ột số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ 5 – 6 tuổi - Pdf 41

Header Page 1 of 16.

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======

BÙI THỊ DIỆU LINH

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ
CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp phát triển ngôn ngữ

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học

TS. LÊ THỊ LAN ANH

HÀ NỘI, 2016

Footer Page 1 of 16.


Header Page 2 of 16.

LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà
Nội 2, các thầy cô giáo khoa Giáo dục Mầm non đã giúp đỡ em trong quá
trình học tập tại trƣờng và tạo điều kiện cho em thực hiện khóa luận tốt
nghiệp.
Đặc biệt em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo T.s Lê Thị Lan Anh –

MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 3
3. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 5
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu................................................................. 5
5. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 5
6. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................... 5
7. Cấu trúc khóa luận ........................................................................................ 6
NỘI DUNG ....................................................................................................... 7
Chƣơng 1:CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ĐỀ XUẤT MỘT
SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI .................. 7
1.1 Cơ sở lí luận ................................................................................................ 7
1.1.1. Cơ sở tâm lí ............................................................................................. 7
1.1.2. Cơ sở sinh lí ............................................................................................ 9
1.1.3 Cơ sở ngôn ngữ học ............................................................................... 11
1.1.4. Từ và vốn từ .......................................................................................... 13
1.2. Cơ sở thực tiễn ......................................................................................... 16
1.2.1. Thực trạng nhận thức và phát triển vốn từ cho trẻ 5 – 6 tuổi của giáo
viên .................................................................................................................. 16
1.2.2. Thực trạng vốn từ và hứng thú phát triển vốn từ của trẻ 5 – 6 tuổi ...... 16
1.2.3. Nguyên nhân của thực trạng ................................................................. 16
Chƣơng 2: CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO ....................... 18
TRẺ 5 – 6 TUỔI .............................................................................................. 18
2.1 Đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn ...................................... 18
2.1.1 Đặc điểm vốn từ của trẻ mầm non ......................................................... 18

Footer Page 4 of 16.


Header Page 5 of 16.

nhà sƣ phạm Nga ChiKhieva E.L nói rằng: “Ngôn ngữ là công cụ của tư duy,
là chìa khóa để nhận thức, là vũ khí để chiếm lĩnh kho tàng văn hóa của dân
tộc, của nhân loại.”
Phát triển ngôn ngữ là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của
giáo dục mầm non. Ngôn ngữ là công cụ, phƣơng tiện để trẻ giao tiếp, nói lên
nhu cầu của bản thân, là cầu nối giữa trẻ với bạn bè, cô giáo, gia đình cũng
nhƣ xã hội. Ngôn ngữ là thành tựu lớn nhất của con ngƣời – là một hệ thống
tín hiệu đặc biệt. Đồng thời, ngôn ngữ cũng là phƣơng tiện giao tiếp quan
trọng nhất của các thành viên trong xã hội loài ngƣời. Nhờ có ngôn ngữ con
ngƣời có thể trao đổi cho nhau những hiểu biết, những kinh nghiệm, bày tỏ
với nhau những nguyện vọng, ý muốn và cùng nhau thực hiện những dự định
tƣơng lai.

1

Footer Page 6 of 16.


Header Page 7 of 16.

Trên con đƣờng tiến lên chủ nghĩa xã hội, một nền giáo dục xã hội chủ
nghĩa cần đào tạo những con ngƣời hoàn thiện về mọi mặt. Trong đó phát
triển vốn từ cũng là điều vô cùng quan trọng, vốn từ là nền móng để phát triển
ngôn ngữ. Vốn từ đƣợc sử dụng trong lời nói đƣợc coi là một phƣơng tiện tác
động rất tinh tế đến hệ thống xây dựng môi trƣờng sƣ phạm có định hƣớng,
bởi trong ngôn ngữ nói không chỉ có thông tin mà có cả ý nghĩ tình cảm.
Ngay từ những năm tháng đầu tiên của cuộc đời, ngôn ngữ phát triển
rất mạnh mẽ, tạo ra những điều kiện, cơ hội để trẻ lĩnh hội những kinh nghiệm
lịch sử - xã hội của nền văn hóa loài ngƣời. Ngôn ngữ giúp trẻ tích lũy kiến
thức, phát triển tƣ duy, giúp trẻ giao tiếp đƣợc với mọi ngƣời xung quanh, là

