TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
======
LÊ THỊ NỤ
TỔ CHỨC TRÒ CHƠI HỌC TẬP
TRONG DẠY HỌC CÁC LOẠI BÀI
MỞ RỘNG VỐN TỪ Ở LỚP 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. NGUYỄN THU HƢƠNG
HÀ NỘI - 2016
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo
hƣớng dẫn khóa luận TS. Nguyễn Thu Hƣơng, đã tận tình hƣớng dẫn trong
suốt quá trình viết khóa luận tốt nghiệp.
Em chân thành cảm ơn quý thầy, cô trong khoa Giáo dục Tiểu học,
Trƣờng ĐHSP Hà Nội 2 đã tạo điều kiện cho em hoàn thành khóa luận này.
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Ngƣời thực hiện
Lê Thị Nụ
1.1.2.2. Vai trò của trò chơi học tập ..................................................................... 17
1.1.2.3. Phân loại trò chơi học tập........................................................................ 17
1.1.3. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh lớp 2 ................................................... 18
1.2. Cơ sở thực tiễn ............................................................................................. 18
1.2.1. Kiểu bài mở rộng vốn từ ở Tiểu học .......................................................... 18
1.2.1.1. Nhiệm vụ dạy học ................................................................................... 18
1.2.1.2. Nội dung dạy học MRVT........................................................................ 18
1.2.2. Thực trạng việc dạy học mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học qua trò
chơi học tập .......................................................................................................... 21
CHƢƠNG 2. TỔ CHỨC TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC MỞ
RỘNG VỐN TỪ Ở LỚP 2 ................................................................................... 24
2.1. Nguyên tắc tổ chức trò chơi học tập trong dạy học mở rộng vốn từ. ........... 24
2.1.1. Căn cứ vào đối tƣợng học sinh................................................................... 24
2.1.2. Căn cứ vào mục đích sử dụng trò chơi học tập .......................................... 24
2.1.3. Căn cứ vào nội dung của bài học ............................................................... 24
2.1.4. Căn cứ vào điều kiện cơ sở vật chất của lớp học ....................................... 24
2.1.5. Yêu cầu sƣ phạm khi tổ chức trò chơi học tập ........................................... 25
2.1.5.1. Lựa chọn trò chơi .................................................................................... 25
2.1.5.2. Tổ chức trò chơi ...................................................................................... 25
2.2. Sử dụng trò chơi học tập trong dạy học mở rộng vốn từ ở lớp 2 .................. 25
2.2.1. Chuẩn bị cho trò chơi ................................................................................. 26
2.2.2. Các bƣớc tiến hành tổ chức trò chơi học tập.............................................. 26
2.3. Hoạt động tổ chức trò chơi học tập trong dạy học mở rộng vốn từ .............. 27
2.3.1. Nhóm 1: Các trò chơi đƣợc vận dụng vào giải các bài tập ........................ 27
2.3.1.1. Tổ chức trò chơi với kiểu bài MRVT qua tranh vẽ................................. 27
2.3.1.2. Tổ chức trò chơi với kiểu bài MRVT theo quan hệ ngữ nghĩa ............... 29
2.3.1.3. Tổ chức trò chơi với kiểu bài MRVT theo quan hệ cấu tạo ................... 40
2.3.2. Nhóm 2: Các trò chơi mang tính chất củng cố nội dung bài, mở rộng
đƣợc những tri thức, kĩ năng và hành vi nhất định để xây dựng con ngƣời tốt
xã hội chủ nghĩa. Đảng và nhà nƣớc ta đã xác định: Thế hệ trẻ là mầm móng
tƣơng lai của đất nƣớc. Cũng nhƣ Bác Hồ đã dạy: “Non sông Việt Nam ta có
trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có sánh vai cùng các cƣờng
quốc năm châu hay không chính là nhờ một phần lớn công học tập của các
cháu”. Vì vậy giáo viên Tiểu học phải nhận thức rõ nhiệm vụ quan trọng của
mình là làm sao nâng cao chất lƣợng học tập của học sinh Tiểu học. Muốn
làm đƣợc điều này, chúng ta cần tiến hành đồng bộ những vấn đề của ngành
giáo dục, phải có nội dung và phƣơng pháp thích hợp. Vậy sử dụng phƣơng
pháp dạy học nhƣ thế nào để phát huy đƣợc tối đa tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh là một vấn đề đáng quan tâm.
