ thể vào
nước ta hiện nay.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận
án gồm ba chương, 7 tiết.
Chương 1
QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
VỀ CON NGƯỜI
1.1. QUAN ĐIỂM VỀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI
Trên cơ sở tiếp thu một cách có chọn lọc, kế thừa và phát triển
những tư tưởng hợp lý của các nhà triết học trong lịch sử nhân - loại từ
triết học ấn Độ, Trung Quốc, Hy Lạp cổ đại, đến các nhà triết học cổ điển
Đức, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã khắc phục được những hạn chế
của họ, và do vậy, các ông đã đưa ra được những tư tưởng đúng đắn về
bản chất con người, về con người.
Ngày nay, chúng ta đều nhận thức được rằng con người là chủ thể
nhiên?... thì không chỉ sinh học hiện đại, mà cả các môn khoa học khác
(như tâm lý học, đạo đức, y học, sử học hay dân tộc học...) cũng không dễ
gì trả lời một cách đầy đủ và có sức thuyết phục.
Khi xây dựng quan niệm duy vật về lịch sử, vạch ra vai trò quyết
định của sản xuất vật chất và các hình thức giao tiếp, các quan hệ sản xuất
13
được phát triển từ chính quá trình sản xuất vật chất ấy và ngày càng hoàn
thiện cùng với sự phát triển xã hội, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã tạo
ra bước ngoặt căn bản trong quan niệm về con người, về bản chất con
người. Các ông cho rằng bản thân những trừu tượng tư biện chỉ là sản
phẩm, là sự thể hiện của những điều kiện sản xuất và giao tiếp nhất định
nào đó. Phê phán quan niệm duy tâm - tư biện về bản chất con người, các
ông đã coi những trừu tượng tư biện chẳng qua chỉ là sự xuyên tạc mang
tính tư tưởng hệ bản chất thực sự của con người. Chẳng hạn, đối với các
khái niệm "thực thể", "bản chất của con người" mà phái Hêghen trẻ đưa ra,
C.Mác nhận xét rằng: "Tổng số những lực lượng sản xuất, những tư bản và
những hình thức xã hội của sự giao tiếp mà mỗi cá nhân và mỗi thế hệ
thấy hiện có, là cơ sở hiện thực của cái mà các nhà triết học hình dung là
"thực thể", "bản chất con người", của cái mà họ tôn sùng hoặc đả kích, một
cơ sở hiện thực mà tác động và ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển của
con người không hề bị ngăn trở bởi việc nhà triết học ấy với tư cách là "tự
ý thức" và "kẻ duy nhất" nổi dậy chống lại nó" [69, 3; tr. 55] (số thứ nhất
chỉ thứ tự trong "Danh mục tài liệu tham khảo", số thứ hai (nếu có) chỉ số
tập, số tiếp theo là trang trong tài liệu).
Đối với những suy luận của Stiếcnơ (một đại diện tiêu biểu của
phái Hêghen trẻ) về mối quan hệ giữa cái nhân tính và phi nhân tính, giữa
con người và không phải con người, C. Mác cho rằng những suy luận về
"cá nhân mang tính kinh nghiệm, có thể xác", nhưng không phải để giẫm
chân ở điểm này như Stiếcnơ, mà phải từ cá nhân đó vươn tới "Con
người". "Con người" sẽ mãi mãi chỉ là nhân vật hư ảo, nếu cơ sở của nó
không phải là "con người mang tính kinh nghiệm". Chúng ta phải xuất
phát từ chủ nghĩa kinh nghiệm, chủ nghĩa duy vật, nếu chúng ta muốn làm
cho ý niệm của chúng ta và đặc biệt là "con người" của chúng ta trở thành
một cái gì đó hiện thực. Chúng ta phải từ cái đơn nhất để rút ra cái phổ
biến, "chứ không phải từ cái chính bản thân mình hoặc từ cái không tồn
15
tại, như Hêghen đã làm". Và, theo ông, "cá nhân mang tính thể xác là cơ
sở thực sự, là xuất phát điểm thực sự cho "con người" của chúng ta" [69,
27, tr. 23]. Như vậy, theo Ph.Ăngghen, chúng ta cần phải nghiên cứu một
cách cụ thể, một cách kinh nghiệm về các cá nhân, và mục đích cuối cùng
của việc nghiên cứu các cá nhân trong hiện thực kinh nghiệm của họ là tiến
tới "con người". Với quan niệm ấy, Ph.Ăngghen coi phạm trù "con người"
là phạm trù tối cao của nhận thức, đồng thời phải luận chứng vì sao nó là
phạm trù tối cao của nhận thức. Theo ông, chúng ta chỉ có thể hiểu "con
người" theo đúng nghĩa của nó, khi xuất phát từ các cá nhân kinh nghiệm,
bằng xương, bằng thịt và chỉ có trên cơ sở ấy, các cá nhân mới không còn
đơn giản là các cá nhân, mà trở thành những con người hiện thực với đúng
nghĩa của nó.
