1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐỖ NGỌC CHI
DẠY HỌC KIỂU BÀI
MỞ RỘNG VỐN TỪ Ở LỚP 4, 5
BẰNG CÁC KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
VINH – 2011
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2
Trong xã hội, con người luôn có nhu cầu tiếp xúc và trao đổi tư tưởng,
tình cảm, kinh nghiệm sống. Theo Lê-nin: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp
quan trọng nhất của loài người”, hay theo Mác: “Ngôn ngữ là hiện thực trực
tiếp của tư tưởng”. Trong hệ thống ngôn ngữ, từ có vai trò đặc biệt quan
trọng. Có thể nói, từ là một loại vật liệu đặc biệt mà thiếu nó thì không thể nói
đến sự tồn tại của một ngôn ngữ. Từ là đơn vị trung tâm của ngôn ngữ. Và cố
thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đã từng nói: “Trong ngôn ngữ thì từ quan
trọng nhất, rồi đến câu, sau đến văn. Cho nên dạy từ rất cần thiết”. Quả thật
đúng vậy, ngay từ bậc tiểu học, từ ngữ chiếm một vị trí rất quan trọng và cần
được dạy trong tất cả các môn học. Đặc biệt là môn Tiếng Việt, với tính chất
là một môn học công cụ, việc dạy từ càng quan trọng hơn. Bởi muốn giao tiếp
hội. Trước đòi hỏi của thực tiễn, nước ta đang trên con đường hội nhập và
phát triển thì đổi mới giáo dục, trong đó đổi mới phương pháp dạy học là hết
sức cần thiết. Luật giáo dục công bố năm 2005, Điều 28.2 có ghi “Phương
pháp dạy học phổ thông phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học; bồi dưỡng phương pháp tự học,
khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực
tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS.”
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Dạy học kiểu bài Mở
rộng vốn từ ở lớp 4, 5 bằng các kĩ thuật dạy học tích cực” để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài đề xuất cách vận dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực nhằm
phát huy tính tích cực, chủ động học tập và tăng cường năng lực MRVT cho
HS lớp 4, 5.
4
3. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: quá trình dạy học kiểu bài MRVT ở lớp 4, 5.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: việc vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực trong
dạy học kiểu bài MRVT ở lớp 4, 5.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
3.3.1. Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu nội dung, thực trạng và đề xuất cách
vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực: kĩ thuật khăn phủ bàn, kĩ thuật mảnh
ghép và sơ đồ tư duy đối với việc dạy học kiểu bài MRVT ở lớp 4, 5.
3.3.2. Khảo sát và tổ chức thử nghiệm trên HS lớp 4, 5 ở một số trường tiểu
học trong địa bàn Quận 1 - Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu GV biết cách vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học tích cực: kĩ
thuật khăn phủ bàn, kĩ thuật mảnh ghép, sơ đồ tư duy, … vào dạy học kiểu bài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tham khảo và phụ lục, luận văn
gồm 3 chương:
• Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài
• Chương 2: Thực trạng vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực trong
dạy học kiểu bài Mở rộng vốn từ ở lớp 4, 5
• Chương 3: Vận dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực vào dạy học
kiểu bài Mở rộng vốn từ ở lớp 4, 5.
6
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trong lý luận dạy học, phương pháp dạy học đã có từ rất lâu và nó được
coi là vấn đề cốt lõi. Trong thời qua đã có rất nhiều nhà nghiên cứu đi sâu, tìm
hiểu việc áp dụng phương pháp dạy học tích cực vào dạy học ở nhà trường
phổ thông.
1.1.1. Các công trình nghiên cứu về phương pháp dạy học tích cực
Năm 1998, hai tác giả Lê Phương Nga và Nguyễn Trí đã viết cuốn
“Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học”. Cuốn sách không phải là
chuyên luận đi sâu vào một vấn đề nhất định mà trình bày kết quả nghiên cứu
của các tác giả về nhiều vấn đề cụ thể, nóng hổi đang đặt ra với các nhà giáo.