không còn là một đề tài mới mẻ, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu ở
nhiều khía cạnh khác nhau và đã đƣợc xã hội ghi nhận.
Năm 2003, tác giả Nguyễn Xuân Khoa đã cung cấp những tri thức cơ
bản và tiếng Việt trong hai tập “Tiếng Việt”, NXB Đại học Sƣ phạm; từ đó
giúp giáo viên mầm non có vốn kiến thức cơ bản phục vụ tốt việc phát triển
ngôn ngữ mẹ đẻ cho trẻ mầm non.
Trong cuốn “Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo”, NXB Đại học Sƣ
phạm, năm 2004, Nguyễn Xuân Khoa cũng đã nghiên cứu rất kĩ sự phát triển
ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo, trên cơ sở những đánh giá chung về đặc điểm sinh
lí của trẻ lứa tuổi này. Dựa trên mối quan hệ của bộ môn ngôn ngữ học với
những bộ môn khác, ông đã đƣa ra đƣợc một số phƣơng pháp phát triển ngôn
ngữ cho trẻ mầm non, trong đó bao gồm cả vấn đề phát triển vốn từ cho trẻ.
Ngoài ra, ông cũng đƣa ra các cách sửa lỗi phát âm và một số trò chơi nhằm
phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo.
Tiếp theo cuốn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi”,
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2005, các tác giả Hoàng Thị Oanh –
Phạm Thị Việt – Nguyễn Kim Đức đã nói lên tầm quan trọng của ngôn ngữ
trong việc giáo dục toàn diện cho trẻ và nêu sơ lƣợc nội dung, phƣơng pháp,
biện pháp để luyện phát âm, phát triển vốn từ, dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, phát
triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ trong cuốn sách “Phương pháp phát triển
ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2005.

3

Footer Page 8 of 16.


Header Page 9 of 16.

Và trong cuốn “Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non”, 2005, tác giả


3. Mục đích nghiên cứu
Chúng tôi nghiên cứu vấn đề này nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 5-6
tuổi
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài: Một số biện pháp phát triển vốn từ
4.2. Phạm vi
Chúng tôi xin đề xuất một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ 5 – 6 tuổi ở
trƣờng mầm non xã Quỳnh Mỹ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
- Đề xuất một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ 5 – 6 tuổi
- Thể nghiệm sƣ phạm
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong khóa luận này chúng tôi chủ yếu sử dụng một số phƣơng pháp
sau:
-

Phƣơng pháp điều tra

-

Phƣơng pháp thống kê

-

Phƣơng pháp so sánh

-



Header Page 12 of 16.

NỘI DUNG
Chƣơng 1:CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ĐỀ XUẤT
MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1. Cơ sở tâm lí
Trẻ 5 – 6 tuổi là giai đoạn cuối cùng của trẻ em ở lứa tuổi mầm non.
Ở giai đoạn này, nhiều cấu tạo tâm lí đặc trƣng của con ngƣời đã đƣợc hình
thành trƣớc đây, đặc biệt trong độ tuổi mẫu giáo lớn vẫn tiếp tục phát triển
mạnh.
Con ngƣời khác xa với con vật nhờ có ngôn ngữ. Ngôn ngữ vừa là
phƣơng tiện vừa là điều kiện để con ngƣời giao lƣu. Trong hoạt động học tập,
ngôn ngữ là công cụ có giá trị, có tác dụng vô cùng to lớn. Ngôn ngữ vừa là
công cụ thực hiện hóa tƣ duy, lĩnh hội tri thức vừa nói lên khả năng trí tuệ của
con ngƣời. Ngôn ngữ và tƣ duy có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tác động
qua lại lẫn nhau; tỉ mỉ, chu đáo thì sẽ tạo điều kiện cho tƣ duy phát triển tốt.
Đứng ở góc độ tâm lí học, các nhà ngôn ngữ thấy rằng việc tiếp thu
ngôn ngữ có nhiều điểm khác so với tiếp thu kiến thức trong các lĩnh vực
khác. Ngôn ngữ đƣợc hình thành rất sớm. Ngay từ giai đoạn hài nhi ở trẻ đã
hình thành những tiền đề của sự lĩnh hội ngôn ngữ. Nhu cầu giao tiếp với
ngƣời lớn ngày càng tăng làm nảy sinh khả năng nói của trẻ. Trẻ không có ý
thức về ngôn ngữ nhƣng bằng cách bắt chƣớc có tính chất bản năng, trẻ sẽ học
đƣợc cách nói của ngƣời lớn xung quanh mình.
Sự phát triển mọi mặt của trẻ mẫu giáo chƣa hoàn thiện, còn non nớt.
Hoạt động học tập đòi hỏi sự căng thẳng về trí tuệ và thể lực, đòi hỏi sự chú ý
có chủ định kéo dài, đòi hỏi sự hoạt động nhiều mặt của trẻ. Trẻ 5 – 6 tuổi,
chú ý không chủ định phát triển mạnh, chú ý có chủ định đã xuất hiện nhƣng

