Một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ 5 – 6 tuổi - Pdf 41

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======

BÙI THỊ DIỆU LINH

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ
CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp phát triển ngôn ngữ

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học

TS. LÊ THỊ LAN ANH

HÀ NỘI, 2016


LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà
Nội 2, các thầy cô giáo khoa Giáo dục Mầm non đã giúp đỡ em trong quá
trình học tập tại trƣờng và tạo điều kiện cho em thực hiện khóa luận tốt
nghiệp.
Đặc biệt em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo T.s Lê Thị Lan Anh –
ngƣời đã tận tình hƣớng dẫn chỉ bảo em trong quá trình học tập, nghiên cứu
và hoàn thành khóa luận này.
Qua đây, em xin gửi đến Ban giám hiệu và các cô giáo trƣờng mầm non
xã Quỳnh Mỹ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, cùng các bạn trong khoa
Giáo dục Mầm non lời cảm ơn chân thành nhất.
Hà Nội, ngày 25 tháng 04 năm 2016

1.1.3 Cơ sở ngôn ngữ học ............................................................................... 11
1.1.4. Từ và vốn từ .......................................................................................... 13
1.2. Cơ sở thực tiễn ......................................................................................... 16
1.2.1. Thực trạng nhận thức và phát triển vốn từ cho trẻ 5 – 6 tuổi của giáo
viên .................................................................................................................. 16
1.2.2. Thực trạng vốn từ và hứng thú phát triển vốn từ của trẻ 5 – 6 tuổi ...... 16
1.2.3. Nguyên nhân của thực trạng ................................................................. 16
Chƣơng 2: CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO ....................... 18
TRẺ 5 – 6 TUỔI .............................................................................................. 18
2.1 Đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn ...................................... 18
2.1.1 Đặc điểm vốn từ của trẻ mầm non ......................................................... 18


2.1.2 Đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ 5 – 6 tuổi......................................... 24
2.2 Biện pháp................................................................................................... 25
2.2.1 Tạo môi trƣờng chữ................................................................................ 25
2.2.2 Mở rộng phạm vi tiếp xúc ...................................................................... 30
2.2.3 Sử dụng một số trò chơi ......................................................................... 31
2.2.4 Kết hợp với phụ huynh để phát triển vốn từ cho trẻ .............................. 35
Chƣơng 3: THỂ NGHIỆM SƢ PHẠM ........................................................... 37
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 58


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thế kỉ XXI, xu hƣớng toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của khoa
học công nghệ đang đặt ra nhiều yêu cầu với việc đào tạo nguồn nhân lực của
mỗi quốc gia. Ngƣời lao động trong thời đại mới phải có năng lực, trình độ,
tích cực chủ động sáng tạo và nhất là thế hệ trẻ phải đủ bản lĩnh, tri thức đặc

Ngay từ những năm tháng đầu tiên của cuộc đời, ngôn ngữ phát triển
rất mạnh mẽ, tạo ra những điều kiện, cơ hội để trẻ lĩnh hội những kinh nghiệm
lịch sử - xã hội của nền văn hóa loài ngƣời. Ngôn ngữ giúp trẻ tích lũy kiến
thức, phát triển tƣ duy, giúp trẻ giao tiếp đƣợc với mọi ngƣời xung quanh, là
phƣơng tiện giúp trẻ điều chỉnh, lĩnh hội những giá trị đạo đức mang tính
chuẩn mực. Ngày nay, trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ chúng ta càng
thấy rõ vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục – phát triển trọn ven nhân
cách trẻ.
Trẻ 5 – 6 tuổi là lứa tuổi chuẩn bị chuyển sang trƣờng tiểu học, đây là
bƣớc ngoặt quan trọng trong cuộc sống của trẻ. Vì trẻ phải chuyển qua một lối
sống mới với sự thay thế của hoạt động chủ đạo từ vui chơi sang học tập.
Hiện nay trẻ biết phát âm đúng tiếng mẹ đẻ, nói có ngữ điệu, đúng ngữ
pháp, biết biểu đạt ý nghĩ bằng ngôn ngữ, biết dùng ngôn ngữ làm phƣơng
tiện chính để tiếp xúc, giao lƣu… là hoàn toàn có thể đạt đƣợc ở lứa tuổi 5 – 6
tuổi. Nhƣng hiện nay ở các trƣờng mầm non, trẻ 5 – 6 tuổi nói ngọng còn rất
nhiều; vốn từ nghèo nàn, hạn chế, không diễn đạt đƣợc bằng lời suy nghĩ của
mình một cách mạch lạc. Đồng thời việc phát triển vốn từ cho trẻ cũng còn
nhiều khó khăn và hạn chế. Bản thân chúng tôi là những giáo viên mầm non
trong tƣơng lai thấy rằng việc phát triển vốn từ cho trẻ 5 – 6 tuổi đang là vấn
đề cấp bách.