Sự thống nhất trong cả cuốn sách chính là quan điểm giao tiếp trong dạy học
Tiếng Việt, một định hướng dạy học nhằm phát triển ở HS công cụ giao tiếp
và công cụ tư duy.
GS.TS Trần Bá Hoành cùng các tác giả Nguyễn Thị Hạnh, Lê Phương
Nga, Nguyễn Trí,… đã viết nhiều cuốn sách đi sâu nghiên cứu vấn đề đổi mới
phương pháp theo hướng tích cực như “Áp dụng dạy và học trong môn Văn
học”… Riêng GS.TS Trần Bá Hoành trong cuốn sách “Đổi mới phương pháp
một trong những vấn đề được mọi người quan tâm. Tác giả Nguyễn Trí, trong
cuốn “Dạy và học môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học theo chương trình mới” đã
nhấn mạnh việc phối hợp các phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích
cực nhận thức của HS trong dạy học Tiếng Việt.
Trong “Sổ tay phương pháp dạy học và đánh giá”, TS. Lê Văn Hảo –
Trường Đại học Nha Trang cũng đã đề cập đến một số phương pháp dạy học
tích cực.
8
Trong bài báo “Vận dụng phương pháp tích cực để tổ chức dạy học
phân môn LTVC lớp 2”, tác giả Lê Phương Nga và Lâm Thị Hoa cũng đã đưa
ra một số quan điểm về phương pháp dạy học tích cực.
Trong tài liệu “Một số vấn đề thời sự của Giáo dục Tiểu học” PGS.TS
Phạm Minh Hùng – Trường Đại học Vinh cũng đã đề cập đến việc cần đổi
mới phương pháp dạy học theo hướng lấy HS làm trung tâm nhằm phát huy
tính tích cực, chủ động của HS trong học tập.
Geoffrey Fetty trong cuốn “Dạy học ngày nay” cũng đã đưa ra những
lời khuyên rất chi tiết về việc sử dụng các phương pháp dạy học phổ biến nhất
và phân tích những mặt mạnh, mặt yếu của phương pháp đó.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về Mở rộng vốn từ
Trong tài liệu đào tạo GV Tiểu học “Dạy LTVC ở Tiểu học”, tác giả
Chu Thị Thủy An và Chu Thị Hà Thanh đã phân tích đầy đủ và khá toàn diện
nhiệm vụ, nội dung, cấu trúc chương trình phân môn LTVC ở Tiểu học, đồng
thời định hướng cụ thể phương pháp dạy học từng nội dung, từng kiểu bài,
trong đó có kiểu bài MRVT.
Trong dự án phát triển GV tiểu học “Đổi mới phương pháp dạy học ở
tiểu học”, nhóm tác giả Hoàng Hòa Bình, Nguyễn Thị Hạnh, Trần Hiền
Lương đã đề cập đến các phương pháp dạy học tích cực thích hợp nên vận
HS tiểu học, với một cái nhìn toàn cục, tổng thể về diện mạo chung của các
bài dạy từ ở tiểu học. Tác giả có sự phân tích khá kĩ về mục đích ý nghĩa, tác
dụng của bài tập, các tiểu loại bài tập và hệ thống bài tập cho phép người sử
dụng lựa chọn tùy vào điều kiện dạy học cụ thể.
Có thể khẳng định, vấn đề dạy từ cho HS tiểu học là một vấn đề không
phải hoàn toàn mới, đã có rất nhiều tài liệu đã đề cập đầy đủ và sâu sắc mọi
khía cạnh của việc dạy từ như dạy HS phát triển mở rộng, hệ thống hóa vốn
từ, nắm nghĩa từ hay rèn luyện kĩ năng dùng từ… và việc vận dụng việc dạy
học tích cực để dạy tiếng Việt theo chương trình mới.
10
Song, các tài liệu trên vẫn chưa đi sâu nghiên cứu về kiểu bài MRVT ở
lớp 4, 5. Việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực và nhất là kĩ thuật
dạy học tích cực phù hợp cho từng tiết học, bài học, phù hợp với đối tượng
HS để phát huy tối đa tính tích cực hoạt động học tập của HS lớp 4, 5 cũng
chưa được các nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu cụ thể. Thế nhưng, chính từ
các tài liệu này chúng tôi đã tiếp thu được nhiều điều bổ ích làm căn cứ cho
việc đề xuất cách vận dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực vào dạy học kiểu
bài MRVT ở lớp 4, 5 của mình.