Nhƣ chúng ta đã biết con ngƣời muốn có tƣ duy phải có ngôn ngữ.
Ngôn ngữ là một thứ công cụ có giá trị, có tác dụng vô cùng to lớn trong
việc nhận thức, tƣ duy và là phƣơng tiện giao tiếp quan trọng nhất của con
ngƣời. Nó dùng để diễn đạt những gì con ngƣời nghĩ ra, nhìn thấy và biết
đƣợc những vật thể từ vô cùng nhỏ bé đến thế giới rộng lớn, từ cái cụ thể
1
đến những cái trừu tƣợng mà các giác quan của con ngƣời không vƣơn tới
đƣợc. Chúng ta có thể nói: nếu không có ngôn ngữ thì không có con ngƣời,
không có xã hội. Trong ngôn ngữ thì từ là quan trọng nhất. Từ là nguyên
liệu để tạo thành câu giúp con ngƣời có đƣợc phƣơng tiện giao tiếp. Vì vậy,
việc phát triển vốn từ là rất quan trọng, nó giúp các em nắm vững tiếng mẹ
đẻ, tạo điều kiện thuận lợi để các em học tốt các môn học khác và tạo đà
cho cấp học sau, khi vốn từ của cá nhân phát triển thì con ngƣời mới tự tin,
mạnh dạn và giao tiếp đƣợc mạch lạc. Đặc biệt trong giáo dục thực hiện
chƣơng trình sách giáo khoa hiện nay để ngƣời dạy học áp dụng đƣợc
phƣơng pháp dạy học tích cực, hoạt động hoá của ngƣời dạy học, đòi hỏi
thích tƣ duy sáng tạo.
Trên thực tế, ngƣời giáo viên tiểu học phần lớn mới chỉ chú ý đến việc
bằng mọi cách cung cấp hết kiến thức trong sách giáo khoa mà ít quan tâm
đến thái độ, cảm xúc của các em, chính vì vậy nhiều tiết học đã trở nên nặng
nề, mệt mỏi đối với học sinh. Nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi áp lực đòi
hỏi từ phía xã hội, gia đình, nhà trƣờng lên đứa trẻ ngày càng lớn, thì ngày
càng xuất hiện những học sinh sợ mà học chứ không phải thích mà học. Để
khắc phục đƣợc nhƣợc điểm này, nhiều giáo viên đã sử dụng phƣơng pháp trò
chơi học tập nhằm nâng cao hứng thú học tập của học sinh, để việc học tập trở
nên nhẹ nhàng hơn và hiệu quả hơn. Tuy nhiên do các trò chơi còn thiếu tính
hấp dẫn, còn rời rạc từng trò chơi cho từng bài học mà chƣa có tính hệ thống
và chƣa có tổ chức thích hợp nên chƣa đạt đƣợc hiệu quả dạy học nhƣ mong
muốn.
Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi chọn đề tài: “Tổ chức trò chơi
học tập trong dạy học các loại bài mở rộng vốn từ ở lớp 2”
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Đây không phải là vấn đề mới mẻ, vào thế kỉ XIX- đầu thế kỉ XX đã có
nhiều nhà nghiên cứu nhƣ: Phreben (Đức), M.Mentori (Ý)... có ý tƣởng trò
3
chơi với dạy trẻ học, dùng trò chơi làm phƣơng tiện dạy học. Về sau, ý tƣởng
đó đƣợc tiếp tục phản ánh trong hàng loạt công trình nghiên cứu của các nhà
giáo dục Liên xô: A.P.Radina, A.P.Vsova, A.Navanhesova, A.L.Sovokia.