2


Với tất cả những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp phát
triển vốn từ cho trẻ 5 – 6 tuổi”
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trẻ em luôn giành đƣợc rất nhiều sự quan tâm của gia đình, nhà trƣờng
và xã hội. Những vấn đề về trẻ em đã đƣợc các nhà nghiên cứu khoa học hết
sức quan tâm. Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo đặc biệt là mẫu giáo lớn

non. Trong đó cũng có khá nhiều bài viết về vấn đề phát triển ngôn ngữ và
vốn từ cho trẻ mầm non. Trong tạp chí Giáo dục mầm non số 1/2006, tác giả
Đinh Thị Uyên có bài dịch tìm hiểu về chƣơng trình phát triển ngôn ngữ cho
trẻ mầm non Hàn Quốc. Đây là một góc nhìn mở cho nền giáo dục mầm non
Việt Nam hiện nay.
Đứng trên phƣơng diện một nhà giáo dục học, một nhà tâm lí học, tác
giả Nguyễn Ánh Tuyết đã nghiên cứu ý nghĩa của truyện cổ tích trong việc
bồi dƣỡng cảm xúc lành mạnh và trong sáng góp phần giáo dục đạo đức cho
trẻ trong cuốn “Giáo dục mầm non, những vấn đề lí luận thực tiễn”, năm
2007, NXB Đại học Sƣ phạm.
Không dừng ở đó, tác giả Đinh Hồng Thái trong cuốn “Phát triển ngôn
ngữ tuổi mầm non”, NXB Đại học Sƣ phạm, năm 2014, cũng chú trọng đến
dạy nói cho trẻ, phát triển ngôn ngữ thông qua các thành phần của ngữ pháp
tiếng Việt, phát triển lời nói mạch lạc, phát triển vốn từ nghệ thuật cho trẻ qua
các tác phẩm văn học để tạo tiền đề tốt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một.
Nhƣ vậy, vấn đề này đã đƣợc rất nhiều nhà nghiên cứu tâm lí, ngôn ngữ
quan tâm, tuy nhiên chƣa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu về việc phát triển
vốn từ cho riêng trẻ lứa tuổi mẫu giáo lớn. Và chính vì thế chúng tôi đi nghiên
cứu về vấn đề này.

4


3. Mục đích nghiên cứu
Chúng tôi nghiên cứu vấn đề này nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 5-6
tuổi
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài: Một số biện pháp phát triển vốn từ
4.2. Phạm vi


Phƣơng pháp tổng hợp

5


7. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Nội dung khóa luận đựơc chia thành 3
chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc đề xuất một số biện pháp phát
triển vốn từ cho trẻ 5 – 6 tuổi (Trƣờng mầm non xã Quỳnh Mỹ, huyện Quỳnh
Phụ, tỉnh Thái Bình)
Chƣơng 2: Những biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ 5 – 6 tuổi
Chƣơng 3: Thể nghiệm sƣ phạm

6


NỘI DUNG
Chƣơng 1:CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ĐỀ XUẤT
MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1. Cơ sở tâm lí
Trẻ 5 – 6 tuổi là giai đoạn cuối cùng của trẻ em ở lứa tuổi mầm non.
Ở giai đoạn này, nhiều cấu tạo tâm lí đặc trƣng của con ngƣời đã đƣợc hình
thành trƣớc đây, đặc biệt trong độ tuổi mẫu giáo lớn vẫn tiếp tục phát triển
mạnh.
Con ngƣời khác xa với con vật nhờ có ngôn ngữ. Ngôn ngữ vừa là
phƣơng tiện vừa là điều kiện để con ngƣời giao lƣu. Trong hoạt động học tập,
ngôn ngữ là công cụ có giá trị, có tác dụng vô cùng to lớn. Ngôn ngữ vừa là