1.2. Quan điểm dạy học tích cực trong tình hình hiện nay
1.2.1. Thế nào là tích cực học tập?
Tính tích cực là một phẩm chất của con người trong đời sống xã hội.
Hình thành và phát triển tính tích cực là một trong các nhiệm vụ chủ yếu của
giáo dục, nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và góp phần
phần triển cộng đồng. Tính tích cực là điều kiện, đồng thời là kết quả của sự
phát triển nhân cách.
Thuật ngữ “tích cực học tập” đã nói lên ý nghĩa của nó: đó chính là
những gì diễn ra bên trong người học. Quá trình học tập tích cực nói đến
pháp đều có ưu điểm của nó, do vậy, mỗi một người thầy cần xây dựng cho
mình một phương pháp riêng phù hợp với mục tiêu, bản chất của vấn đề cần
trao đổi, phù hợp với thành phần nhóm lớp học, các nguồn lực, công cụ dạyhọc sẵn có và cuối cùng là phù hợp với sở thích của mình. Trong thời gian
qua đã có rất nhiều nghiên cứu về việc đổi mới phương pháp dạy học, mà
trong đó phương pháp dạy học tích cực là trong những vấn đề được đề cập
nhiều nhất. Có thể nói, cho đến thời điểm này, phương pháp dạy học tích cực
vẫn còn là vấn đề đang được xem xét, nghiên cứu và chưa có một sự thống
nhất rõ ràng về định nghĩa phương pháp dạy học tích cực.
12
Một số tác giả cho rằng, phương pháp dạy học tích cực chính là phương
pháp lấy HS làm trung tâm. Nghĩa là toàn bộ quá trình dạy học đều phải
hướng vào nhu cầu, khả năng và năng lực độc lập học tập và giải quyết vấn đề
của HS. Phương pháp dạy học tích cực nhằm tích cực hóa hoạt động học tập
và phát triển tính sáng tạo của người học. Trong đó, các hoạt động học tập
được tổ chức, được định hướng bởi GV, người học không thụ động, chờ đợi
mà tự lực, tích cực tham gia vào quá trình tìm kiếm, khám phá, phát hiện kiến
thức, vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề trong thực tiễn, qua đó lĩnh hội
nội dung học tập và phát triển năng lực sáng tạo.
Theo John Dewey (1895- 1952), phương pháp tích cực là sáng tạo ra
những tình huống xác thực cho những hành động liên tục mà HS quan tâm.
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng thì quan niệm phương pháp tích cực
chính là phương pháp phát huy sáng tạo, tạo cơ hội cho người học phát huy trí
tuệ, khả năng sáng tạo của mình. “Chữ tích cực này thể hiện ở chỗ nó có
chiều sâu, nó tạo cơ hội cho người học, cho các đối tượng trung tâm phát huy
được cái trí tuệ, cái tư duy, cái thông minh của mình”.
Theo tài liệu “Dạy và học tích cực – Một số phương pháp và kĩ thuật
dạy học” – Dự án Việt – Bỉ, năm 2010, thuật ngữ “phương pháp dạy và học
tích cực của người học mà còn đề cao vai trò và tính nhân văn của giáo dục.
1.2.3. Quan điểm về kĩ thuật dạy học tích cực
Theo nhóm tác giả biên soạn tài liệu “Dạy và học tích cực - Một số
phương pháp và kĩ thuật dạy học” (Dự án Việt – Bỉ) cho rằng: Phương pháp
dạy học có thể được chia theo ba cấp độ: cấp độ vĩ mô (quan điểm dạy học),
cấp độ trung gian (phương pháp dạy học), cấp độ vi mô (kĩ thuật dạy học).