Dõi theo quá trình hình thành quan niệm về con người của các nhà
sáng lập chủ nghĩa Mác, chúng ta thấy, chỉ khi đã ý thức được một cách rõ
ràng lịch sử nhân loại là sự cải biến không ngừng "bản tính con người",
rằng "bản tính nội tại của con người" bao giờ cũng là sản phẩm của lịch sử,
thì nhận thức về bản chất của con người mới trở nên rõ ràng.
Để làm rõ vấn đề này, theo chúng tôi, cần phải lưu ý rằng, vào thời
nhận thức sự vận động ấy. Trong quá trình nhận thức lịch sử nhân loại,
con người bao giờ cũng bắt đầu từ sự nhận thức về bản thân mình với tư
cách là tiền đề xuất phát. Nhận thức về lịch sử không phải là sự nhìn nhận
cái bên ngoài. Lịch sử là kết quả hoạt động của chính con người. Với ý
nghĩa đó, nhận thức về lịch sử thực chất cũng là sự tự nhận thức và hoạt
động của chính con người, là khát vọng nắm bắt tiến trình lịch sử của con
người dựa trên những thành tựu mới nhất về con người, tức là từ chính bản
thân con người. Song, các nhà triết học tư biện lại không xuất phát từ đó,
họ xuất phát từ những lập luận triết học trừu tượng của mình và coi những
lập luận ấy là đỉnh cao lý luận, để từ đó, nhìn nhận lịch sử và chỉ nhận
thấy ở lịch sử ấy sự vận động của các tư tưởng, các phạm trù, gán ép nội
dung hiện thực của cuộc sống vào những khái niệm trừu tượng của tư duy.
Trong bối cảnh đó, với việc chuyển sang lập trường vô sản, các nhà
sáng lập chủ nghĩa Mác đã đoạn tuyệt với thứ triết học tư biện truyền
18
thống của triết học cổ điển Đức. Trong quan niệm về lịch sử nhân loại, các
ông đã căn cứ vào các điều kiện, xu hướng và nhiệm vụ hiện thực của
phong trào cách mạng do giai cấp vô sản tiến hành mà các ông đã nhận
thức được khi xây dựng học thuyết về chủ nghĩa tư bản với tư cách là một
phương thức sản xuất xã hội. Từ những nghiên cứu lý luận về xã hội tư
bản với tư cách là một hệ thống xã hội đặc thù được đặc trưng bởi một sự
phát triển nhất định của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, phân hóa xã
hội, v.v., các ông đã phát hiện ra những đặc trưng phổ biến trong đời sống
sinh hoạt xã hội của con người. Trong xã hội tư bản, những đặc trưng đó,
theo các ông, đã đạt tới mức độ phát triển cao, nhờ vậy, cơ sở hiện thực
của tồn tại con người đã trở nên rõ ràng và, do đó, cũng đã xuất hiện xu
hướng vượt ra khỏi khuôn khổ của xã hội ấy. Với các ông, xã hội tư bản
phải được coi là tiền đề, là cách tiếp cận với quan niệm duy vật về đời
sống sinh hoạt hiện thực của con người. Nếu chỉ dừng lại ở tiền đề này tức
là biến nó thành câu nói rỗng tuếch, biến con người thành sự trừu tượng tư
biện có thể "phù hợp và không phù hợp" với mọi giai đoạn và mọi thời đại
phát triển xã hội.
Khi xuất phát từ con người hiện thực để nghiên cứu đời sống sinh
hoạt của con người, các ông đã khẳng định rằng con người cần phải được
hiểu trong hoàn cảnh sinh hoạt hiện thực-cụ thể của họ. Những tiền đề của
quan niệm duy vật về lịch sử ấy, theo các ông, "là những con người, không
phải những con người ở trong một tình trạng biệt lập và cố định tưởng
tượng mà là những con người trong quá trình phát triển - quá trình phát
triển hiện thực và có thể thấy được bằng kinh nghiệm - của họ dưới những
điều kiện nhất định" [69, 3, tr. 38]. "Những tiền đề xuất phát của chúng tôi,
- các ông viết,- không phải là những tiền đề tùy tiện, không phải là giáo
điều; đó là những tiền đề hiện thực mà người ta chỉ có thể bỏ qua trong trí
tưởng tượng thôi. Đó là những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ và
những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ, những điều kiện mà họ thấy có
sẵn cũng như những điều kiện do hoạt động của chính họ tạo ra. Như vậy,
20
những tiền đề ấy là có thể kiểm nghiệm được bằng con đường kinh nghiệm
thuần túy" [69, 3, tr. 28-29].
