TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======
NGUYỄN THỊ LAN
MỘT SỐ BIỆN PHÁP MỞ RỘNG
VỐN TỪ CHO TRẺ 4 - 5 TUỔI
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG ĐỌC THƠ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp phát triển ngôn ngữ
HÀ NỘI, 2017
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà
Nội 2, các thầy cô giáo khoa Giáo dục Mầm non và các thầy cô giáo trong tổ
bộ môn phương pháp phát triển ngôn ngữ đã giúp đỡ em trong quá trình học
tập tại trường và tạo điều kiện cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới cô giáo - TS. Lê Thị
Thùy Vinh - người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong quá trình học tập,
nghiên cứu và giúp em hoàn thành khóa luận này.
Trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế.
Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để
đề tài được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Sinh viên
1.2.3. Khả năng hiểu nghĩa của từ của trẻ mầm non .........................................13
1.2.4. Đặc điểm vốn từ của trẻ 4 - 5 tuổi ...........................................................14
1.3. Vai trò của hoạt động đọc thơ .....................................................................15
1.3.1. Vai trò của thơ ca đối với trẻ mầm non ...................................................15
1.3.2. Vai trò của hoạt động đọc thơ đối với trẻ mầm non ...............................17
1.4. Cơ sở sinh lý và tâm lý của trẻ 4 - 5 tuổi....................................................19
1.4.1. Cơ sở sinh lý của trẻ 4 - 5 tuổi .................................................................19
1.4.2. Cơ sở tâm lý của trẻ 4 - 5 tuổi ..................................................................20
Chƣơng 2: BIỆN PHÁP MỞ RỘNG VỐN TỪ CHO TRẺ 4 - 5 TUỔI
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG ĐỌC THƠ .....................................................28
2.1. Thực trạng vốn từ của trẻ 4 - 5 tuổi tại tường mầm non Hoa Sen - Thành
phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc ..........................................................................28
2.2. Các biện pháp mở rộng vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi thông qua hoạt động đọc
thơ.........................................................................................................................31
2.2.1. Đàm thoại, giảng giải để trẻ hiểu về bài thơ ...........................................31
2.2.2. Đọc diễn cảm cho trẻ nghe và dạy cho trẻ học thuộc thơ ......................34
2.2.3. Sưu tầm các bài thơ theo từng chủ đề dạy học .......................................36
2.2.4. Sử dụng đồ dùng trực quan trong hoạt động đọc thơ .............................43
2.2.5. Sử dụng từ có cùng trường nghĩa.............................................................45
KẾT LUẬN ........................................................................................................45
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................46
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân,
bậc học đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, nhận thức, tình cảm xã
hội và thẩm mỹ của trẻ. Những kỹ năng mà trẻ tiếp thu được qua chương trình
học quan tâm nghiên cứu. Tác giả Nguyễn Xuân Khoa trong cuốn “Phát triển
ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” (2004) đã nghiên cứu rất kĩ sự phát triển ngôn
ngữ của trẻ mẫu giáo. Trên cơ sở những đánh giá chung về đặc điểm tâm sinh
lý của trẻ ở lứa tuổi này, dựa trên mối quan hệ của bộ môn ngôn ngữ học với
bộ môn khác ông đã đưa ra một số phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ
mầm non, trong đó bao gồm cả vấn đề phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ.
Nguyễn Xuân Khoa trong: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua thơ,
truyên (1979), cũng đề cập đến nội dung phương pháp nhằm hình thành và
phát triển vốn từ ngữ cho trẻ.
Cùng với Nguyễn Xuân Khoa, Đinh Hồng Thái trong cuốn “ Giáo trình
phương pháp phát triển lời nói trẻ em” (2007) đã viết rất chi tiết về lời nói
mạch lạc và các hình thức, phương pháp phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ
mẫu giáo.
Ngoài ra, vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non cũng được đề cập
trong những côn trình nghiên cứu của các tác giả khác như:
Nghiên cứu Phạm Thị Phú và Lê Thị Ánh Tuyết: “Phương pháp làm
quen với văn học ở trẻ mẫu giáo: Phương pháp và hình thức cho trẻ làm quen
với các tác phẩm văn học”.
Bên cạnh các công trình nghiên cứu chuyên sâu còn có các khóa luận
nghiên cứu như: Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Thùy Tiên, Trường
Đại học Tây Bắc, năm 2003: Biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi
thông qua thơ Phạm Hổ.
4
Tuy nhiên các nghiên cứu trên chỉ tập trung và các hình thức, biện pháp
để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ chứ chưa đi sâu và việc mở rộng vốn từ cho
trẻ thông qua hoạt động cụ thể là hoạt động đọc thơ trong trường mầm non.
