LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời biết ơn chân thành nhất tới cô giáo – TS. Trần Thị Thanh
Hồng, đã hướng dẫn và giúp đỡ em tận tình trong suốt quá trình thực hiện đề
tài.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Phòng Nghiên cứu Khoa học và Quan
hệ Quốc tế, Phòng Đào tạo, Thư viện, Ban chủ nhiệm Khoa Tiểu học – Mầm
non, các bạn sinh viên lớp K53 Đại học giáo dục Tiểu học C đã tạo điều kiện
động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo và các em học sinh
Trường Tiểu học Điền Quang II, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa trong quá
trình điều tra, khảo sát, nghiên cứu và thể nghiệm của đề tài.
Sơn La, ngày 16 tháng 5 năm 2016
Người thực hiện
Trương Thị Dung
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BGD&ĐT- GDTH : Bộ Giáo dục và Đào tạo – Giáo dục tiểu học
ĐC
: đối chứng
GV
: giáo viên
HĐTQ
: hội đồng tự quản
HS
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ................................................................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................... 4
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu .................................................................. 5
5. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................... 5
6. Giả thuyết khoa học của đề tài .......................................................................... 5
7. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 5
8. Cấu trúc đề tài. .................................................................................................. 6
NỘI DUNG........................................................................................................... 7
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN.............................. 7
1.1. Cơ sở lí luận của đề tài ................................................................................... 7
1.1.1. Một số khái niệm liên quan tới đề tài .......................................................... 7
1.1.2. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu ....................................................... 8
1.2. Cơ sở thực tiễn ............................................................................................. 18
1.2.1. Khảo sát thực trạng mở rộng vốn từ cho HS lớp 3 qua Luyện từ và câu ở
Trường Tiểu học Điền Quang II huyện Bá Thước tỉnh Thanh Hóa ................... 18
1.2.2. Kết quả khảo sát ........................................................................................ 19
Tiểu kết ................................................................................................................ 27
CHƯƠNG 2: MỞ RỘNG VỐN TỪ QUA LUYỆN TỪ VÀ CÂU CHO HỌC
SINH LỚP 3 TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐIỀN QUANG II HUYỆN BÁ
THƯỚC TỈNH THANH HÓA ........................................................................ 28
2.1. Biện pháp luyện tập theo mẫu ...................................................................... 28
2.2. Biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan cơ bản trong giờ dạy Luyện từ và câu
để mở rộng vốn từ ............................................................................................... 29
2.2.1. Sử dụng tranh vẽ ....................................................................................... 30
2.2.2. Sử dụng bảng phụ ...................................................................................... 31
1. Lý do chọn đề tài
Trong các môn học ở bậc tiểu học, Tiếng Việt là môn học có vai trò hết sức
quan trọng. Các kiến thức kỹ năng của môn Tiếng Việt được ứng dụng nhiều
trong cuộc sống, với tư cách là môn học công cụ, môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học
bước đầu dạy cho học sinh những tri thức đơn giản, cần thiết bao gồm: ngữ âm,
chữ viết từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp, chính tả. Trên cơ sở đó rèn luyện các kỹ
năng nghe, đọc, viết, nhằm giúp học sinh sử dụng tiếng Việt có hiệu quả trong
học tập và giao tiếp từ đó giúp học sinh chuyển từ câu nói thành câu viết có cấu
trúc và ngữ pháp rõ ràng, chính xác, và tiếp thu được tinh hoa văn hóa nhân loại.