Theo đó:
14
− Quan điểm dạy học là những định hướng mang tính chiến lược,
cương lĩnh, là mô hình lý thuyết của phương pháp dạy học (có thể hiểu quan
điểm dạy học tương đương với các trào lưu sư phạm).
− Phương pháp dạy học là những cách thức, con đường dẫn đến mục
tiêu của bài học.
− Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của GV
và HS trong các tình huống, hoạt động nhằm thực hiện giải quyết một nhiệm
vụ, nội dung cụ thể.
Tuy nhiên, việc phân định chỉ mang tính chất tương đối. Sự phân biệt
giữa quan điểm dạy học và phương pháp dạy học, giữa phương pháp dạy học
và kĩ thuật dạy học nhiều khi không thật rõ ràng. Và cũng theo nhóm tác giả
biên soạn tài liệu này thì kĩ thuật dạy học tích cực chính là phương tiện, biện
pháp, cách thức GV định hướng, tổ chức và là trọng tài trong các hoạt động
của HS như thảo luận, tranh luận trong nhóm, bộc lộ và chia sẻ ý kiến cá
nhân, tự chiếm lĩnh kiến thức một cách tích cực. Đồng thời, kĩ thuật dạy học
tích cực còn là cách thức để người GV tạo được môi trường học tập mà trong
đó HS không chỉ có điều kiện học tập với nhau mà còn học tập lẫn nhau và
mỗi cá nhân được phép thể hiện tối đa khả năng nhận thức, vốn sống của
mình một cách tự tin, thoải mái.
lên lớp, không có sự hướng dẫn của GV.
Theo phương pháp truyền thống, các bài tập ở nhà thường chỉ đơn
thuần khuyến khích HS ghi nhớ kiến thức. Trong dạy học tích cực cần khuyến
khích HS vận dụng kiến thức đã học vào điều kiện thực tế gia đình, tạo điều
kiện để các em có thể rèn luyện các kĩ năng đã học là một hình thức có ý
nghĩa, giúp liên hệ các kiến thức đã học vào thực tế, liên hệ giữa gia đình và
nhà trường một cách chặt chẽ.
• Thứ hai, tăng cường hoạt động học tập của mỗi cá nhân, phối hợp
với học hợp tác.
16
Trong dạy và học tích cực, GV cần quan tâm đến sự phân hóa trình độ
nhận thức, cường độ tiến độ hoàn thành các nhiệm vụ học tập của mỗi HS.
Trên cơ sở đó xây dựng các nhiệm vụ, bài tập mức độ hỗ trợ phù hợp với khả
năng của mỗi cá nhân nhằm phát huy khả năng tối đa của người học.
Để người học có điều kiện bộc lộ, phát triển khả năng của mình, cần
đặt họ vào môi trường học tập hợp tác trong các mối quan hệ thầy – trò, trò –
trò. Trong mối quan hệ tương tác đó, người học không chỉ học được qua thầy
mà còn học được qua bạn, sự chia sẻ kinh nghiệm sẽ kích thích tính tích cực,
chủ động của mỗi cá nhân, đồng thời hình thành và phát triển ở người học
năng lực tổ chức, điều khiển, lãnh đạo, các kĩ năng hợp tác, giao tiếp, trình
bày, giải quyết vấn đề…và tạo môi trường học tập thân thiện.
Khái niệm học tập hợp tác ngoài việc nhấn mạnh vai trò quan trọng
hoạt động của cá nhân trong quá trình HS làm việc cùng nhau, còn đề cao sự
tương tác và ràng buộc lẫn nhau giữa các HS. Sự phân chia nhiệm vụ và công
việc trong nhóm thể hiện mức độ hợp tác trong học tập. Nói cách khác việc
học tập hợp tác đòi hỏi HS làm việc và học tập với những “nguyên liệu” thu
được từ các thành viên của nhóm. Sự hợp tác nhằm phát triển ở HS những kĩ
• Thứ năm, kết hợp đánh giá của thầy với sự tự đánh giá của trò.