Vì vậy đề tài này muốn đi sâu vào nghiên cứu một số biện pháp phát mở rộng
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài
được cấu trúc thành 2 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Biện pháp mở rộng vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi thông qua hoạt
động đọc thơ
6
NỘI DUNG
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.Từ và vấn đề mở rộng vốn từ
1.1.1.Từ
Từ là vấn đề được nhiều nhà Việt ngữ học quan tâm tìm hiểu. Cho
đến nay, đã có khoảng 300 định nghĩa về từ. Ở đây chúng tôi dựa trên quan
điểm về từ tiếng Việt của Đỗ Hữu Châu trong “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng
Việt”.
“ Từ của Tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến mang
những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất
định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt”.
1.1.2. Vốn từ
Vốn từ của một ngôn ngữ là “tổng số và hệ thống toàn bộ từ và cụm
từ cố định của ngôn ngữ đó”. Mỗi một ngôn ngữ phát triển có một khối lượng
từ phong phú có thể lên tới hàng chục vạn từ. Vốn từ vựng của một ngôn ngữ
bao gồm nhiều lớp từ, nhiều nhóm từ không đồng nhất và có đặc trưng khác
nhau. Trong vốn từ vựng của bất kỳ ngôn ngữ nào cũng tồn tại những từ mới
và những từ cũ, những từ phổ biến chung và những từ địa phương, những từ
chuẩn mực và những từ vay mượn, từ chuyên môn.
Ví dụ: Vốn từ của ngôn ngữ Tiếng Việt có nhiều từ vay mượn từ tiếng
lượng và chất lượng. Dạy trẻ không chỉ biết nhiều từ, mà còn phải hiểu từ, sử
dụng từ đúng, loại ra những từ không đẹp trong lời nói của trẻ, dạy trẻ biết
cách sử dụng một số biện pháp tu từ đơn giản trong giao tiếp hàng ngày.
Phát triển vốn từ được hiểu như là một quá trình lâu dài trẻ tích lũy
vốn từ, hiểu nghĩa của từ và hình thành cách sử dụng từ trong các tình huống
8
giao tiếp cụ thể. Trẻ chỉ lĩnh hội nghĩa của từ khi nào từ được sử dụng trong
câu, trong lời nói. Vì vậy, công tác phát triển vốn từ cần được tiến hành chặt
chẽ với việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc ở trẻ. Xem xét quá trình hình thành
và phát triển vốn từ ở trẻ, ta có thể thấy được trẻ lĩnh hội nghĩa cụ thể của từ
và nội dung khái niệm của từ, nó có liên quan đến quá trình nhận thức của trẻ;
đồng thời, trẻ còn lĩnh hội vốn từ như là một yếu tố của lời nói như cách sử
dụng từ, dùng từ thay thế, dùng từ có mức độ khác nhau, dùng từ trái nghĩa,
đồng nghĩa…, cách sử dụng từ trong câu.
Phát triển vốn từ có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển toàn diện
của trẻ. Lĩnh hội vốn từ là điều kiện quan trọng để phát triển trí tuệ và để giải
quyết nhiệm vụ tích lũy và chính xác hóa biểu tượng, hình thành khái niệm,
phát triển tư duy. Vốn từ nghèo nàn ảnh hưởng đến giao tiếp của trẻ. Cùng
với việc phát triển vốn từ, chúng ta thực hiện nhiệm vụ giáo dục đạo đức và
thẩm mỹ.
Do đó, công tác phát triển vốn từ là hoạt động giáo dục có chủ định,
có kế hoạch nhằm giúp trẻ lĩnh hội vốn từ có hiệu quả.
1.2. Đặc điểm vốn từ của trẻ mầm non
Ngôn ngữ là công cụ để trẻ giao tiếp, học tập và vui chơi. Ngôn ngữ
giữ vai trò quyết định sự phát triển của tâm lý trẻ em. Bên cạnh đo ngôn ngữ
còn là phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện bao gồm sự phát triển
về đạo đức, tư duy nhận thức và các chuẩn mực hành vi văn hoá.
một số từ đơn gần gũi: mẹ, bà, bố…
Từ 19 đén 21 tháng, số lượng từ tăng nhanh. Đến 21 tháng trẻ đạt
tới 220 từ. Giai đoạn 21 - 24 tháng, tốc độ chậm lại, chỉ đạt từ 234 vào tháng
24, sau đó lại tăng tốc: 30 tháng đạt từ 434 từ, 36 tháng đạt 486 từ.