thấp, dài ngắn, rộng hẹp; các từ chỉ tốc độ nhƣ: nhanh – chậm; các từ chỉ màu
sắc: đỏ, vàng, trắng, đen. Ngoài ra các từ có khái niệm tƣơng đối nhƣ: hôm
qua, hôm nay, ngày mai trẻ dùng chƣa chính xác. Một số trẻ biết sử dụng các
từ chỉ màu sắc nhƣ: xám, xanh lá cây, tím, da cam. 100% trẻ biết sử dụng các

8

Footer Page 13 of 16.


Header Page 14 of 16.

từ cao thấp, dài, ngắn, rộng, hẹp; 55% số trẻ đếm đƣợc từ 1 – 10, tuy nhiên trẻ
sử dụng một số từ còn chƣa chính xác.
Ví dụ: Mẹ có mót ngồi không? (mót thay cho từ muốn)
Phát triển vốn từ cho trẻ là việc tổ chức có kế hoạch, có khoa học
nhằm cung cấp,làm giàu vốn từ, nâng cao khả năng hiểu nghĩa của từ, củng cố
và tích cực hóa vốn từ cho trẻ, giúp trẻ biết vận dụng phù hợp vốn từ đó trong
hoạt động giao tiếp.
1.1.2. Cơ sở sinh lí
Cho đến lúc ra đời, não bộ của trẻ chƣa phát triển đầy đủ, mặc dù
hình thái và cấu tạo giải phẫu của nó không khác với não của ngƣời lớn là
mấy. Ở trẻ sơ sinh, não bộ có kích thƣớc nhỏ, khoảng 370 – 392 gam (1/8 – 1/
9 trọng lƣợng cơ thể). Trong 9 năm đầu, trọng lƣợng não ngƣời tăng lên mạnh
mẽ. Chẳng hạn, trẻ đƣợc 6 tháng tuổi, trọng lƣợng của não tăng lên gấp đôi
lúc sơ sinh; trẻ 3 tuổi tăng gấp ba và đa số các tế bào thần kinh đã đƣợc biệt
hóa.
Học thuyết về các hệ thống tín hiệu đã khẳng định: Ngôn ngữ là hệ
thống tín hiệu thứ hai, là sự hoạt động đặc biệt của vỏ bán cầu đại não. Hệ
thống tín hiệu thứ hai có đƣợc nhờ những kích thích trừu tƣợng nhƣ ngôn

thanh ngôn ngữ. Cấu tạo bộ máy phát âm gồm: dây thanh và các hộp cộng
hƣởng phía trên thanh hầu. Âm sắc và tiếng nói do tính chất của âm xác định
và phụ thuộc vào các khoang cộng hƣởng của phần trên các bộ phận thanh
quản, họng, khoang miệng, mũi. Bộ máy phát âm của trẻ chƣa phát triển đầy
đủ, các bộ phận tạo thành tiếng nói chƣa liên kết chặt chẽ nên trẻ phát âm còn
chƣa chuẩn, không chính xác. Do đó, việc nghiên cứu bộ máy phát âm để tìm
hiểu vốn từ của trẻ 5 – 6 tuổi hoàn toàn có cơ sở và mang tính khoa học.
Ở cuối tuổi mẫu giáo lớn, do việc giao tiếp bằng ngôn ngữ đƣợc mở
rộng trong những năm trƣớc đây, tai nghe âm vị đƣợc rèn luyện thƣờng xuyên
để tiếp nhận các ngữ âm khi đang nghe ngƣời lớn nói, mặt khác cơ quan phát
âm đã trƣởng thành đến mức trẻ có thể phát âm tƣơng đối chuẩn kể cả những
âm khó của tiếng mẹ đẻ khi nói năng. Trẻ mẫu giáo lớn đã biết sử dụng ngữ
điệu một cách phù hợp với nội dung giao tiếp.