tập trung chú ý trở nên bền vững hơn. Ghi nhớ của trẻ 5 – 6 tuổi cũng ngày
càng có tính chủ định hơn so với trẻ 3 – 4 tuổi. Tuy vậy cho đến tuổi mẫu giáo
lớn (5 – 6 tuổi) các quá trình tâm lí không chủ định vẫn chiếm ƣu thế trong
hoạt động tâm lí của trẻ, ngay cả hoạt động trí tuệ.
Đặc điểm tâm lí của trẻ trong việc phát triển ngôn ngữ:
- Đặc điểm về vốn từ
Vốn từ của trẻ tăng nhanh khoảng từ 1300 – 2000 từ. Danh từ và
động từ trẻ vẫn chiếm ƣu thế, tính từ và các loại từ khác trẻ đã sử dụng nhiều
hơn.
Trẻ đã sử dụng chính xác các từ chỉ tính chất không gian nhƣ: Cao
thấp, dài ngắn, rộng hẹp; các từ chỉ tốc độ nhƣ: nhanh – chậm; các từ chỉ màu
sắc: đỏ, vàng, trắng, đen. Ngoài ra các từ có khái niệm tƣơng đối nhƣ: hôm
qua, hôm nay, ngày mai trẻ dùng chƣa chính xác. Một số trẻ biết sử dụng các
từ chỉ màu sắc nhƣ: xám, xanh lá cây, tím, da cam. 100% trẻ biết sử dụng các

8


từ cao thấp, dài, ngắn, rộng, hẹp; 55% số trẻ đếm đƣợc từ 1 – 10, tuy nhiên trẻ
sử dụng một số từ còn chƣa chính xác.
Ví dụ: Mẹ có mót ngồi không? (mót thay cho từ muốn)
Phát triển vốn từ cho trẻ là việc tổ chức có kế hoạch, có khoa học
nhằm cung cấp,làm giàu vốn từ, nâng cao khả năng hiểu nghĩa của từ, củng cố
và tích cực hóa vốn từ cho trẻ, giúp trẻ biết vận dụng phù hợp vốn từ đó trong
hoạt động giao tiếp.
1.1.2. Cơ sở sinh lí
Cho đến lúc ra đời, não bộ của trẻ chƣa phát triển đầy đủ, mặc dù
hình thái và cấu tạo giải phẫu của nó không khác với não của ngƣời lớn là
mấy. Ở trẻ sơ sinh, não bộ có kích thƣớc nhỏ, khoảng 370 – 392 gam (1/8 – 1/
9 trọng lƣợng cơ thể). Trong 9 năm đầu, trọng lƣợng não ngƣời tăng lên mạnh

Cùng với thời gian, quá trình học tập, rèn luyện một cách có hệ thống sẽ làm
cho bộ máy phát âm đáp ứng đƣợc nhu cầu thực hiện các chuẩn mực âm
thanh ngôn ngữ. Cấu tạo bộ máy phát âm gồm: dây thanh và các hộp cộng
hƣởng phía trên thanh hầu. Âm sắc và tiếng nói do tính chất của âm xác định
và phụ thuộc vào các khoang cộng hƣởng của phần trên các bộ phận thanh
quản, họng, khoang miệng, mũi. Bộ máy phát âm của trẻ chƣa phát triển đầy
đủ, các bộ phận tạo thành tiếng nói chƣa liên kết chặt chẽ nên trẻ phát âm còn
chƣa chuẩn, không chính xác. Do đó, việc nghiên cứu bộ máy phát âm để tìm
hiểu vốn từ của trẻ 5 – 6 tuổi hoàn toàn có cơ sở và mang tính khoa học.
Ở cuối tuổi mẫu giáo lớn, do việc giao tiếp bằng ngôn ngữ đƣợc mở
rộng trong những năm trƣớc đây, tai nghe âm vị đƣợc rèn luyện thƣờng xuyên
để tiếp nhận các ngữ âm khi đang nghe ngƣời lớn nói, mặt khác cơ quan phát
âm đã trƣởng thành đến mức trẻ có thể phát âm tƣơng đối chuẩn kể cả những
âm khó của tiếng mẹ đẻ khi nói năng. Trẻ mẫu giáo lớn đã biết sử dụng ngữ
điệu một cách phù hợp với nội dung giao tiếp.