10
Do nhu cầu được giao tiếp ngày càng cao nên khả năng ngôn ngữ
của trẻ cũng được nâng cao dần theo độ tuổi. Một số nhà khoa học có đưa ra
các số liệu như sau:
N.D.LEVITOP:
3-5 tuổi
1000 từ
YU.U.Pratuxevich:
4-5 tuổi
1900 – 2500 từ
M. Becgiơrông:
3-5 tuổi
1222 từ
dần trong vốn từ của trẻ. Ban đầu chủ yếu là danh từ sau đó đến động từ và
tính từ; các loại từ khác xuất hiện muộn hơn.
Theo nhà nghiên cứu Lưu Thị Lan
Lứu tuổi
Từ loại/ tỉ lệ (%)
Danh từ
Tính từ
Trạng từ
3 tuổi
40,2%
7,8%
2,4%
5 tuổi
35,52%
8,64%
3,73%
6 tuổi
chỉ một con búp bê bất kỳ nào… (nghĩa biểu niệm ở mức độ thấp).
- Mức độ thứ hai của sự khái quát: Trẻ nắm được mức độ thứ hai của sự
khái quát, tức là tên gọi chung của những sự vật không cùng loại: “Quả” có
thể chỉ bất kỳ loại quả nào (Quả cam, đu đủ, chuối…). “Xe” có thể chỉ bất kỳ
loại xe nào (ô tô, xích lô…).
+ Cam, chuối, đu đủ: Mức độ thứ nhất của sự khái quát.
+ Quả: mức độ thứ hai của sự khái quát.
- Mức độ thứ ba của sự khái quát: Trẻ khoảng 5-6 tuổi có thể nắm được
mức độ thứ ba của sự khái quát: “đồ vật” có thể chỉ đồ chơi (búp bê, ôtô, máy
bay…), đồ gỗ (giường, tủ, bàn ghế…), đồ nấu bếp (nồi, bát, chảo…).
+ Búp bê: Mức độ thứ nhất của sự khái quát.
+ Đồ chơi: Mức độ thứ hai của sự khái quát.
+ Đồ vật: Mức độ thứ ba của sự khái quát.
- Mức độ thứ tư của sự khái quát: Là những biểu thị sự khái quát tối đa
như: Vật chất, hành động, trạng thái, chất lượng, số lượng, quan hệ, khái
niệm… Khả năng nắm được mức độ thứ tư của sự khái quát xuất hiện vào
13
tuổi thiếu niên. Trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi cũng có thể hiểu được một số khái
niệm mang tính khái quát ở mức độ 4 nhưng phải thường xuyên được làm
quen, hiểu được nghĩa của từ, được thực hành với những từ ngữ đó và gắn với
những tình huống cụ thể (từ hạnh phúc...).
1.2.4. Đặc điểm vốn từ của trẻ 4-5 tuổi
Sự phát triển ngôn ngữ gắn liền với sự mở rộng giao lưu của trẻ đối với
thế giới xung quanh, với con người, với đồ vật và thiên nhiên. Việc mở rộng
phạm vi tiếp xúc và các mối quan hệ xã hội giúp cho khả năng tri giác của
trẻ nhanh nhạy hơn. Khả năng nhận thức và ngôn ngữ của trẻ ở giai đoạn
4- 5 tuổi này có những bước tiến mới đáng kể. Ở thời kì này, trẻ hoàn thiện
Hư từ
Danh từ
291
40%
Động từ
230
30%
Tính từ
58
7,3%
Đại từ
25
2,7%
Số từ
17
1.3.1. Vai trò của thơ ca đối với trẻ mầm non
1.3.1.1. Thơ ca giúp trẻ cảm nhận cái hay cái đẹp trong tiếng nói dân tộc
Ngay từ khi lọt lòng trẻ được nghe tiếng hát ru của mẹ cũng là lần
đầu tiên trẻ được nghe giọng nói của con người - tiếng mẹ đẻ. Tuy đứa trẻ
15
chưa thể hiểu được những nội dung câu thơ mẹ hát nhưng lại dễ tiếp nhận
nhạc điệu, vần điệu của nó. Thật tuyệt khi một đứa trẻ bắt đầu học nói lại
được tiếp xúc với thơ ca, ngày qua ngày âm hưởng của nó cứ thấm dần vào
tâm hồn của trẻ. Lời hay ý đẹp của thơ ca sẽ giúp các cháu biết nói đúng, nói
hay, được miễn dịch khỏi thói ăn nói bừa bãi, thô lỗ, thói nói tục chửi bậy,
giúp trẻ gần hơn tới cái đẹp của tiếng mẹ đẻ.