10

Footer Page 15 of 16.


Header Page 16 of 16.

1.1.3 Cơ sở ngôn ngữ học
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phƣơng tiện giao tiếp
cơ bản và quan trọng nhất của các thành viên trong một cộng đồng ngƣời.
Ngôn ngữ đồng thời cũng là phƣơng tiện phát triển tƣ duy truyền đạt truyền
thống văn hóa – lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác. Lenin đã từng khẳng
định: “Con người muốn tồn tại thì phải gắn bó với cộng đồng. Giao tiếp là
một hoạt động đặc trưng của con người. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp
quan trọng nhất.” Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong cuộc sống con ngƣời, nhờ
ngôn ngữ mà con ngƣời có thể trao đổi với nhau những hiểu biết, truyền cho

hiểu đƣợc ý nghĩa câu nói của ngƣời lớn. Trong công tác giáo dục mầm non,
ngƣời lớn càng phải có ý thức rèn luyện và phát triển ngôn ngữ cho trẻ một
cách thƣờng xuyên, liên tục ở mọi lúc, mọi nơi, mọi hoạt động.
Sống trong xã hội luôn phải giao tiếp, mà khi giao tiếp con ngƣời
phải sử dụng vốn từ của mình để biểu đạt với ngƣời xung quanh. Vốn từ cá
nhân phát triển thì ngôn ngữ cũng phát triển. Trong vốn từ của trẻ mẫu giáo,
đầu tiên trẻ phản ánh những đặc trƣng của sự vật, hiện tƣợng. Càng lớn, trẻ
em càng có nhiều vốn từ thể hiện đặc điểm của sự vật, hiện tƣợng bằng từ
ngữ. Vốn từ của trẻ mẫu giáo có khối lƣợng nhỏ hơn rất nhiều so với số lƣợng
vốn từ của ngƣời lớn vì khối lƣợng tri thức của trẻ còn quá chật hẹp. Vì thế
mở rộng vốn từ cho trẻ phải dựa vào sự mở rộng nhận thức cho trẻ. Vốn từ
chủ động là vốn từ mà chủ thể nói năng sử dụng một cách tích cực trong giao
tiếp. Vốn từ thụ động là vốn từ mà chủ thể nói năng có thể hiểu nhƣng không
biết cách sử dụng trong giao tiếp. Vốn từ chủ động của trẻ mẫu giáo ít hơn so
với vốn từ thụ động, vì thế tích cực hóa vốn từ là chuyển vốn từ thụ động
sang vốn từ chủ động cho trẻ. Vốn từ cơ bản gồm những từ ngữ có tần số xuất
hiện cao, vì thế dạy trẻ em phải dạy cho trẻ vốn từ vựng cơ bản vì chỉ khi đó
trẻ mới có thể giao tiếp tốt hơn. Vốn từ ngữ phong phú, chính xác sẽ giúp trẻ
dễ dàng định hƣớng trong không gian.
Để dạy trẻ ngôn ngữ nhƣ một phƣơng tiện giao tiếp thì ngƣời giáo
viên không thể không tìm hiểu vốn từ của trẻ. Trong ngôn ngữ, từ là quan
trọng nhất, là vật liệu trực tiếp để tạo ý, tạo lời và tạo câu. Ở tuổi mẫu giáo trẻ
phải nắm đƣợc một vốn từ cần thiết đủ để chúng có thể giao tiếp đƣợc với bạn

12

Footer Page 17 of 16.


Header Page 18 of 16.

Footer Page 18 of 16.