Đặc biệt ngôn ngữ là chìa khóa để chúng ta tiếp cận với thế giới xung
quanh, vì thế sự khác biệt về ngôn ngữ sẽ dẫn đến những khó khăn cơ bản trong
việc giao tiếp và Việt Nam là một quốc gia với 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc
đều mang một nét văn hóa riêng đặc biệt là việc sử dụng ngôn ngữ tuy nhiên ở
chức năng công cụ giao tiếp trong xã hội tiếng mẹ đẻ của các dân tộc thiểu số
thường hạn chế trong môi trường gia đình và sinh hoạt văn hóa truyền thống đây
là một trong những khó khăn làm tiếng Việt khó có điều kiện phát triển, trong
thực tế ở các vùng dân tộc - miền núi nước ta mà đặc biệt là huyện Bá Thước
của tỉnh Thanh Hóa tiếng phổ thông đã được phổ biến rộng rãi nhưng chất
lượng, trình độ sử dụng tiếng Việt của học sinh còn hạn chế đặc biệt là học sinh
tiểu học còn nhiều hạn chế và khó khăn trong việc sử dụng vốn từ. Điều này
được thể hiện rất rõ ràng qua việc nói và viết của các dân tộc ở đây đặc biệt là
dân tộc Mường.
Tuy nhiên hiện nay mặt bằng chung việc sử dụng tiếng Việt của học sinh
là tương đối thấp số học sinh viết rõ ràng, mạch lạc, không sai lỗi chính tả là
không nhiều,và có rất nhiều học sinh chưa biết sử dụng tiếng Việt một cách
thành thạo để diễn tả cảm xúc của mình : phát âm sai, dùng từ không chính xác,
dùng sai dấu câu… nguyên nhân chủ yếu là do vốn từ của HS còn nhiều hạn chế
1
từ ngữ, ngũ pháp như: vị trí, tính chất, nhiệm vụ, chương trình dạy học, cơ sở
2
khoa học, phương pháp dạy học của Từ ngữ và ngữ pháp. Đồng thời tác giả còn
hướng dẫn soạn giáo án, tiến trình lên lớp một giờ Từ ngữ và ngữ pháp. Tuy
nhiên, sách được xuất bản từ lâu mà chưa được bổ sung, chỉnh sửa cho phù hợp
với thực tế nên có nhiều vấn đề mới chưa được cập nhật. Đặc biệt từ khi Bộ giáo
dục có chương trình cải cách SGK cho HS Tiểu học thì phân môn này đổi thành
Luyện từ và câu.
Trong cuốn Dạy học Luyện từ và câu ở Tiểu học của thạc sĩ Đặng Thị Kim
Nga về phân môn Luyện từ và câu với các chủ đề, mục tiêu, nhiệm vụ, cơ sở
ngôn ngữ học, nội dung dạy học của phân môn Luyện từ và câu, đề cập đến sự
vận dụng các định hướng dạy học Tiếng Việt vào phân môn Luyện từ và câu,
đồng thời tác giả đã đưa ra một số phương pháp tổ chức dạy học Luyện từ và
câu, đây chính là cơ sở quan trọng để GV vận dụng vào dạy học Luyện từ và câu
cho phù phợp với đối tượng HS.
Dạy học Từ ngữ ở Tiểu học của tác giả Phan Thiều - Lê Hữu Tỉnh đã đi sâu
nghiên cứu về vị trí, nhiệm vụ, một số ưu điểm và hạn chế của chương trình và
tài liệu dạy học Từ ngữ ở Tiểu học. Ngoài ra các tác giả cũng đã nêu lên tình
hình dạy học Từ ngữ ở Tiểu học. Qua đó nêu lên phương pháp dạy học thực
hành Từ ngữ. Đó là một đóng góp nhỏ của tác giả liên quan đến vấn đề luyện từ
mà GV cần phải học tập để nâng cao hiệu quả dạy học Luyện từ và câu cho HS.
Tác giả Nguyễn Trí trong cuốn Dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học theo
chương trình mới (NXB GD - 2013) đã đưa ra một số vấn đề chương trình mới,
một số điểm cần lưu ý về phương pháp dạy và học môn Tiếng Việt ở Tiểu học
theo chương trình mới. Đó là cơ sở giúp cho việc đổi mới nội dung, phương
pháp dạy học Tiếng Việt nói chung và dạy Luyện từ và câu nói riêng.