Chính vì vậy, khi nói tới những tiền đề của quá trình hoạt động
sinh hoạt hiện thực của con người, -tiền đề để nhận thức con người, -các
ông luôn nhấn mạnh rằng các ông nói tới những điều kiện và yếu tố hoạt
động sinh hoạt-cụ thể của con người. Các ông không nói một cách chung
chung, trừu tượng về con người, về hoạt động và điều kiện sinh hoạt của
họ, mà về những con người cụ thể, hoạt động cụ thể của họ trong những
nghèo khổ. Những thắng lợi của kỹ thuật dường như đã được mua bằng cái
giá của sự suy đồi về mặt tinh thần. Dường như loài người càng chinh
phục được thiên nhiên nhiều hơn thì con người lại càng trở thành nô lệ của
những người khác hoặc nô lệ cho sự đê tiện của chính mình. Dường như
ngay cả ánh sáng thuần khiết của khoa học cũng không thể chiếu rọi bằng
cách nào khác ngoài cách chiếu rọi vào cái bối cảnh tối tăm của sự ngu
dốt. Tất cả những phát minh của chúng ta và tất cả sự tiến bộ của chúng ta
tựa hồ như đang dẫn tới chỗ là những thắng lợi vật chất thì được ban cho
một đời sống tinh thần, còn đời sống con người vốn đã bị tước mất các mặt
tinh thần rồi thì nay lại bị hạ xuống trình độ của những vật chất đơn
thuần" [69, 12, tr. 10]. Các ông cho rằng, chính "lao động bị tha hóa làm cho
thân thể của bản thân con người cũng như giới tự nhiên ở bên ngoài con
người, cũng như bản chất tinh thần của con người, bản chất nhân loại của
con người trở thành xa lại với con người" [68, I, tr. 121].
Điều đó cho thấy, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã trình bày
quan niệm của mình về con người với mục đích giải phóng con người khỏi
sự nô lệ, sự tha hóa, sự áp bức bất công, sự bần cùng hóa. Giải phóng
người lao động, giải phóng con người là lý tưởng cao cả của các ông. Và
trong suốt cuộc đời, các ông đã cống hiến tất cả những gì có thể làm được
cho cuộc đấu tranh giải phóng con người. Đây là điểm xuất phát khác hẳn
các nhà triết học tiền bối của các ông. Với cách đặt vấn đề như vậy, các
22
ông đã mang lại cho học thuyết về con người của mình một điểm mới về
cơ bản: coi con người là điểm xuất phát và sự giải phóng con người là mục
tiêu cao nhất mà nhân loại cần đạt tới.
Thật vậy, trong "Bản thảo kinh tế triết học năm 1844", với phạm
trù "lao động bị tha hóa", C.Mác đã xây dựng một hệ thống lý luận triết
cứu khoa học nghiêm túc và hết sức tỉ mỉ. Khi tiếp thu những thành tựu
24
của triết học, trực tiếp là triết học Cổ điển Đức, C. Mác đã nhận ra những
sai lầm của Hêghen và Phoiơbắc về vấn đề bản chất con người. C. Mác đã
phê phán quan điểm duy tâm khách quan của Hêghen về con người, khi
Hêghen coi con người là hiện thân của "ý niệm tuyệt đối". C. Mác cũng
nhận rõ tính chất siêu hình trong quan niệm của Phoiơbắc, khi Phoiơbắc
đồng nhất tính sinh học vào bản chất con người, tách con người ra khỏi
đời sống xã hội và hòa tan vào bản chất tôn giáo, do đó, đã không thấy
hoạt động đích thực của con người là hoạt động thực tiễn, mà "chỉ coi hoạt
động lý luận là hoạt động đích thực của con người [69, 3, tr. 9]. C. Mác đã
chỉ rõ rằng: "Đời sống xã hội về thực chất có tính thực tiễn. Tất cả những
sự thần bí đang đưa lý luận đến chủ nghĩa thần bí, đều được giải đáp một
cách hợp lý trong thực tiễn của con người và trong sự hiểu biết thực tiễn
ấy" [69, 3, tr. 12]. Hơn nữa, trong "Luận cương về Phoiơbắc", C.Mác còn
nhấn mạnh vai trò to lớn của thực tiễn, C. Mác viết: "Các nhà triết học đã
chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo
thế giới" [69, 3, tr. 12]. Vậy là, đặc tính hiện thực của con người hay con
người tồn tại hiện thực khách quan chính là con người tồn tại trong thực tiễn
của nó. Tính hiện thực của bản chất con người được thể hiện trước hết ở
chỗ, con người tồn tại thực, hiển nhiên, cảm tính chứ không phải là cái gì đó
mang tính trừu tượng. Con người tồn tại trong tự nhiên, gắn bó chặt chẽ
với giới tự nhiên, giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người. Khẳng
định điều này, C. Mác nhấn mạnh: "Như thế nghĩa là giới tự nhiên là thân
thể của con người, thân thể mà với nó con người phải duy trì một quá trình
thường xuyên để tồn tại. Nói rằng đời sống thể xác và tinh thần của con
người là gắn liền khăng khít với bản thân giới tự nhiên, vì con người là bộ
còn loài chim mắt tinh kia không thể nhìn thấy được. Điều này được giải
thích bởi con người là động vật có ý thức, có tư duy và có khả năng nhận
thức cái trừu tượng.