Header Page 19 of 16.

Vốn từ là khối từ ngữ cụ thể, hoàn chỉnh (có đủ hình thức, chữ và nội
dung ngữ pháp) mà mỗi cá nhân tích lũy đƣợc trong kí ức của mình. Vốn từ
của từng ngƣời cụ thể, không ai giống ai. Vốn từ nhiều hay ít, đơn giản hay đa
dạng tùy thuộc vào kinh nghiệm sống, ở trình độ học vấn, ở sự giao tiếp giao
lƣu văn hóa ngôn ngữ của từng ngƣời. Mỗi một ngôn ngữ phát triển một số
lƣợng từ hết sức lớn và phong phú. Có thể lên tới hàng chục vạn, hàng triệu
từ.
Từ vựng của một ngôn ngữ bao gồm nhiều lớp từ, nhiều nhóm từ
không đồng nhất và có chất lƣợng khác nhau. Trong vốn từ ngữ của một ngôn
ngữ nào đó cũng đều có từ mới và từ cũ, những từ phổ biến chung, những từ
văn hóa (là những từ ngữ chuẩn mực), những từ chuyên môn hay từ vay
mƣợn.
Vốn từ vựng của một ngôn ngữ và vốn từ của cá nhân sử dụng có
quan hệ bao hàm. Cụ thể, vốn từ của cá nhân đƣợc hiểu là bộ phận của vốn từ
chung. Vốn từ của một cá nhân là toàn bộ các từ và đơn vị tƣơng đƣơng từ tồn
tại trong trí óc của cá nhân đó và đƣợc cá nhân đó sử dụng trong hoạt động
giao tiếp. Vốn từ của cá nhân đƣợc tích lũy trong đầu óc một ngƣời còn vốn
từ vựng của ngôn ngữ, theo cách nói của F.de.Saussure đƣợc lƣu giữ “trong
các bộ óc của một tập thể… những ngƣời cùng một cộng đồng ngôn ngữ”.
Vốn từ đƣợc tích lũy trong đầu óc con ngƣời không phải là một mớ
hỗn tạp mà đƣợc tổ chức thành hệ thống gồm nhiều đơn vị ngôn ngữ có nét
chung về hình thức hoặc nội dung, khiến con ngƣời đứng trƣớc một đơn vị
nào đó có thể dễ dàng nghĩ đến , liên tƣởng đến những đơn vị khác cùng hệ
thống. Có thể nói, từ ngữ tồn tại trong đầu óc con ngƣời là một hệ thống (hệ
thống lớn bao gồm nhiều hệ thống nhỏ thuộc các tầng bậc, cấp bậc khác

con đƣờng có ý thức (qua học tập). Phát triển vốn từ cho trẻ mầm non nhằm
mục đích hình thành vốn từ cho trẻ theo con đƣờng có ý thức thông qua hoạt
động học tập và vui chơi.
Vốn từ của trẻ là toàn bộ từ và ngữ cố định (thành ngữ, tục ngữ) mà
trẻ có đƣợc trong quá trình học tập, giao tiếp trong và ngoài nhà trƣờng. Trẻ
đã tích lũy đƣợc một số vốn từ nhờ giao tiếp trong môi trƣờng gia đình và
trƣờng mầm non. Nhƣng những từ trẻ tích lũy đƣợc còn lộn xộn, trẻ chƣa hiểu

15

Footer Page 20 of 16.


Header Page 21 of 16.

nghĩa từ chính xác và sắp xếp chƣa hệ thống nên trẻ thƣờng gặp rắc rối và gặp
trở ngại trong việc lựa chọn sử dụng từ.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Thực trạng nhận thức và phát triển vốn từ cho trẻ 5 – 6 tuổi của giáo
viên
a.

Mục đích khảo sát

-

Khảo sát nhận thức của giáo viên về nhiệm vụ phát triển vốn từ cho trẻ

trong các lĩnh vực phát triển vốn từ.
Khảo sát nội dung và các phƣơng pháp dạy học thƣờng sử dụng để phát

1.2.3. Nguyên nhân của thực trạng
a.

Nguyên nhân từ phía giáo viên

16

Footer Page 21 of 16.