Trong cuốn Dạy học Luyện từ và câu ở Tiểu học do tác giả Chu Thị Thủy
An - Chu Thị Thanh Hà đã đi sâu nghiên cứu về vị trí, nhiệm vụ, chương trình
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề tài chỉ ra những thuận lợi và
khó khăn trong việc mở rộng vốn từ cho HS lớp 3 thông qua phân môn Luyện từ
và câu từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao khả năng mở rộng vốn từ
cho HS thông qua môn học này.
4
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài hướng tới các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu lí luận: Tổng hợp các tư liệu về lý thuyết có liên quan tới đề
tài để làm cơ nghiên cứu.
-Nghiên cứu thực trạng những điều kiện thuận lợi và khó khăn để mở rộng
vốn từ qua phân môn Luyện từ và câu lớp 3, Trường Tiểu học Điền Quang II.
- Đề xuất các biện pháp, các cách dạy học nhằm tích cực rèn luyện từ và
câu cho HS, nâng cao hiệu quả dạy học.
- Thể nghiệm: Chúng tôi tiến hành soạn giáo án có sử dụng các phương
pháp tích cực để mở rộng vốn từ cho HS.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 3 Trường
Tiểu học Điền Quang II huyện Bá Thước tỉnh Thanh Hóa.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Trường Tiểu học Điền Quang II huyện Bá Thước tỉnh Thanh Hóa.
5. Phạm vi nghiên cứu
Vì điều kiện thời gian có hạn nên chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu tìm
hiểu và thử nghiệm một số biện pháp mở rộng vốn từ qua phân môn Luyện từ và
câu ở khối lớp 3 Trường Tiểu học Điền Quang II huyện Bá Thước tỉnh Thanh Hóa.
1.1.1. Một số khái niệm liên quan tới đề tài
1.1.1.1. Phương pháp
Trong tiếng Việt, thuật ngữ "phương pháp" được dùng với những
nghĩa rộng, hẹp khác nhau. Thứ nhất, "phương pháp" được dùng với nghĩa là
"phương pháp luận" chỉ hệ thống quan điểm, cách thức nghiên cứu của một khoa
học nào đó, ví dụ nói:"phương pháp luận biện chứng mác xít là cơ sở của mọi
khoa học:. Thứ hai, " phương pháp" được dùng với nghĩa là khoa học về phương
pháp giảng dạy mà tài liệu gọi là "lí luận dạy học bộ môn"; " giáo học pháp bộ
môn" hoặc "phương pháp luận dạy học bộ môn". Thứ ba, "phương pháp' được
dùng với nghĩa hẹp hơn, chỉ cách thức tác động lẫn nhau giữa thầy và trò dưới
sự chỉ đạo của thầy, hướng đến đạt mục đích học tập. Ở đây chúng ta đang dùng
thuật ngữ "phương pháp" với nghĩa thứ hai - tên gọi một ngành khoa học
( Trong Phương pháp dạy học Tiếng Việt I- NXB Đại học sư phạm)
1.1.1.2. Phương pháp dạy học tiếng Việt
Với tư cách là một khoa học, phương pháp dạy học tiếng Việt được xem
là một bộ phận của Khoa học Giáo dục ( ở đây thuật ngữ " Khoa học Giáo dục"
được hiểu theo nghĩa rộng, có tác giả gọi là "Khoa học sư phạm" hay "Sư phạm
học"), là một hệ thống lí thuyết và kỹ năng cơ bản để tổ chức quá trình dạy học
tiếng Việt với tư cách là tiếng mẹ đẻ và với tư cách là ngôn ngữ thứ hai. ( Trong
Phương pháp dạy học Tiếng Việt I- NXB Đại học sư phạm)
Phương pháp dạy học tiếng Việt bao gồm việc dạy tiếng Việt cho nhiều
đối tượng khác nhau: dạy tiếng Việt cho người bản ngữ, cho người dân tộc, cho
người nước ngoài, dạy tiếng Việt trước tuổi học…
1.1.1.3. Mở rộng vốn từ
Mở rộng vốn từ có thể hiểu là tìm hiểu thêm nhiều từ ngữ khác có chung
một nét nghĩa nào đó với từ gốc. Một từ ngữ có thể tìm được nhiều từ khác có
nét nghĩa chung với nó.