1.3.1.2. Thơ ca làm giàu thế giới cảm xúc của trẻ
Thơ ca thể hiện thế giới nội tâm ở nhiều sắc thái, cung bậc khác
nhau. Có những câu thơ đọc lên nghe thật vui tai, thật sảng khoái. Ngược lại
có những câu thơ nghe sao mà da diết, day dứt lòng người. Những sắc thái
tình cảm đó đã khơi dậy ở trẻ những cảm xúc phong phú về con người, hun
đúc ở trẻ một tâm hồn nhạy cảm và giàu lòng nhân ái. Thơ ca giúp nuôi
dưỡng và phát huy những đặc tính vốn có của trẻ như dễ xúc động, dễ đồng
cảm khi tiếp xúc với con người và cảnh vật thế giới xung quanh. Đó là cái
vốn quý giá để sống và làm viếc cần cho mọi người. Nhiều công trình nghiên
cứu gần đây chứng minh rằng để có chất lượng cuộc sống cao và để thành đạt,
người ta không chỉ cần có chỉ số trí tuệ ( IQ) cao mà rất cần có hệ số cảm xúc
( EQ) cao. Một tâm hồn giàu cảm xúc, giàu lòng yêu thương đó là tâm hồn
của người biết hướng thiện, biết chia sẻ niềm vui nỗi buồn với mọi người.
Thơ ca là nguồn năng lượng dồi dào bồi bổ cho thế giới cảm xúc của trẻ khi
lớn lên trẻ luôn có được những trạng thái tinh thần lành mạnh, cân bằng giúp
thành đạt trong cuộc sống.
hưởng sâu sắc đến nhân cách mỗi con người.
Trẻ thơ có một tâm hồn rất nhạy cảm với cái đẹp. Đây là lứa tuổi bắt đầu
của sự nhận thức và những tình cảm mãnh liệt, các em yêu thơ, thích thơ và
có nhu cầu đọc thơ. Trẻ em đến với thơ ca bằng những rung động đầu tiên
ngọt ngào nhất, say mê nhất, những suy nghĩ phóng túng nhất. Chính vì vậy,
thơ ca có vai trò quan trọng góp phần hình thành và phát triển nhân cách trẻ.
17
Thơ là một phần của cuộc sống gợi lên cho trẻ những cảm xúc lành mạnh, thơ
giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh về con người, về cuộc sống xã hội
xung quanh trẻ. Vì vậy thơ góp phần giáo dục thẩm mỹ và phát triển ngôn
ngữ.
Lứa tuổi mầm non là tuổi đang "học ăn học nói". Vì vậy, chương trình
mầm non đã dành một tỷ lệ thời gian tương đối nhiều để dạy thơ ca và kể
chuyện cho trẻ em. Nhằm làm cho ngôn ngữ của trẻ em phát triển một cách
trong sáng và tốt đẹp, thông qua thơ ca và kể chuyện chọn lọc và phù hợp lứa
tuổi mầm non. Trẻ em sẽ được tiếp xúc với những lời hay, ý đẹp, được giáo
dục về mặt tình cảm, đạo đức xã hội, đồng thời khơi dậy mặt năng khiế u thảm
mỹ.
Ngôn ngữ nghệ thuật được sử dụng rộng rãi trong công tác giáo dục trẻ
em trước tuổi đi học. Các em thích được nghe những truyện cổ tích, thơ ca và
truyện kể dân gian. Một nội dung lý thú, một nguồn tưởng tượng giàu có,
những hình tượng nghệ thuật trong sáng là những cái lôi cuốn sự chú ý của
các em, đem lại cho các em nguồn vui và đồng thời có tác dụng giáo dục các
em.
Giá trị của những tác phẩm có ngôn ngữ nghệ thuật là ở chỗ chúng có
ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của trẻ em. Những truyện kể, truyện
dân gian, những bài thơ hiện thực là một trong các hình thức nhận thức thế
Học thuyết về các hệ thống tín hiệu đã khẳng định: Ngôn ngữ là hệ
thống tín hiệu thứ hai, là sự hoạt động đặc biệt của vỏ bán cầu đại não. Hệ
thống tín hiệu thứ hai có được nhờ những kích thích trừu tượng như ngôn
ngữ, lời nói, chữ viết… việc phát triển ngôn ngữ phải liên quan mật thiết đến
việc phát triển và hoàn thiện bán cầu đại não và hệ thần kinh nói chung.
