sáng kiến kinh nghiệm Tổ chức trò chơi học tập trong tiết dạy môn Khoa học ở Tiểu học - Pdf 28

A. PHẦN MỞ BÀI:

1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Chương trình dạy học lớp Bốn là chương trình tương đối khó trong bậc Tiểu học,
cung cấp cho học sinh những kiến thức, kĩ năng cơ bản thiết thực, có hệ thống.
Ngoài những môn học như năm lớp Ba, lớp Bốn có thêm ba phân môn là Lịch
sử, Địa lí và Khoa học thay thế cho phân môn Tự nhiên xã hội. So với lớp Ba,
lượng kiến thức ở các phân môn Toán, Tiếng Việt ở lớp Bốn nhiều, khó và dễ
nhầm lẫn, nhiều em tỏ ra lúng túng. Đã thế các em còn phải tiếp thu một lượng
kiến thức không nhỏ từ ba phân môn: Lịch sử, Địa lí và Khoa học, và đây lại là
ba phân môn có kiểm tra, đánh giá cuối kì và là căn cứ để xếp loại học sinh. Đây
là một áp lực lớn đối với các em. Nhất là học sinh yếu. Vậy làm thế nào để cho
học sinh tiếp thu tốt chương trình dạy học này một cách nhẹ nhàng? Đây là một
vấn đề trăn trở của bản thân tôi nói riêng và đồng nghiệp nói chung.
Qua một thời gian giảng dạy ở lớp Bốn, bản thân tôi nhận thấy để một tiết học
đạt hiệu quả, cần phải có không khí học tập sôi nổi, tạo hứng thú cho học sinh,
đặc biệt là hình thức trò chơi, nhằm giúp các em khắc sâu kiến thức, vừa tạo
không khí vui tươi. Các em sẽ được vừa học vừa chơi nên tâm lí sẽ thoải mái
giúp các em tiếp thu bài nhẹ nhàng, hiệu quả.
Ngoài Toán và Tiếng Việt thì Khoa học, Lịch sử, Địa lí chiếm một thời gian học
bài không nhỏ với các em nên việc giúp học sinh nắm bài những môn này tại lớp
là vấn đề cần thiết. Đối với phân môn Lịch sử và Địa lí thì kiến thức nhiều và
chính xác nên hình thức tổ chức trò chơi hạn chế. Riêng phân môn Khoa học thì
có thể tổ chức trò chơi trong từng tiết học. Những trò chơi hay cuộc thi nhỏ
mang nội dung bài học này chỉ tiến hành trong vài phút nhưng thật hấp dẫn, lôi
cuốn các em và đem lại hiệu quả cao trong tiết học. Vì thế trò chơi trong các
môn học nói chung và môn Khoa học nói riêng có một vai trò lớn đối với học
sinh.

II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:


Một trò chơi sư phạm trong dạy học Khoa học ở bậc tiểu học cần có những
bước sau:
* Bước 1: Xác định mục đích chơi ( Củng cố tri thức, phát triển kĩ năng, tư duy,
hình thành óc sáng tạo…rèn tính thật thà, nhanh nhẹn). Mục đích chơi đã được
tôi xác định rõ ràng và sau cuộc chơi phải đạt được mục đích chơi.
* Bước 2: Giới thiệu tên trò chơi.
* Bước 3: Giới thiệu luật chơi.
* Bước 4: Qui định thời gian chơi và học sinh tiến hành chơi.
* Bước 5: Nhận xét, đánh giá kết quả chơi.