10


1.1.3 Cơ sở ngôn ngữ học
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phƣơng tiện giao tiếp
cơ bản và quan trọng nhất của các thành viên trong một cộng đồng ngƣời.
Ngôn ngữ đồng thời cũng là phƣơng tiện phát triển tƣ duy truyền đạt truyền
thống văn hóa – lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác. Lenin đã từng khẳng
định: “Con người muốn tồn tại thì phải gắn bó với cộng đồng. Giao tiếp là
một hoạt động đặc trưng của con người. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp
quan trọng nhất.” Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong cuộc sống con ngƣời, nhờ
ngôn ngữ mà con ngƣời có thể trao đổi với nhau những hiểu biết, truyền cho
nhau những kinh nghiệm, tâm sự với nhau những nỗi niềm thầm kín. Không
có ngôn ngữ, con ngƣời không thể giao tiếp đƣợc, thậm chí không thể tồn tại

đầu tiên trẻ phản ánh những đặc trƣng của sự vật, hiện tƣợng. Càng lớn, trẻ
em càng có nhiều vốn từ thể hiện đặc điểm của sự vật, hiện tƣợng bằng từ
ngữ. Vốn từ của trẻ mẫu giáo có khối lƣợng nhỏ hơn rất nhiều so với số lƣợng
vốn từ của ngƣời lớn vì khối lƣợng tri thức của trẻ còn quá chật hẹp. Vì thế
mở rộng vốn từ cho trẻ phải dựa vào sự mở rộng nhận thức cho trẻ. Vốn từ
chủ động là vốn từ mà chủ thể nói năng sử dụng một cách tích cực trong giao
tiếp. Vốn từ thụ động là vốn từ mà chủ thể nói năng có thể hiểu nhƣng không
biết cách sử dụng trong giao tiếp. Vốn từ chủ động của trẻ mẫu giáo ít hơn so
với vốn từ thụ động, vì thế tích cực hóa vốn từ là chuyển vốn từ thụ động
sang vốn từ chủ động cho trẻ. Vốn từ cơ bản gồm những từ ngữ có tần số xuất
hiện cao, vì thế dạy trẻ em phải dạy cho trẻ vốn từ vựng cơ bản vì chỉ khi đó
trẻ mới có thể giao tiếp tốt hơn. Vốn từ ngữ phong phú, chính xác sẽ giúp trẻ
dễ dàng định hƣớng trong không gian.
Để dạy trẻ ngôn ngữ nhƣ một phƣơng tiện giao tiếp thì ngƣời giáo
viên không thể không tìm hiểu vốn từ của trẻ. Trong ngôn ngữ, từ là quan
trọng nhất, là vật liệu trực tiếp để tạo ý, tạo lời và tạo câu. Ở tuổi mẫu giáo trẻ
phải nắm đƣợc một vốn từ cần thiết đủ để chúng có thể giao tiếp đƣợc với bạn

12


bè, ngƣời lớn, tiếp thu các tri thức ban đầu trong trƣờng mầm non, chuẩn bị
học tập ở trƣờng phổ thông; xem các chƣơng trình truyền hình, truyền
thanh… Vì thế giáo dục học mẫu giáo coi việc hình thành và phát triển vốn từ
là một nhiệm vụ quan trọng trong nội dung giáo dục trẻ. Phát triển vốn từ
đƣợc hiểu nhƣ một quá trình lâu dài của việc lĩnh hội vốn từ mà con ngƣời đã
lĩnh hội đƣợc trong lịch sử. Nó bao gồm hai mặt: tích lũy số lƣợng (tăng dần
số từ tích cực) và nâng cao chất lƣợng (lĩnh hội dần dần nội dung xã hội tích
lũy trong từ, nó là sự phản ánh kết quả của nhận thức).
1.1.4. Từ và vốn từ