Trong triết học Mác - Lênin, lao động là hoạt động bản chất của
con người. Đó chính là quá trình con người chế tạo ra công cụ lao động và
dùng nó để tác động vào giới tự nhiên, tạo ra sản phẩm phục vụ cho cuộc
27
sống của mình; đồng thời, qua đó, làm biến đổi giới tự nhiên, sáng tạo ra
thế giới của mình. Thông qua lao động, con người không chỉ biến đổi giới
tự nhiên theo mục đích của mình, mà qua đó, con người còn biến đổi chính
bản thân mình. Nhờ có lao động mà con người ngày càng phát triển, ngày
càng hoàn thiện, nhận thức của con người về thế giới khách quan ngày
càng sâu sắc, khả năng chinh phục tự nhiên ngày càng có hiệu quả. Điều
này giúp cho con người trong khi khai thác tự nhiên để phục vụ cho cuộc
sống ngày càng cao của mình đã tái tạo lại tự nhiên. Hơn nữa, thông qua
lao động, con người đã gắn bó và thiết lập mối quan hệ mật thiết với tự
nhiên và với đồng loại. Với triết học Mác - Lênin, "lao động trước hết là
một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó,
bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết và
kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên. Bản thân con người đối diện
với thực thể của tự nhiên với tư cách là một lực lượng của tự nhiên. Để
chiếm hữu được thực thể của tự nhiên dưới một hình thức có ích cho đời
sống của bản thân mình, con người vận dụng những sức tự nhiên về thân
thể của họ: tay và chân, đầu và hai bàn tay. Trong khi tác động vào tự
nhiên ở bên ngoài thông qua sự tác động đó, và làm thay đổi tự nhiên, con
người cũng đồng thời làm thay đổi bản tính của chính nó" [69, 23, tr. 266].
Thông qua lao động, con người đã tạo ra những tư liệu thỏa mãn
phẩm của sự tác động qua lại giữa con người với con người.
Trong triết học Mác - Lênin, hoạt động của con người chủ yếu là
hoạt động lao động sản xuất, hoạt động cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và
thông qua những hoạt động này, con người cải tạo chính bản thân mình,
làm cho con người ngày càng hoàn thiện. Chính những hoạt động này chứ
không phải là cái gì khác đã làm biến đổi mặt sinh học của con người và
làm cho nó mang tính người-tính xã hội. Và cũng chính hoạt động thực
tiễn ấy đã làm cho những nhu cầu sinh vật ở con người trở thành nhu cầu
xã hội. Với quan niệm này, trong: "Vai trò của lao động trong quá trình
29
vượn biến thành người", Ăngghen đã viết: "Lao động là điều kiện cơ bản
đầu tiên của toàn bộ đời sống của con người, và như thế đến một lúc mà
trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: Lao động đã sáng tạo ra chính
bản thân con người" [69, 20, tr. 641]. Con người tồn tại gắn liền với lao
động, bởi nhờ có lao động mà con người thỏa mãn những nhu cầu của
cuộc sống. Vì thế, lao động không chỉ trở thành thuộc tính chung của con
người, lao động còn được xã hội hóa.
Trong quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, con người là
sản phẩm của sự phát triển cao nhất của tự nhiên, con người gắn bó chặt
chẽ với tự nhiên, tự nhiên là thân thể vô cơ của con người; và bằng hoạt
động thực tiễn của mình, nhất là hoạt động sản xuất, con người đã biến
thuộc tính tự nhiên của mình thành bản chất xã hội. Chỉ có trong xã hội,
con người mới thể hiện bản chất của mình. Tự nhiên và xã hội thống nhất
với nhau trong bản chất con người. Con người là một tổng thể tồn tại bao
gồm cả hai mặt tự nhiên và xã hội. Con người chính là "động vật xã hội",
động vật biết chế tạo và sử dụng công cụ lao động, động vật tự nhận thức
được mình, tự cải tạo chính mình. Con người không chỉ gắn với tự nhiên,