7
8
tán từ đối tượng này sang đối tượng khác. Do đó, trong dạy học, người GV cần chú ý
sử dụng các hình thức dạy học phong phú để duy trì sự chú ý của HS.
Tri giác của HS tiểu học còn mang tính cảm xúc, cảm tính và không chủ
định. Chúng dễ dàng nhận biết được sự vật, hiện tượng qua tranh ảnh, hơn là
những khái niệm lời giảng của GV. Những hình ảnh rực rỡ, sinh động các em tri
giác tốt hơn và dễ gây ấn tượng tích cực. Do vậy GV cần sử dụng các phương
tiện trực quan khác nhau, đẹp mắt để HS dễ dàng nhận biết.
Trí nhớ của HS tiểu học còn hạn chế, chủ yếu là ghi nhớ máy móc, trí
nhớ không chủ định chiếm ưu thế, HS dễ dàng nhớ các bài hát, các nhân vật
trong truyện tranh hơn là nhớ các khái niệm, các công thức toán học. Do đó
trong dạy học Tiếng Việt, với các từ khó và trừu tượng, HS thường ghi nhớ
chậm và nhanh quên.
Tư duy của HS tiểu học chủ yếu là tư duy cụ thể, trực quan hình ảnh. HS
nhanh chóng nắm được đặc điểm, tính chất của các đồ vật mà các em được cầm
nắm, ngửi trực tiếp hơn là các tính chất, khái niệm trong SGK. Các em thường
dựa vào những đặc điểm bên ngoài như hình dáng, màu sắc để đánh giá và xếp
loại chúng. Do đó khi dạy Luyện từ và câu GV cần sử dụng các đồ vật thật để
HS phát hiện và giải nghĩa từ.
Tưởng tượng của HS tiểu học đã phát triển và phong phú, song vẫn còn tản
mạn, chịu sự chi phối của tình cảm và chủ yếu được phát triển trong quá trình vui
chơi và kể chuyện. Do đó, trong dạy học Tiếng Việt, GV cần linh hoạt tổ chức trò
chơi phong phú, đa dạng để thu hút HS, giúp HS học tập đạt kết quả cao .
Chúng ta có thể thấy rằng với HS tiểu học ngôn ngữ phát triển mạnh về
ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp. Song giai đoạn này trẻ hiểu nghĩa đen nhiều hơn
nghĩa bóng. Khả năng đọc và viết đang dần hoàn thiện và phát triển. Tuy nhiên,
ngôn ngữ của các em còn mang nhiều hạn chế, khả năng hiểu nghĩa của từ, vốn
từ còn kém. Bên cạnh đó việc nói, viết thành câu hoàn chỉnh, phù hợp với hoàn
không văn hoá.
Ngoài ra, ở một chừng mực nào đó, phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học
còn có nhiệm vụ cung cấp cho HS một số khái niệm có tính chất sơ giản, ban
đầu về cấu tạo từ và nghĩa của từ tiếng Việt. Những kiến thức có tính chất lí
thuyết về từ có tác dụng làm cơ sở, làm chỗ dựa cho việc thực hành, luyện tập về
vốn từ ngữ của HS.
10
b, Cung cấp một số kiến thức về từ và câu
Trên cơ sở vốn ngôn ngữ có được trước khi đến trường, từ những trường
hợp có tính cụ thể của tiếng mẹ đẻ, phân môn Luyện từ và câu cung cấp cho HS
một số kiến thúc về từ và câu cơ bản, sơ giản cần thiết và vừa sức với các em.
Luyện từ và câu trang bị cho HS những hiểu biết về cấu trúc của từ, câu và quy
luật hành chức của chúng. Cụ thể đó là các kiến thức về cấu tạo từ, nghĩa của từ;
các kiến thức về câu như: cấu tạo câu, các kiểu câu, dấu câu, và các quy tắc
dùng từ đặt câu, tạo văn bản để sử dụng trong giao tiếp.