Trong dạy học thụ động đánh giá là nhiệm vụ của GV, HS là đối tượng
được đánh giá. Đánh giá tập trung vào kết quả học tập của HS qua điểm số
của các bài kiểm tra, thi cử. Cách đánh giá như vậy dẫn đến cách học thụ
động, học “vẹt”, học “tủ” đối phó với kiểm tra, thi cử dẫn đến kết quả giáo
dục yếu kém không đáp ứng yêu cầu của xã hội.
Trong dạy và học tích cực, đánh giá không chỉ nhằm mục đích nhận
định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học tập của HS mà còn đồng thời tạo
điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của GV.
18
Tự đánh giá là một hình thức đánh giá mà HS tự liên hệ phần nhiệm vụ
đã thực hiện các mục tiêu của quá trình học tập. HS sẽ học cách đánh giá các
nỗ lực và tiến bộ, nhìn lại quá trình và phát hiện những điểm cần thay đổi để
hoàn thiện bản thân. Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động học kịp thời là
năng lực cần thiết cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang
bị cho HS. Đây chính là sự khác biệt giữa dạy học thụ động và dạy học tích
cực. Ngoài ra, cần kết hợp đánh giá của thầy và đánh giá của trò vì sự kết hợp
này không những giúp cho HS nhìn nhận chính mình và để điều chỉnh cách
học mà GV cũng có điều kiện nhìn nhận chính mình để điều chỉnh cách dạy.
Dạy học tích cực nhằm đáp ứng mục tiêu đào tạo người lao động năng
động, sáng tạo thích nghi với mọi hoàn cảnh trong đời sống xã hội, do vậy,
kiểm tra đánh giá không chỉ dừng ở yêu cầu ghi nhớ tái hiện kiến thức, lập lại
các kĩ năng đã học mà phải phát triển ở người học tư duy lô-gic, tư duy phê
phán, khả năng phân tích, tổng hợp, đánh giá, giải quyết các vấn đề mà thực
tiễn cuộc sống đặt ra.
1.3. Quan điểm và nguyên tắc dạy học Tiếng Việt theo hướng tích cực
1.3.1. Quan điểm về dạy và học tích cực môn Tiếng Việt ở tiểu học
cho HS.
+ Kĩ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ của HS phải được tiến hành luyện
tập thường xuyên thông qua các dạng bài tập như: bài tập miệng, bài viết trình
bày ý nghĩa tình cảm, giải quyết các nhiệm vụ cụ thể trong các phân môn của
môn Tiếng Việt.
− Nguyên tắc rèn luyện ngôn ngữ gắn liền với rèn luyện tư duy, bao
gồm các yêu cầu cơ bản sau:
+ Quá trình chiếm lĩnh các đơn vị ngôn ngữ phải là quá trình tổ chức
cho HS quan sát, phát hiện và nắm được ý nghĩa chung.
+ Chỉ yêu cầu các em viết hoặc nói những gì các em đã hiểu, đã biết.
20
+ Phải thường xuyên ứng dụng các thao tác tư duy lô-gíc trong giờ
Tiếng Việt.
Các nguyên tắc này coi trọng, hướng đến hoạt động học tập tiếng Việt
của người học. Trong dạy và học tích cực, HS là chủ thể của hoạt động. HS là
người chủ động, tích cực hoạt động trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Cho
nên, GV cần coi trọng và hướng đến hoạt động học tập Tiếng Việt của HS.
Các kĩ thuật dạy học tích cực được vận dụng trong kiểu bài Mở
1.4.
rộng vốn từ ở lớp 4, 5
Trong dạy học tiếng Việt ở tiểu học nói chung và dạy học phân môn
LTVC nói riêng, người GV có thể vận dụng nhiều phương pháp và kĩ thuật
dạy học khác nhau để phát huy tính tích cực, chủ động của HS. Tuy nhiên,
trong phạm vi của luận văn này, chúng tôi chỉ đi vào nghiên cứu một số kĩ
thuật dạy học tích cực mà trong thực tiễn dạy học theo chúng tôi khi áp dụng
quanh.
− Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, tập trung suy
nghĩ, trả lời câu hỏi, nhiệm vụ theo cách nghĩ, cách hiểu riêng của mỗi cá
nhân và viết vào phần giấy của mình trên tờ A0.