Khi tiến hành tổ chức trò chơi, chúng ta cần chú ý:
- Trò chơi học tập là một phương tiện giáo dục trí tuệ, nó giúp học sinh phát triển
những khả năng về thị giác, thính giác, xúc giác,…, chính xác hóa những hiểu
biết về các sự vật và hiện tượng xung quanh, phát triển thông minh, sự nhanh
trí, ngôn ngữ… dần dần học sinh sẽ hình thành nhu cầu nhận thức của thế giới
xung quanh- mở rộng tầm hiểu biết về tự nhiên xã hội. Vì vậy ta có thể tổ chức
trò chơi ở thời điểm thích hợp trong một khoảng thời gian nhất định của tiết học.
- Trong trò chơi học tập giáo viên cần chú ý đến sự tự nguyện, bình đẳng giữa
các học sinh. Tất cả học sinh đều có vị trí nhiệm vụ như nhau khi tham gia trò
chơi.
- Trò chơi học tập bao giờ cũng có kết quả rõ ràng, đoán đúng – sai một câu đố,
gọi tên đúng –sai, sắp xếp đúng – sai… Kết quả này có ý nghĩa rất lớn đối với
các em, nó mang lại niềm vui cho học sinh, thúc đẩy tính tích cực và mở rộng
củng cố vốn hiểu biết cho học sinh.
- Nội dung trò chơi thường gắn với nội dung bài học, nó sẽ minh họa một cách
sinh động cho các kiến thức lí thuyết mà các em đã học. Nhờ vậy, kiến thức
được vận dụng, củng cố và khắc sâu giúp các em thấy rõ ý nghĩa những điều đã
học, đây chính là cơ sở để hình thành hứng thú học tập.
- Để kết quả của một hoạt động chơi được tốt, ta luôn chuẩn bị những phương
tiện cần thiết cho hoạt động chơi tùy thuộc vào nội dung của từng trò chơi.

- Đa số những em học yếu lại rơi vào những em nam, ham chơi và những em
học yếu ở các môn. Nhất là những em kĩ năng đọc, viết còn hạn chế.

1.2. Nguyên nhân của những hạn chế:

Đa số những em học yếu môn Khoa học là do những nguyên nhân sau:
- Chưa có ý thức cao trong việc tiếp thu kiến thức mới.
- Lâu nhớ, chóng quên.
- Thiếu tự giác trong suy nghĩ và rèn luyện.
- Thiếu sự quan tâm của gia đình.
- Chưa có ý thức tự học.
- Thiếu hứng thú khi tham gia học, hay làm việc riêng, ít chú tâm đến bài học nếu
không được sự nhắc nhở thường xuyên của GV.
- Một số em có học bài nhưng khi lên trả bài lại quên hết, không trả lời
được vì các em nắm bài chưa vững, học vẹt.

2. Một số biện pháp:

Để giải quyết vấn đề đặt ra, giáo viên phải thu hút sự chú ý của các em vào bài
học. Môn Khoa học là môn dễ thu hút sự ham muốn học tập của các em bằng
nhiều hình thức như: thí nghiệm tìm ra kiến thức mới, vận dụng vốn hiểu biết
của từng em trong khai thác kiến thức, trò chơi học tập,…Trong những hình thức
đó, ngoài việc thực hiện tốt những trò chơi trong sách giáo khoa môn Khoa học
có sẵn, tôi đã tập trung thiết kế một số hình thức cung cấp kiến thức mới và củng
cố kiến thức dưới dạng trò chơi tương ứng dành riêng cho từng loại bài học .

*MỘT SỐ TRÒ CHƠI ĐÃ CÓ SẴN TRONG SÁCH GIÁO KHOA:
-“ Cuộc hành trình đến hành tinh khác” – ( Bài 1: Con người cần gì để sống? /
Trang 4, 5)
- “ Thi kể tên một số vi-ta-min và chất khoáng có trong thức ăn mà bạn

*MỘT SỐ TRÒ CHƠI CHUẨN BỊ THÊM:

- Trò chơi " Ai nhanh- ai đúng"
- Trò chơi " Tiếp sức"
- Trò chơi "Sắm vai"
- Trò chơi " Tôi là ai? Tôi như thế nào ?"
- Trò chơi " Trò chơi đoán vật"
Những hình thức trò chơi được mô tả cụ thể như sau:

2.1. Trò chơi: " Ai nhanh – ai đúng":
a) Mục tiêu: Củng cố lại kiến thức đã học.
b) Hình thức thể hiện:
Trò chơi được trình bày trên bảng đen. Giáo viên chuẩn bị một số thẻ từ chứa
các từ cần điền trong bài học.( thẻ này ta có thể dùng nhiều lần).
c) Tác dụng:
- Tạo hứng thú trong học tập, thu hút sự chú ý của học sinh.
d) Ví dụ:
Ví dụ: Bài 2: Trao đổi chất ở người – Trang 6, 7 SGK.
Cách chơi:
- GV chuẩn bị 2 bộ thẻ từ (12 tấm thẻ bìa) như dưới. Mỗi đội sẽ nhận 6 tấm thẻ. - Phân chia đội ( mỗi đội 6 học sinh) sắp thành
hai hàng ( mỗi hàng một đội)
- Khi giáo viên hô hiệu lệnh: “Bắt đầu” thì từng em chọn một tấm bìa gắn vào nội
dung ở bảng đen. Em thứ nhất gắn xong một thẻ xuống đứng ở cuối hàng rồi
đến lượt em thứ hai, ba, luân phiên như thế cho đến hết thời gian qui định (1
Đánh giá:
- Nhóm nào gắn đúng và thời gian ít hơn thì đội đó thắng.

Ví dụ: Bài 5: Vai trò của chất đạm và chất béo – Trang 12, 13 SGK.
- Giáo viên giới thiệu cách chơi, luật chơi, cách đánh giá tương tự bài 2.
- Giáo viên chuẩn bị 2 bộ phiếu gồm:
- Học sinh gắn thành bảng như sau: Thịt vịt


- Giáo viên kết luận: Các thức ăn chứa nhiều chất đạm có nguồn gốc vừa động
vật vừa thực vật.

Ví dụ: Bài 21: Ba thể của nước – Trang 44, 45 SGK
- Cách chơi giống những bài trên.
- Bài này giáo viên chuẩn bị 2 bộ thẻ bìa gồm:
- Học sinh gắn thành bảng như sau:
Đậu phụ

TrứngĐậu hà lan Ví dụ: Bài 23:
Sơ đồ vòng
tuần hoàn của nước – Trang 48, 49 SGK
- Cách chơi giống những bài trên.
- Bài này giáo viên chuẩn bị 2 bộ thẻ bìa gồm:
- Học sinh gắn thành bảng như sau:

Mây trắng

Mây đen

Mưa

Hơi nướcKhí ô-xi

Khí các-bô-níc

Hơi nướcNước

Các chất khoáng khácÁnh sáng mặt trời Ví dụ: Bài 64: Trao đổi chất ở động vật – Trang 128, 129 SGK
- Cách chơi giống những bài trên.
- Bài này giáo viên chuẩn bị 2 bộ thẻ bìa gồm:


Các chất hữu cơ trong thức ăn
2.2. Trò chơi: " Tiếp sức":

a) Tác dụng: - Vận dụng kĩ năng và kiến thức cuộc sống để hình thành kiến
thức mới.
- Củng cố kiến thức đã học.

* Đối tượng tham gia: Đồng đội từ 3 đến 5 học sinh hoặc theo tổ.

b) Hình thức thể hiện:

Trò chơi được thể hiện trên bảng đen hoặc bảng phụ, học sinh dùng phấn ghi.

c) Ví dụ:
Ví dụ: Bài 7: Tại sao cần ăn phối hợp nhiều loại thức ăn? – Trang 16, 17
SGK .
Cách chơi:
- Giáo viên chia thành 4 đội , mỗi tổ 1 đội, mỗi đội gồm 2 thành viên để có
sự thi đua giữa các tổ. Giáo viên giao việc cho các em là hãy đi chợ và chuẩn bị
cho gia đình một bữa ăn.
- Giáo viên chia bảng đen thành 4 phần, mỗi đội sẽ viết vào một phần.
Sau hiệu lệnh của giáo viên, một em trong đội sẽ lên tiến hành việc đi chợ bằng
cách ghi tên các thức ăn mua ở chợ chưa chế biến. Sau khi em thứ nhất đi chợ

nên dùng dầu thực vật để làm các món ăn đó. Biết được nên hạn chế dùng các
món chiên. Biết được không nên dùng dầu đã chiên để chiên đi chiên lại nhiều
lần.