Header Page 22 of 16.

-

Vốn từ của giáo viên còn hạn chế, chƣa thật phong phú, chƣa đáp ứng

yêu cầu để hƣớng dẫn trẻ mở rộng và phát triển vốn từ. Bên cạnh đó việc nắm
nghĩa từ của một số giáo viên còn hạn chế nên việc truyền đạt kiến thức cho
trẻ chƣa sâu.
-

Nhận thức của giáo viên về nhiệm vụ phát triển vốn từ cho trẻ còn chƣa

đầy đủ, chƣa chính xác.
-

Phƣơng pháp lên lớp của giáo viên: Đa số giáo viên sử dụng phƣơng

pháp truyền thống trong giảng dạy. Phƣơng pháp lên lớp của giáo viên chủ
yếu là giảng giải, vì vậy, trong giờ học ít phát huy đƣợc tính tích cực, tự giác

Footer Page 22 of 16.


Header Page 23 of 16.

Chƣơng 2: CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO
TRẺ 5 – 6 TUỔI
2.1 Đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn
2.1.1 Đặc điểm vốn từ của trẻ mầm non
Ngôn ngữ chính là một trong những phƣơng tiện thúc đẩy trẻ trở
thành một thành viên của xã hội loài ngƣời. Ngôn ngữ là một công cụ hữu
hiệu để trẻ có thể bày tỏ những nguyện vọng của mình từ khi còn rất nhỏ để
ngƣời lớn có thể chăm sóc, điều khiển giáo dục trẻ là một điều kiện quan
trọng để trẻ tham gia vào mọi hoạt động và trong hoạt động hình thành nhân
cách trẻ.
Lúc đầu, ngôn ngữ của trẻ chỉ là những từ riêng lẻ xuất phát từ sự
nhận thức thế giới xung quanh. Trẻ chƣa thể nói thành câu hoàn chỉnh. Qua
quá trình tiếp xúc với mọi ngƣời xung quanh, vốn từ của trẻ tăng lên, trẻ học
đƣợc cách nói của ngƣời lớn, lúc đó trẻ mới nói đƣợc câu hoàn chỉnh. Với
mỗi cá nhân, sự phát triển ngôn ngữ diễn ra rất nhanh ở giai đoạn 0 – 6 tuổi
(lứa tuổi mầm non). Từ chỗ sinh ra chƣa có ngôn ngữ, đến cuối 6 tuổi – chỉ
một khoảng thời gian rất ngắn so với cả đời ngƣời – trẻ đã có thể sử dụng
thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hàng ngày. Đây chính là giai đoạn phát
cảm về ngôn ngữ. Ở giai đoạn này nếu không có những điều kiện thuận lợi
cho sự phát triển ngôn ngữ thì sau này khó có thể phát triển tốt đƣợc.
2.1.1.1. Vốn từ xét về mặt số lượng
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ là một quá trình từ thấp đến cao với
các giai đoạn mang những đặc trƣng khác nhau tùy thuộc vào độ tuổi của trẻ.
Trẻ sơ sinh chƣa hiểu đƣợc ngôn ngữ của ngƣời lớn. Ở giai đoạn này,
trẻ mới bắt đầu cảm nhận ngữ điệu, giọng nói của ngƣời mẹ.


YU.U.Pratuxevich

4 – 5 tuổi

1900 – 2500 từ

M.Becgiorong:

3 – 5 tuổi

1222 từ

Theo nghiên cứu của Nguyễn Xuân Khoa về ngôn ngữ của trẻ nội
thành Hà Nội thì vốn từ của trẻ mẫu giáo là:
Trẻ 4 – 5 tuổi: 1900 – 2000 từ
Trẻ 5 tuổi

: 2500 – 2600 từ

Trẻ 6 tuổi

: 3000 – 4000 từ [4; Tr.136]

Còn theo thống kê của tác giả Đinh Hồng Thái, đến năm thứ ba, trẻ
đã sử dụng trên 500 từ, phần lớn là danh từ, động từ, tính từ và các loại từ
khác rất ít. Danh từ chỉ đồ dùng, đồ chơi quen thuộc, các con vật gần gũi nhƣ:

19



20

Footer Page 25 of 16.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status