Nhược điểm về vận động: Khả năng phân tiết, cấu tạo, cũng như khả
năng phối hợp vận động của cơ quan phát âm chưa tốt, vì vậy trẻ không thể
19
phát âm đúng ngay tất cả các âm thanh ngôn ngữ. Ngoài ra còn có nhược
điểm về tri giác: Do tri giác chưa tinh tế, khả năng chú ý còn yếu nên trẻ chưa
phân biệt được sự khác biệt tinh tế trong cách phát âm (luộc – luột). Trẻ chưa
chú ý đồng đều đến các thành phần trong âm tiết, cách sử dụng các từ trong
câu. Các âm tiết gần giống nhau, các âm đệm được đọc lướt, các từ không
được nhấn mạnh thường không được trẻ chú ý (xoài – xài, uống – uốn)…
Khả năng ghi nhớ của trẻ còn hạn chế, trẻ không nhớ hết các âm đã tiếp
thu, trật tự các từ trong câu, vì thế có hiện tượng trẻ bỏ bớt từ, bớt âm khi nói,
hay trật tự từ trong câu không chính xác. Tư duy của trẻ cũng vậy, cũng còn
khá hạn chế, kinh nghiệm sống và kinh nghiệm dùng từ của trẻ chưa được
luyện tập nhiều, vì vậy có hiện tượng trẻ dùng từ sai dẫn đến việc trẻ nói câu
sai.
Khả năng phát âm của trẻ tỉ lệ thuận theo lứa tuổi, trẻ càng lớn phát âm
càng chính xác và rõ ràng hơn. Tuy nhiên, trẻ ở đầu độ tuổi từ 4 – 5 tuổi có
cách phát âm chưa thật sự ổn định, ta vẫn có thể bắt gặp những hiện tượng nói
lắp, nói ngọng, thay thế những âm khó bằng những âm dễ như: rùa – dùa,
khuyếch khoác – khếch khác…và giọng của trẻ còn kéo dài, chưa gọn. Nhưng
khi bước sang cuối độ tuổi, trẻ phát âm có nhiều tiến bộ và phát âm đúng hầu
hết các hình thức âm thanh của ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ và phát âm đúng cả sáu
tương đối thành thạo và chơi với nhau trong nhóm bạn đã trở thành một nhu
cầu cấp bách. Đã chơi thì phải có vai nọ vai kia mới thú vị. Một trò chơi của
trẻ mẫu giáo nhỡ và lớn thường có nhiều vai hơn của trẻ mẫu giáo bé mặc dù
có thể cùng một chủ đề. Như vậy các quan hệ trong trò chơi của trẻ đã được
mở rộng hơn nhiều so với trẻ mẫu giáo bé. Vào cuối tuổi mẫu giáo, trẻ còn
biết liên kết các trò chơi theo các chủ đề khác nhau, làm cho các mối quan hệ
trở nên phong phú hơn. Quan hệ của trẻ ngày càng được đa dạng hơn chẳng
khác nào một xã hội người lớn thu nhỏ lại.
21
Ở tuổi mẫu giáo nhỡ và lớn việc chơi trong nhóm bạn bè là một nhu cầu
bức bách. Đặc biệt là nhu cầu giao tiếp với bạn bè đang phát triển rất mạnh.
Từ đó những " xã hội trẻ em " thực sự được hình thành. "Xã hội trẻ em " này
còn khác xa so với xã hội người lớn. Hợp rồi tan, tan rồi hợp, thực và chơi,
chơi và thực. Đó chính là nét độc đáo của cái xã hội ấy. Nhưng chính những
mối quan hệ xã hội đầu tiên trong nhóm bạn bè này lại có một ý nghĩa lớn lao
đối với cả đời người sau này.
Cấu trúc của cái " xã hội trẻ em " cũng rất phức tạp. Trong cái xã hội ấy
mỗi đứa trẻ có một vị trí nhất định. Vị trí đó được thể hiện ở chỗ bạn bè trong
nhóm đối xử với các em như thế nào. Vị trí trong nhóm bạn cùng tuổi ảnh
hưởng một cách sâu sắc đến sự phát triển nhân cách của trẻ.
Vào cuối tuổi mẫu giáo, đã bắt đầu xuất hiện vai trò "thủ lĩnh". Đó là đứa
trẻ được các bạn tôn sùng và vị nể nhất. Hiện tượng thủ lĩnh xuất hiện trong
nhóm bạn là điều làm cho người lớn phải đặc biệt quan tâm, không nên để
tình trạng chỉ có một em luôn luôn làm thủ lĩnh còn những đứa trẻ khác chỉ
biết phục tùng.
"Xã hội trẻ em" cũng dần dần hình thành những dư luận chung. Dư luận
chung thường được bắt nguồn từ những nhận xét của người lớn đối với trẻ