Ví dụ: Bài 22: Mây được hình thành như thế nào? Mưa từ đâu ra? – Trang
46,47 SGK
Cách chơi:
- Giáo viên chuẩn bị 2 bảng ghi sẵn có ép ni-lông có nội dung:
Nước ở sông, hồ, suối, biển thường xuyên…………… bay vào không khí.
……………… bay lên cao, gặp lạnh…………………thành những hạt nước rất
nhỏ tạo nên………………….Các ………………. có trong các đám mây rơi xuống
đất tạo thành mưa.
Giáo viên chuẩn bị 10 phiếu ( 2 bộ) như sau:
- Có thể cho học sinh điền vào bảng đó bằng bút lông
- Giáo viên chia lớp thành 2 đội , mỗi đội gồm 5 học sinh, xếp thành 2 hàng.
Sau hiệu lệnh của giáo viên, lần lượt từng em trong đội sẽ cầm phiếu lên đính
vào chỗ trống cho phù hợp, hoặc viết lần lượt vào chỗ trống.
Cách đánh giá:
- Đội nào viết, đính lên bảng đúng và nhanh hơn sẽ chiến thắng.
Tác dụng:
- Tạo sự hứng thú trong học tập.
- Học sinh biết được sự hình thành của mây và mưa.

3.3 .Trò chơi: “ Sắm vai”:

Bước 3: Đánh giá
- Đội nào thể hiện được sự hiểu biết tốt nhất là thắng.
Tác dụng: Học sinh biết được một số bệnh do thiếu chất dinh dưỡng, nguyên
nhân và cách phòng chống các bệnh đó.

Ví dụ: Bài 13: Phòng bệnh béo phì – Trang 28/ SGK
Mục đích: Nêu lên nguyên nhân và cách phòng bệnh do thừa chất dinh dưỡng
Bước 1: Cách chơi:
Giáo viên chia nhóm giao nhiệm vụ, mỗi nhóm thảo luận và tự đưa ra một tình
huống dựa trên gợi ý của giáo viên
Tình huống 1: Em của bạn Nga có dấu hiệu béo phì. Sau khi học xong bài này,
nếu là Nga, bạn sẽ về nhà nói gì với mẹ và bạn có thể làm gì để giúp em mình.
Tình huống 2: Ngân cân nặng hơn những người bạn cùng tuổi. Ngân muốn hạn
chế thói quen ăn vặt của mình. Nếu là Ngân, bạn sẽ làm gì nếu hàng ngày trong
giờ ra chơi, các bạn của Ngân mời Ngân ăn bánh ngọt hoặc uống nước ngọt.
- Nhóm thảo luận đưa ra tình huống.
- Nhóm phân vai theo tình huống.
- Nhóm sắm vai
Bước 2: Luật chơi
Khi thể hiện vai diễn, bạn khác không được nhắc lời thoại
Bước 3: Đánh giá
Nhóm nào thể hiện cách ứng xử có nôi dung tốt nhất là thắng.
Giáo viên kết luận: Hầu hết các nguyên nhân gây béo phì ở trẻ em là do những
thói quen không tốt về ăn uống.
Tác dụng: Học sinh biết được một số cách để phòng tránh bệnh béo phì cho
bản thân và nhắc nhở những người xung quanh.

Ví dụ: Bài 49: Ánh sáng và việc bảo vệ đôi mắt. – Trang 98/ SGK

Mục đích: Khắc sâu kiến thức đã học trong bài

mất lượt hỏi và bị trừ 1 điểm. Các thành viên của đội ghi nhanh các câu hỏi vào
giấy và truyền cho các bạn trực tiếp chơi.
Nội dung chơi:
Mẫu 1: Đội 1: Tôi giúp mọi người được ấm trong khi ngủ
Đội 2: Bạn là cái chăn. Bạn có thể được làm bằng bông, len, dạ
Đội 1: Đúng.
Mẫu 2 :Đội 1: Tôi giúp các bà nội trợ nấu các bữa ăn ngon.
Đọi 2 : Bạn là xoong, nồi. Bạn được làm bằng nhôm, thủy tinh,
- Cứ tiếp tục như thế Đội 2 hỏi, đội 1 trả lời
- Tổng kết trò chơi – Tuyên dương.
Đánh giá : Đội nào đoán đúng được nhiều vật hơn đội đó sẽ thắng.
Tác dụng : Học sinh biết được một số vật dẫn nhiệt, một số vật không dẫn nhiệt
và tác dụng của chúng.