− Trên cơ sở những ý kiến của mỗi cá nhân, HS thảo luận nhóm,
thống nhất ý kiến và viết vào phần chính giữa của tờ giấy A0 “Khăn phủ
bàn”.
22
Sơ đồ 1.1: Kĩ thuật “Khăn phủ bàn”
1.4.2. Kĩ thuật mảnh ghép
Định nghĩa:
Kĩ thuật mảnh ghép là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập hợp tác kết
hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm.
Mục tiêu:
− Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp.
− Kích thích sự tham gia tích cực của HS trong hoạt động nhóm.
− Nâng cao vai trò cá nhân trong quá trình hợp tác (Không chỉ nhận
thức hoàn thành nhiệm vụ học tập cá nhân mà còn phải trình bày truyền đạt
lại kết quả và thực hiện tiếp nhiệm vụ ở mức độ cao hơn).
− Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm học tập của mỗi cá nhân.
Tác động đối với HS:
− HS hiểu rõ nội dung kiến thức.
− HS được phát triển kĩ năng trình bày, giao tiếp hợp tác.
23
ghép
1
2
3
1
2
3
1
2
3
…
Sơ đồ 1.2: Kĩ thuật
mảnh ghép
Giai đoạn 1: “Nhóm chuyên sâu”
− Lớp học được chia thành các nhóm (khoảng từ 3 – 6 HS). Mỗi nhóm
được giao một nhiệm vụ tìm hiểu, nghiên cứu sâu một phần nội dung học tập
khác nhau nhưng có sự liên quan chặt chẽ với nhau. Các nhóm này được gọi
là “nhóm chuyên sâu”.
− Các nhóm nhận nhiệm vụ và nghiên cứu, thảo luận, đảm bảo mỗi
để mở rộng và đào sâu các ý tưởng. Nhờ sự kết nối giữa các nhánh, các ý
tưởng được liên kết với nhau khiến SĐTD có thể bao quát được cá ý tưởng
trên một phạm vi sâu rộng. Tính hấp dẫn của hình ảnh, âm thanh, … gây ra
những kích thích rất mạnh trên hệ thống rìa (hệ thống cổ áo) của não giúp cho
việc ghi nhớ được lâu bền và tạo ra những điều kiện thuận lợi để vỏ não phân
25
tích, xử lý, rút ra kết luận hoặc xây dựng mô hình về đối tượng cần nghiên
cứu.
Mục tiêu:
Sử dụng trong dạy và học mang lại hiệu quả cao, phát triển tư duy lôgíc, khả năng phân tích tổng hợp, HS hiểu bài, nhớ lâu, thay cho ghi nhớ dưới
dạng thuộc lòng, học “vẹt”.
Tác dụng:
Phù hợp với tâm lý HS, đơn giản, dễ hiểu thay cho việc ghi nhớ lí
thuyết bằng ghi nhớ dưới dạng sơ đồ hóa kiến thức.
Với cách thể hiện gần như cơ chế hoạt động của bộ não, SĐTD có thể
phục vụ một số mục đích. Ba trong số những mục đích chính là làm cho tư
duy trở nên nhìn thấy được qua sơ đồ là:
− Tìm hiểu những gì ta biết, giúp xác định những khái niệm then chốt,
thể hiện mối liên hệ giữa các ý tưởng và lập nên một mẫu có nghĩa từ những
gì ta biết và hiểu, do đó giúp ghi nhớ một cách bền vững.
− Trợ giúp lập kế hoạch cho một hoạt động hoặc một dự án thông qua
tổ chức và tập hợp các ý tưởng và thể hiện mối liên hệ giữa chúng.
− Trợ giúp đánh giá kinh nghiệm hoặc kiến thức thông qua quá trình
suy nghĩ về những yếu tố chính trong những gì đã biết hoặc đã làm.
Trong SĐTD, HS được tự do phát triển các ý tưởng, xây dựng mô hình
và thiết kế mô hình vật chất hoặc tinh thần để giải quyết những vấn đề thực
tiễn. Từ đó, cùng với việc hình thành được kiến thức, các kĩ năng tư duy (đặc