Trong quá trình đổi mới về nội dung và phƣơng pháp dạy học có rất nhiều nhà
giáo dục đã nghiên cứu, tìm tòi thiết kế nên các trò chơi nhằm giáo dục toàn
diện tạo hứng thú học tập cho các em nhƣ: cuốn “Tổ chức hoạt động vui chơi
ở Tiểu học nhằm phát triển tâm lực, trí tuệ, thể lực cho học sinh” của Hà
Nhật Thăng (chủ biên) hay cuốn “150 trò chơi thiếu nhi” của Bùi Sĩ Tụng,
kiến thức và kĩ năng sử dụng tiếng Việt ở bậc Tiểu học.
- Các tác giả Trần Mạnh Hƣởng ( chủ biên), Nguyễn Thị Hạnh, Lê
Phƣơng Nga khi biên soạn tài liệu việc sử dụng trò chơi học tập trong môn
Tiếng Việt lớp 2, 3 đã chú ý tới trò chơi cụ thể thích hợp với từng phân môn
tuy nhiên tác giả không đi sâu vào từng địa bàn đối tƣợng học sinh để có gợi ý
sử dụng trò chơi hợp lý.
- Nguyễn Minh Thuyết – Hỏi đáp về dạy Tiếng Việt 2, có nói đến nội
dung dạy mở rộng vốn từ song các vấn đề nêu ra mới dừng lại ở phạm vi
chung chung.
Tuy nhiên để có hệ thống, cụ thể từng trò chơi trong từng dạng bài mở rộng
vốn từ thì chƣa có.
Đề tài đi vào chuyên sâu nghiên cứu “ Tổ chức trò chơi học tập trong
dạy học các loại bài mở rộng vốn từ ở lớp 2” một cách cụ thể.
3. Mục đích nghiên cứu
Tìm ra cách thức tổ chức các trò chơi học tập vào những bài học cụ thể
để mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 2.
Từ đó giúp các em có vốn từ phong phú, thuận lợi, dễ dàng hơn trong
viết văn và giao tiếp.
5
4. Đối tƣợng nghiên cứu
Nghiên cứu việc tổ chức trò chơi trong dạy học mở rộng vốn từ cho học
sinh lớp 2
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục đích trên, đề tài phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tổng hợp tất cả các vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài.
- Tìm hiểu về vấn đề sử dụng trò chơi trong dạy học mở rộng vốn từ ở
lớp 2
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Để đảm bảo khả năng thực thi cũng nhƣ tính có hiệu quả, tính thuyết
phục của hệ thống trò chơi đƣợc đƣa ra trong khóa luận, chƣơng này trình
bày những cơ sở lý luận và thực tiễn của hệ thống trò chơi để mở rộng vốn
từ cho học sinh lớp 2.
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Từ
1.1.1.1. Khái niệm
Có nhiều định nghĩa về từ tiếng Việt nhƣng có thể hiểu từ tiếng Việt một
cách đơn giản nhƣ sau:
“Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang
những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định,
tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ
nhất để tạo câu” [3, tr.16].
Định nghĩa này cho ta thấy, so với từ của tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng
Pháp, v.v..., từ của tiếng Việt có tính cố định, bất biến ở mọi vị trí, mọi quan
hệ và chức năng trong câu.
Tính cố định, bất biến về âm thanh là điều kiện hết sức quan trọng giúp
ta nhận diện từ một cách dễ dàng. Song cũng vì tính cố định và bất biến mà
bản thân hình thức ngữ âm của từ tiếng Việt không chứa đựng những dấu hiệu
chỉ rõ đặc điểm ngữ pháp của chúng. Nói cách khác, ở tiếng Việt, "đặc điểm
ngữ pháp của từ không biểu hiện trong nội bộ từ mà biểu hiện chủ yếu ở
ngoài từ, trong tƣơng quan của nó với các từ khác trong câu" [3, tr.21].