Ví dụ: Bài 63 : Động vật ăn gì để sống ?

Mục đích : Nhận biết và đưa ra các lợi ích của một số động vật.
Cách chơi :
- Giáo viên cho học sinh chuẩn bị 6 hình vẽ của con vật (có thể vẽ hoặc sưu tầm)
- Chia lớp thành 2 đội, mỗi đội cử 5 thành viên trực tiếp tham gia trò chơi. Mỗi
đội sẽ cử một thành viên lên nhận hình 3 con vật và đứng phía trên, lần lượt
đưa ra ích lợi hoặc đặc điểm của 3 con vật đó trong vòng 3 phút. Bốn bạn đứng
phía dưới có nhiệm vụ đoán đúng tên con vật bạn đội mình đưa ra.
Khẩu lệnh : Bắt đầu
Luật chơi : Mỗi hình chỉ được đưa ra kết quả 1 lần, các bạn dưới lớp không
được nhắc cho bạn.
Đánh giá : Đội nào đoán đúng 1 con vật được ghi 10 điểm, đoán sai bị trừ 2
điểm. Đội nào trả lời đúng nhiều nhất trong thời gian ít nhất là thắng.
Nội dung :
VD : Đội 1 : Nhận được 1 con gà, hỏi :

giản.
2. Chuẩn bị :
- Đèn pin, tấm vải, đồ chơi hoặc đồ dùng học tập.
3. Cách tiến hành :
- Giáo viên nêu luật chơi, cách chơi, quy định thời gian.
- Giáo viên chia lớp thành 2 đội, cử 2 học sinh căng tấm vải trắng lên phía bảng,
giáo viên sẽ cầm các đồ chơi hoặc đồ dùng đưa sau tấm vải. Sau đó 2 đội đứng
ở phía dưới dùng đèn pin chiếu lên các đồ chơi và ghi tên đồ chơi vào bảng phụ.
Sau thời gian 5 phút, giáo viên đưa hết các đồ dùng đã chuẩn bị, giáo viên mời 2
đội đính ngay bảng phụ lên bảng.
4. Đánh giá :
Nhóm nào đoán đúng nhiều đồ vật hơn sẽ chiến thắng. Nếu 2 đội cùng đoán
đúng thì xem đội nào hoàn thành bảng nhanh hơn.
5. Tác dụng : Học sinh phát triển được cơ quan thị giác. Biết được đặc điểm bên
ngoài của một số đồ vật qua bóng của chúng.

E. Hiệu quả :

* Sử dụng trò chơi trong học tập vào giảng dạy giúp tạo được :
- Sự hứng thú trong học tập cho học sinh, tạo không khí vui tươi, sinh động trong
lớp học.
- Giúp học sinh phát triển tư duy, linh hoạt, năng động hơn trong học tập.
- Học sinh có điều kiện phát triển, củng cố, thực hành các kiến thức đã học.
- Giáo viên chỉ cần thay đổi linh hoạt các hình thức là đã có thể tạo nên một trò
chơi cho các em, giúp các em học tập có hiệu quả hơn. Qua các hình thức tổ
chức trò chơi, tôi thấy các em bắt đầu ham học hơn, cố gắng tập trung hơn để
nhớ bài lâu hơn. Hầu hết các em học chậm, chay lười đến các em học khá, giỏi
cũng đều tham gia trò chơi rất nhiệt tình, hào hứng với ý thức kỉ luật, ý thức
đồng đội cao. Từ đó dẫn đến các em học tập ngày một chăm hơn, hăng say
hơn và sử dụng trò chơi học tập cũng là một nhu cầu đối với các em, qua đó

trong công tác giảng dạy.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status