Ngoài các nhiệm vụ chuyên biệt trên, Luyện từ và câu còn có nhiệm vụ rèn
luyện tư duy và giáo dục thẩm mĩ cho HS. Tiếp xúc với từ và câu trong quá trình
học, HS có thêm sự hiểu biết về cái đẹp trong tiếng Việt và từ đó có ý thức giữ
gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
Ngoài Luyện từ và câu, một số phân môn khác thuộc Tiếng Việt như: Tập
đọc, Tập làm văn cũng có nhiệm vụ dạy từ và câu cho HS. Nhưng mục đích chủ
yếu của việc dạy từ và câu ở các phân môn này là giúp HS hiểu và cảm thụ tốt
nội dung bài văn (trong phân môn Tập đọc), vận dụng một cách thích hợp, có
hiệu quả trong việc làm một bài văn (trong phân môn Tập làm văn
c, Rèn luyện kĩ năng sử dụng từ và câu trong giao tiếp
Dạy học Luyện từ và câu nhằm đáp ứng cho việc dạy tiếng Việt như
một công cụ giao tiếp, nhằm thực hiện mục tiêu của "chương trình Tiếng Việt
tiểu học mới". Hình thành và phát triển ở HS kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe,
Như vậy, cơ sở ngôn ngữ học về từ và câu là điểm tựa quan trọng mà người
GV phải biết vận dụng sao cho có hiệu quả trong dạy học Luyện từ và câu
3) Nguyên tắc dạy học Luyện từ và câu
* Nguyên tắc phát triển tư duy
Là nguyên tắc tích cực hóa tác động của tư duy đến ngôn ngữ và ngôn ngữ
đến tư duy trong quá trình dạy tiếng. Vì thế phải chú ý rèn luyện các thao tác và
phẩm chất tư duy trong giờ dạy tiếng. phải làm cho HS thông hiểu được ý nghĩa
của các đơn vị ngôn ngữ. Phải tạo điều kiện cho HS nắm được nội dung các vấn
đề cần nói, viết, và biết thể hiện nội dung này bằng các phương tiện ngôn ngữ.
Ngôn ngữ và tư duy của con người là hai phạm trù có mối liên hệ mật thiết,
Có sự tác động và hỗ trợ lẫn nhau. Ngôn ngữ là công cụ để tư duy và tư duy là
hiện thực trực tiếp của ngôn ngữ. Ngôn ngữ là tiền đề và là điều kiện để tư duy
phát triển và ngược lại.
Do vậy trong quá trình mở rộng vốn từ cho HS GV cần nắm vững nguyên
tắc này.
13
*Nguyên tắc giao tiếp
Nguyên tắc giao tiếp ( hay cũng chính là sự vận dụng của nguyên tắc thực hành
của lí luận dạy học vào dạy học tiếng mẹ đẻ nên còn gọi là nguyên tắc thực
hành) trong dạy học Luyện từ và câu không chỉ được thể hiện trên phương diện
nội dung mà cả phương pháp dạy học.
Về phương pháp dạy học, trước hết, các kỹ năng tiếng Việt phải được hình
những từ ngữ giao tiếp tự nhiên. Chính vì vậy, trong SGK Tiếng Việt tiểu học,
phần thực hành nhiều, dung lượng lí thuyết ít và khái niệm được hình thành ở
phần lí thuyết cũng ở dạng đơn giản nhất. Như vậy, nguyên tắc giao tiếp trong
dạy học Luyện từ và câu đòi hỏi học sinh phải tiến hành hoạt động ngôn ngữ
thường xuyên, đó là việc yêu cầu thực hiện những bài tập miệng, bài viết trình
bày ý nghĩa, tình cảm, đọc, ứng dụng tri thức lí thuyết vào bài tập, vào việc giải
trong các giờ học khác, Gv cần chú ý điều chỉnh kịp thời những cách hiểu từ sai
lạc, những cách nói, viết câu không đúng ngữ pháp của HS, kịp thời loại ra khỏi
vốn từ tích cực của HS những từ ngữ không văn hóa.