ngữ nào đó cũng đều có từ mới và từ cũ, những từ phổ biến chung, những từ
văn hóa (là những từ ngữ chuẩn mực), những từ chuyên môn hay từ vay
mƣợn.
Vốn từ vựng của một ngôn ngữ và vốn từ của cá nhân sử dụng có
quan hệ bao hàm. Cụ thể, vốn từ của cá nhân đƣợc hiểu là bộ phận của vốn từ
chung. Vốn từ của một cá nhân là toàn bộ các từ và đơn vị tƣơng đƣơng từ tồn
tại trong trí óc của cá nhân đó và đƣợc cá nhân đó sử dụng trong hoạt động
giao tiếp. Vốn từ của cá nhân đƣợc tích lũy trong đầu óc một ngƣời còn vốn
từ vựng của ngôn ngữ, theo cách nói của F.de.Saussure đƣợc lƣu giữ “trong
các bộ óc của một tập thể… những ngƣời cùng một cộng đồng ngôn ngữ”.
Vốn từ đƣợc tích lũy trong đầu óc con ngƣời không phải là một mớ
hỗn tạp mà đƣợc tổ chức thành hệ thống gồm nhiều đơn vị ngôn ngữ có nét
chung về hình thức hoặc nội dung, khiến con ngƣời đứng trƣớc một đơn vị
nào đó có thể dễ dàng nghĩ đến , liên tƣởng đến những đơn vị khác cùng hệ
thống. Có thể nói, từ ngữ tồn tại trong đầu óc con ngƣời là một hệ thống (hệ
thống lớn bao gồm nhiều hệ thống nhỏ thuộc các tầng bậc, cấp bậc khác
nhau). Nhờ đó từ mới đƣợc tích lũy nhanh chóng và đƣợc sử dụng một cách
dễ dàng. Số lƣợng từ của một ngôn ngữ, một dân tộc rất lớn nhƣng vốn từ của

14


từng cá nhân thuộc dân tộc đó có thể không nhiều. Vốn từ của từng cá nhân
có đƣợc tùy thuộc vào sự phát triển trí tuệ nhận thức, văn hóa, kinh nghiệm
sống của cá nhân đó.
Theo nghiên cứu của các nhà tâm lí học ngôn ngữ, ngƣời có trình độ
học vấn trung bình có vốn từ khoảng 25000 từ [11; 91]. Dựa vào tần suất sử
dụng từ trong đời sống xã hội, ngƣời ta chia vốn từ thành vốn từ tích cực và
vốn từ thụ động. Vốn từ tích cực là những từ sử dụng hàng ngày, những từ có
tần suất sử dụng cao, đƣợc con ngƣời nắm vững và sử dụng trong lời nói,

Mục đích khảo sát

-

Khảo sát nhận thức của giáo viên về nhiệm vụ phát triển vốn từ cho trẻ

trong các lĩnh vực phát triển vốn từ.
Khảo sát nội dung và các phƣơng pháp dạy học thƣờng sử dụng để phát

-

triển vốn từ cho trẻ 5 – 6 tuổi.
Khảo sát những đề xuất của giáo viên để nâng cao chất lƣợng phát triển

-

vốn từ cho trẻ 5 – 6 tuổi.
b. Đối tượng khảo sát
Giáo viên trƣờng mầm non xã Quỳnh Mỹ: 12 ngƣời
1.2.2. Thực trạng vốn từ và hứng thú phát triển vốn từ của trẻ 5 – 6 tuổi
a. Thực trạng vốn từ
-

Vốn từ của trẻ còn rất nghèo nàn

-

Trẻ chƣa biết sử dụng từ đã học

-

Phƣơng pháp lên lớp của giáo viên: Đa số giáo viên sử dụng phƣơng

pháp truyền thống trong giảng dạy. Phƣơng pháp lên lớp của giáo viên chủ
yếu là giảng giải, vì vậy, trong giờ học ít phát huy đƣợc tính tích cực, tự giác
và hứng thú học tập của học sinh. Từ đó làm giảm bớt hiệu quả của việc phát
triển vốn từ cho trẻ.
-

Các hình thức tổ chức dạy học của giáo viên còn đơn điệu, chƣa phong

phú, sinh động, hấp dẫn; chƣa chú ý đến việc phát triển vốn từ cho trẻ; chƣa
vận dụng hiệu quả các hình thức dạy học mới: thảo luận nhóm, trò chơi học
tập,…
b.

Nguyên nhân từ phía trẻ

-

Vốn từ của trẻ còn nghèo nàn, chƣa phong phú, ít về số lƣợng, còn

khiếm khuyết về chất lƣợng.
-

Học sinh chƣa thực sự hứng thú, say mê với các giờ học, các hoạt động

của cô.
Nhƣ vậy, chúng tôi đã tìm hiểu thực trạng phát triển vốn từ cho trẻ 5
– 6 tuổi. Chúng tôi đã tìm hiểu lí do dẫn đến thực trạng trên và đây cũng
chính là cơ sở thực tiễn quan trọng để chúng tôi đề xuất một số biện pháp phát

Khi trẻ đƣợc 7 – 8 tháng, trẻ bắt đầu biết tên mình.