1.1.1.2. Chức năng của từ
8
9
VD2:
Ngƣời anh hùng áo vải chính là tên gọi theo lối miêu tả của vua Quang
Trung
Vị cha già dân tộc chính là tên gọi theo lối miêu tả của Bác Hồ
Chức năng biểu niệm là chức năng biểu thị những khái niệm về sự vật,
hiện tƣợng, hoạt động, tính chất, trạng thái,…của thực tế khách quan. Đây là
lối gọi tên có lý do. So với chức năng biểu vật thì chức năng này cầu kì và
phức tạp hơn, ngoài ra nó có phần hạn chế với nhận thức của con ngƣời. Do
vậy, trong thực tế cuộc sống ngƣời ta hay dùng biểu vật. Tuy nhiên chức năng
biểu niệm của từ có ƣu điểm là giúp con ngƣời nâng cao nhận thức và kích
thích về mặt nhận thức.
VD: Bộ phận của cơ thể động vật, có chức năng cầm, nắm, bƣng, bê…là
tên gọi của từ “tay”.
Chức năng biểu hiện là chức năng vẽ ra các hình ảnh, hình tƣợng hoặc
bộc lộ các cảm xúc về sự vật, hiện tƣợng, tính chất…nhƣ nó vốn có trong
thực tế khách quan của từ. Tất cả các từ láy của Tiếng Việt đều có chức năng
biểu hiện.
VD: lừ đừ, phờ phạc,lanh chanh, hấp tấp, lom khom,còm cõi,…
b. Nhóm chức năng liên quan đến người dùng
Chức năng biểu thái là chức năng biểu thị thái độ, tình cảm của ngƣời
nói đối với các sự vật đƣợc gọi tên.
VD: trời ơi, eo ôi, chao ôi, à, ừ, nhỉ,…
Chức năng đƣa đẩy là chức năng duy trì sự giao tiếp tạo ra mối thân
hữu giữa ngƣời nói với ngƣời nghe trong giao tiếp của từ. Đây là những từ
rỗng về thông tin nhƣng lại có giá trị về giao tiếp nhằm duy trì mạch giao tiếp,
làm giao tiếp không bị gián đoạn.
có những thành phần ý nghĩa cơ bản sau đây:
- Ý nghĩa biểu vật ứng với chức năng biểu vật;
11
- Ý nghĩa biểu niệm ứng với chức năng biểu niệm;
- Ý nghĩa biểu thái ứng với chức năng biểu thái.
Ba thành phần ý nghĩa trên đƣợc gọi chung là ý nghĩa từ vựng. Ý nghĩa
từ vựng thƣờng đƣợc đối lập với thành phần ý nghĩa thứ 4, đó là:
- Ý nghĩa ngữ pháp ứng với chức năng ngữ pháp.
Các ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp có tính ổn định, bền vững
tƣơng đối. Chúng không phải chỉ do quan hệ giữa từ với những yếu tố ngoài
ngôn ngữ mà có. Chúng còn do quan hệ về ý nghĩa giữa từ này với từ khác
trong ngôn ngữ quy định nên.
Sự vật, hiện tƣợng, đặc điểm... ngoài ngôn ngữ đƣợc từ biểu thị tạo nên ý
nghĩa biểu vật của từ. Nói cách khác, "ý nghĩa biểu vật là sự phản ánh sự vật,
hiện tƣợng... trong thực tế vào ngôn ngữ" [3, tr.108]. Ý nghĩa biểu vật không
phải là sự vật, hiện tƣợng y nhƣ chúng có thực trong thực tế. Chúng chỉ bắt
nguồn từ đó mà thôi. Nói nhƣ vậy có nghĩa là nghĩa biểu vật của từ không
đồng nhất với sự vật, hiện tƣợng, thuộc tính, hành động... mà chỉ gợi ra sự
vật, hiện tƣợng, thuộc tính, hành động.