* Nguyên tắc trực quan
Những hình ảnh cảm tính, những biểu tượng của trẻ em về thế giới xung
quanh là một tổ hợp cần thiết cho bất kỳ việc dạy học nào. Quan điểm này cơ sở
của nguyên tắc trực quan. Nguyên tắc trực quan được xây dựng còn dựa vào sự
thống nhất giữa trừu tượng và cụ thể trong ngữ pháp. Đặc điểm của việc vận
dụng nguyên tắc trực quan trong dạy từ là ở chỗ: Từ là một tổ hợp nghe, nhìn,
vận động, cấu âm. Một quy luật tâm lí càng có nhiều cơ quan cảm giác tham gia
vào việc tiếp nhận đối tượng thì càng ghi nhớ một cách chắc chắn đối tượng đấy,
có nghĩa là ghi nhớ cả từ mà nó biểu thị, do đó, khi giải nghĩa từ, việc tiếp nhận
của HS không phiến diện mà hình thành trên cơ sở của sự tác động qua lại của
các loại cảm giác khác nhau: nghe, nhìn, phát âm, viết.
Đối tượng nghiên cứu của Luyện từ và câu là từ ngữ, câu, thành phần câu…
do đó bên cạnh biểu bảng, sơ đồ, vật thật, tranh vẽ… như người ta vẫn thường
quan niệm về đồ dùng trực quan trong giờ học, trực quan trong giờ dạy Luyện từ
và câu còn được hiểu là sử dụng ngữ liệu trực quan - những bài văn, những câu,
những từ.
1.1.2.3. Cơ sở giáo dục tiểu học
1) Các nguyên tắc giáo dục ở tiểu học
15
* Nguyên tắc giao tiếp
Để thực hiện mục tiêu " hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử
dụng tiếng Việt ( nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi
trường hoạt động của lứa tuổi", SGK Tiếng Việt lấy nguyên tắc dạy giao tiếp
làm định hướng cơ bản.
Có thể hiểu giao tiếp là hoạt động trao đổi tư tưởng, tình cảm, cảm xúc…
phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học trong đó thầy đóng vai trò là
người tổ chức hoạt động của HS, mỗi HS đều được hoạt động, mỗi HS đều được
bộc lộ mình và được phát triển.
Theo nguyên tắc tích cực hóa hoạt động học tập của HS, SGK không trình
bày kiến thức như là những kết quả có sẵn mà xây dựng hệ thống câu hỏi, bài
tập hướng dẫn HS thực hiện các hoạt động nhằm chiếm lĩnh kiến thức và phát
triển các kĩ năng sử dụng tiếng Việt, SGV cũng hướng dẫn thầy cô cách thức cụ
thể để tổ chức các hoạt động này.
2) ý nghĩa của việc mở rộng vốn từ cho HS ở trường tiểu học
Trong chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học, mở rộng vốn từ được tách
thành một phân môn độc lập, song song tồn tại với các phân môn khác như
Luyện từ và câu,Tập đọc, Chính tả, Tập làm văn. Ở lớp 3 phân môn Luyện từ và
câu chiếm 1 tiết 1 tuần. Ngoài ra Luyện từ và câu còn được kết hợp dạy trong
các phân môn khác thuộc môn Tiếng Việt và trong giờ học của các môn học
khác. Như vậy nội dung dạy Luyện từ và câu trong chương trình môn Tiếng Việt
nói riêng, các môn học nói chung ở Tiểu học chiếm một tỉ lệ đáng kể. Điều đó
nói lên ý nghĩa quan trọng của việc dạy từ ngữ, ngữ pháp ở bậc tiểu học
Từ và câu có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống ngôn từ. Từ là đơn
vị trung tâm của ngôn ngữ. Câu là đơn vị nhỏ nhất có thể thực hiện chức năng
giao tiếp. Vai trò của từ và câu trong hệ thống ngôn ngữ quyết định tầm quan
trọng của việc dạy Luyện từ và câu ở tiểu học và mở rộng vốn từ cho HS tiểu
học. Việc dạy Luyện từ và câu, mở rộng vốn từ, hệ thống hoá làm phong phú
vốn từ của HS, cung cấp cho HS những hiểu biết sơ giản về từ và câu, rèn cho
HS kĩ năng về dùng từ đặt câu và sử dụng các kiểu câu để thể hiện tư tưởng, tình
cảm của mình, đồng thời giúp HS có khả năng hiểu các câu nói của người khác.