18


Đến 10 – 11 tháng, trẻ bắt đầu hiểu một số từ chỉ các sự vật, ngƣời
mà trẻ thƣờng xuyên đƣợc tiếp xúc.
Từ 12 tháng trở đi, nhu cầu giao tiếp của trẻ với thế giới xung quanh
ngày càng tăng lên, bên cạnh các âm bập bẹ xuất hiện các từ chủ động đầu
tiên. Ở 18 tháng tuổi, số từ bình quân là 11 từ, trẻ bắt chƣớc ngƣời lớn học lại
một số từ đơn gần gũi nhƣ: mẹ, bà, bố…
Từ 19 – 21 tháng, môi trƣờng tiếp xúc của trẻ đƣợc mở rộng, trẻ
đƣợc làm quen với nhiều sự vật, hiện tƣợng hơn, số lƣợng từ của trẻ tăng lên
rõ rệt. Đến 21 tháng, trẻ đạt tới 220 từ. Giai đoạn 21 – 24 tháng, tốc độ chậm
lại, chỉ đạt 234 từ. Vào tháng 24, sau đó tăng tốc: 30 tháng đạt 434 từ, 36
tháng đạt 486 từ.
Nhu cầu giao tiếp với mọi ngƣời xung quanh ngày càng cao, điều đó
thúc đẩy quá trình tiếp thu ngôn ngữ của trẻ. So với tuổi nhà trẻ (0 – 3 tuổi),
trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo (3 – 6 tuổi) có số lƣợng từ nhiều hơn hẳn. Về số lƣợng
từ của trẻ mẫu giáo, các nhà ngôn ngữ học và tâm lí học có đƣa ra các số liệu
khác nhau:
N.D.Levitop:

3- 5 tuổi

1000 từ

YU.U.Pratuxevich

4 – 5 tuổi

từ và động từ. Hầu hết các loại từ đã xuất hiện trong vốn từ của trẻ.
Từ 5 – 6 tuổi, vốn từ của trẻ tăng bình quân đến 1033 từ, tính từ và
các loại từ khác đã chiếm tỉ lệ cao hơn.
Tốc độ tăng vốn từ ở các độ tuổi khác nhau, chậm dần theo độ tuổi.
Cuối 3 tuổi so với đầu 3 tuổi vốn từ tăng 10,7%; cuối 4 tuổi so với đầu 4 tuổi
vốn từ tăng 40,58%; cuối 5 tuổi so với đầu 5 tuổi vốn từ của trẻ chỉ tăng
10,40%; cuối 6 tuổi so với đầu 6 tuổi, vốn từ của trẻ cũng chỉ tăng 10,01% [6;
Tr.77].
Mặc dù số lƣợng từ của trẻ mẫu giáo do các nhà tâm lí học, ngôn ngữ
học đƣa ra không khớp nhau, nhƣng sự chênh lệch không lớn lắm; bởi lẽ số
lƣợng từ của trẻ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau trong đó quan trọng
nhất là tác động của môi trƣờng nhƣ sự tiếp xúc ngôn ngữ thƣờng xuyên với
những ngƣời xung quanh, trình độ của bố mẹ,…
2.1.1.2. Vốn từ xét về mặt cơ cấu từ loại
Cơ cấu từ loại trong vốn từ của trẻ là một tiêu chí để đánh giá chất
lƣợng vốn từ. Số lƣợng từ loại càng nhiều bao nhiêu thì càng tạo điều kiện
cho trẻ diễn đạt thuận lợi bấy nhiêu. Các loại từ xuất hiện dần dần trong vốn
từ của trẻ. Theo Xtecno, ban đầu củ yếu là danh từ, sau đó đến động từ và tính
từ; các loại từ khác xuất hiện muộn hơn.
Theo nhà nghiên cứu Lê Thị Lan, trẻ mẫu giáo có tỉ lệ các từ loại nhƣ
tính từ, trạng từ, quan hệ từ đƣợc tăng lên, động từ giảm đi so với lứa tuổi nhà
trẻ.

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status