Nghĩa biểu niệm của từ "là tập hợp của một số nét nghĩa chung và riêng,
khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định. Giữa các nét nghĩa
có những quan hệ nhất định. Tập hợp này ứng với một hoặc một số ý nghĩa
biểu vật của từ" [3, tr.118].
Nghĩa biểu niệm là sự liên hệ giữa từ với ý (hoặc ý nghĩa, ý niệm). Ví
dụ: Nghĩa biểu niệm của từ "bàn" là: đồ dùng, có mặt phẳng đƣợc cách mặt
nền bởi các chân, dùng để đặt đồ vật, sách vở khi viết.
Nghĩa biểu thái là mối liên hệ giữa từ với thái độ chủ quan, cảm xúc của
Nói một cách khác, mỗi trƣờng nghĩa là một tiểu hệ thống nằm trong hệ
thống là từ vựng của một ngôn ngữ.” [3, tr.170].
13
Ngƣời ta có thể chia hệ thống từ vựng thành các trƣờng nghĩa, tuỳ theo
từng tiêu chí. Cụ thể, ngƣời ta có thể chia hệ thống từ vựng thành trƣờng
nghĩa biểu vật và trƣờng nghĩa biểu niệm.
- Trƣờng biểu vật:
Trƣờng nghĩa biểu vật là tập hợp những từ cùng biểu thị một phạm vi sự
vật, hiện tƣợng thực tế khách quan [3, tr.172]. Cơ sở để xác lập trƣờng nghĩa
biểu vật là sự đồng nhất nào đó trong ý nghĩa biểu vật của các từ. Ví dụ,
trƣờng nghĩa biểu vật về động vật:
+ Tên các loài: gà, lợn, chó, trâu...
+ Trƣờng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể: đầu, mỏ, đuôi, mõm...
Trƣờng nghĩa biểu niệm
- Trƣờng nghĩa biểu niệm là "một tập hợp các từ có chung một cấu trúc
biểu niệm" [3, tr.178].
Căn cứ để phân lập các trường biểu niệm là các ý nghĩa biểu niệm của
từ. Cấu trúc biểu niệm không chỉ riêng cho từng từ mà chung cho nhiều từ. Ví
dụ, nói về trƣờng biểu niệm "vật thể nhân tạo", "thay thế hoặc tăng cƣờng
thao tác lao động", "cầm tay" có thể chia thành các trƣờng nhỏ, chẳng hạn:
+ Dụng cụ để chia, cắt: dao, cƣa, búa, rìu, liềm…
+ Dụng cụ để xoi, đục: đục, dùi, chàng, khoan…
+ Dụng cụ mài giũa: giũa, bào, đá mài, giấy ráp...
Sự phân lập từ vựng thành trƣờng biểu vật và trường biểu niệm dựa trên
sự phân biệt hai thành phần ngữ nghĩa trong từ. Nó phản ánh hai cách nhìn từ
vựng ở hai góc độ khác nhau. Tuy nhiên, hai loại trƣờng nghĩa này có liên hệ
với nhau: Nếu lấy những nét nghĩa biểu vật trong cấu trúc biểu niệm làm tiêu
quan hệ đó có thể có hai loại trƣờng nghĩa là trƣờng nghĩa ngang và trƣờng
nghĩa dọc.
Trƣờng nghĩa biểu vật và trƣờng nghĩa biểu niệm thuộc kiểu trƣờng
nghĩa dọc, trƣờng nghĩa tuyến tính thuộc kiểu trƣờng nghĩa ngang. Trƣờng
15
nghĩa liên tƣởng là kiểu trƣờng nghĩa có tác động sâu sắc đối với việc sử dụng
từ ngữ và vừa có tính chất của một trƣờng nghĩa ngang, vừa mang tính chất
của một trƣờng nghĩa dọc.