Luyện từ và câu có vai trò hướng dẫn HS trong việc nghe, nói, đọc, viết, phát
17
18
lý nhà trường liên tục được công nhận là chiến sĩ thi đua cấp huyện và hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ.
* Thời gian khảo sát
- Thời gian tiến hành: 15/02/2016 đến 02/04/2016
1.2.1.4. phương pháp khảo sát
- Chúng tôi tiến hành chủ yếu bằng các phương pháp sau:
+ Phương pháp quan sát
Để tìm hiểu thực trạng dạy học phân môn Luyện từ và câu của học sinh
chúng tôi tiến hành dự giờ các tiết dạy học Luyện từ và câu khối lớp 3 để đưa ra
nhận xét về thực trạng dạy học luyện từ và câu.
+ Phương pháp phỏng vấn, trò chuyện
Đây là phương pháp bổ trợ. Qua trao đổi với cán bộ, giáo viên, phụ huynh,
học sinh chúng tôi thu được các thông tin liên quan đến vấn đề khảo sát.
+ Phương pháp điều tra bằng phiếu
Qua điều tra bằng phiếu nắm bắt được nhận thức của giáo viên về việc sử
dụng các phương pháp để rèn khả năng dùng từ, đặt câu và mở rộng vốn từ cho
học sinh. Đồng thời cũng biết được học sinh có thích học phân môn này hay
không.
+ Phương pháp trắc nghiệm, thống kê.
Nhằm khảo sát thực trạng dạy và học phân môn Luyện từ và câu của HS
lớp 3 Trường Tiểu học Điền Quang II.
Cho HS làm một số bài về dùng từ, đặt câu, phân loại lỗi dùng từ, đặt câu
của các em.
1.2.2. Kết quả khảo sát
1) Kết quả khảo sát giáo viên
Qua thực tiễn khảo sát 2/2 giáo viên đang trực tiếp giảng dạy khối 3 trong
trường, các giáo viên chuyên môn khác chúng tôi thu được các kết quả như sau:
cảm thấy khó khăn nhất là khi dạy về phần mở rộng vốn từ (100%) vì đây là cửa
ngõ để dạy được các nội dung kiến thức khác. Còn về nội dung ngữ pháp và
dùng từ đặt câu thì các em dễ nắm kiến thức hơn do đã có nền tảng là phần mở
rộng vốn từ. Vì thế mà việc mở rộng vốn từ, tăng vốn từ vựng của học sinh là rất
cần thiết và chú trọng đầu tiên.
Bảng 2: Mức độ sử dụng các phương pháp học tập trong dạy luyện từ và câu
Mức độ
Số lượng GV khảo sát
Tỉ lệ
Thường xuyên
1/2
50%
Thỉnh thoảng
1/2
50%
Không bao giờ
0/2
0%
Tỉ lệ
sát
Giúp HS nắm tốt nội dung
0/2
0%
Giúp HS nắm tương đối tốt
2/2
100%
HS không nắm được gì
0/2
0%
20
Bảng 5: Khó khăn trong từng bài cụ thể để đưa ra phương pháp.
Khó khăn
Số lượng GV khảo sát
Chưa nhiều
0/2
0%
Bảng 6: Vốn từ vựng của học sinh
Vốn từ
Bảng 7: Việc dùng từ đặt câu của học sinh
Mức độ
Số lượng GV khảo sát
Tỉ lệ
Tốt
0/3
0%
Tương đối tốt
1/2
50%
Chưa tốt
Bảng 9: Hiệu quả của việc sử dụng các phương pháp
Hiệu quả
Số lượng GV khảo
Tỉ lệ
sát
HS nắm tốt bài
1/2
50%
HS nắm tương đối tốt
1/2
50%
HS không nắm được gì
0/2
0%
21