Các trƣờng nghĩa có vai trò quan trọng, là cơ sở để tập hợp từ trong kiểu
bài mở rộng vốn từ ở Tiểu học.
1.1.2. Trò chơi học tập
1.1.2.1. Khái niệm
Trong tâm lý học đại cƣơng và giáo dục học trẻ em đƣa ra khái niệm trò
chơi học tập nhƣ sau:
Trò chơi học tập là trò chơi có luật và những nội dung cho trƣớc, là trò
chơi của sự nhận thức, hƣớng đến sự mở rộng, chính xác hóa, hệ thống hóa
các biểu tƣợng đã có nhằm phát triển các năng lực trí tuệ, giáo dục lòng ham
hiểu biết của trẻ – trong đó nội dung học tập kết hợp với hình thức chơi.
Hay có thể hiểu một cách đơn giản: trò chơi học tập là một loại trò chơi
có luật. Thông qua trò chơi, nhiệm vụ giáo dục đƣợc giải quyết.
Trò chơi học tập là một loại trò chơi đặc biệt mà các nhà sƣ phạm sử
dụng trong dạy học nhằm đạt những kết quả cao trong việc nhận thức của học
sinh, củng cố kĩ năng, củng cố tri thức.
Luật chơi của trò chơi học tập.
+ Trò chơi hình thành thái độ
+ Trò chơi hình thành hành vi, thói quen…
- Phân loại theo tiến trình bài học:
+ Trò chơi khởi động
+ Trò chơi hình thành kiến thức và rèn kĩ năng
+ Trò chơi ôn tập củng cố
- Phân loại theo hình thức tổ chức:
+ Trò chơi tập thể
+ Trò chơi cá nhân
17
+ Trò chơi trong lớp
+ Trò chơi ngoài lớp…
Tuy nhiên, các cách phân loại trên cũng chỉ mang tính chất tƣơng đối.
1.1.3. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh lớp 2
Ở lứa tuổi tiểu học cơ thể trẻ đang trong thời kì phát triển hay nói cụ thể
là các hệ cơ quan chƣa hoàn thiện vì thế sức dẻo dai của cơ thể còn thấp nên
trẻ không thể làm lâu một cử động đơn điệu, dễ mệt nhất là khi hoạt động quá
mạnh và ở môi trƣờng thiếu dƣỡng khí.
Học sinh tiểu học nghe giảng rất dễ hiểu nhƣng cũng sẽ quên ngay khi
chúng không tập trung cao độ. Vì vậy trong quá trình dạy và học giáo viên
phải tạo ra hứng thú trong học tập và phải thƣờng xuyên cho học sinh đƣợc
luyện tập.
Học sinh tiểu học rất dễ xúc động và thích tiếp xúc với một sự vật, hiện
tƣợng nào đó nhất là những hình ảnh gây cảm xúc mạnh.
Trẻ hiếu động, ham hiểu biết cái mới nên dễ gây cảm xúc mới song các
em chóng chán. Do vậy trong dạy học giáo viên phải sử dụng nhiều đồ dùng
dạy học, đƣa học sinh đi tham quan, đi thực tế, tăng cƣờng thực hành, tổ chức
kể cả thành ngữ, tục ngữ quen thuộc và nghĩa của một số yếu tố gốc Hán
thông dụng) theo các chủ điểm:
Chủ điểm 1: Em là học sinh – MRVT: từ ngữ về học tập
Chủ điểm 2: Bạn bè – MRVT: ngày, tháng, năm
Chủ điểm 3: Trƣờng học – MRVT: từ ngữ về đồ dùng học tập
Chủ điểm 4: Thầy cô – MRVT: từ ngữ về các môn học
Chủ điểm 5: Ông bà – MRVT: từ ngữ về họ hàng, từ ngữ về đồ dùng
và công việc trong nhà
Chủ điểm 6: Cha mẹ – MRVT: từ ngữ về tình cảm, từ ngữ về công
việc gia đình
19