LỜI CẢM ƠN
Bằng tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn
thầy giáo, Th.s Khổng Cát Sơn - người đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành
khóa luận này.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Ban giám hiệu, phòng Đào tạo
Đại học, Phòng khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục, Thư viện, Ban chủ
nhiệm khoa Tiểu học - Mầm non Trường Đại học Tây Bắc và các sinh viên lớp
K53A ĐHGD Mầm non đã tạo điều kiện cho em học tập và nghiên cứu để hoàn
thành khóa luận này.
Xin cảm ơn Ban giám hiệu cùng tất cả các cô giáo và các cháu mẫu giáo
(5 - 6 tuổi) Trường Mầm non Hoa Hồng, xã Chiềng Khương, huyện Sông Mã đã
tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.
Sơn La, tháng 05 năm 2016
Người thực hiện
Cà Thúy Hằng
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ĐC : Đối chứng
TN : Thực nghiệm
SL : Số lượng
TB : Trung bình
MĐ : Mức độ
Y : Yếu
K : Khá
T : Tốt
ĐHSP : Đại học sư phạm
NXB : Nhà xuất bản
QG : Quốc gia
GD : Giáo dục
trong các tiết học chuyên môn ............................................................................ 31
2.1.1. Sử dụng đồ chơi để phát triển vốn từ ........................................................ 32
2.1.2. Sử dụng các trò chơi học tập ..................................................................... 33
2.1.3. Trò chơi ngôn ngữ ..................................................................................... 34
2.1.4. Cho trẻ xem tranh ...................................................................................... 35
2.1.5. Nâng cao vốn từ cho trẻ qua hướng dẫn trẻ quan sát sự vật hiện tượng ......... 37
2.1.6. Các biện pháp dùng lời.............................................................................. 40
2.1.7. Sử dụng cao dao, đồng dao, câu đố ........................................................... 44
2.1.8. Một số dạng bài tập nâng cao cho trẻ........................................................ 47
2.2. Phát triển vốn từ qua các hoạt động của trẻ ................................................. 48
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 ...................................................................................... 50
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ................................................... 51
3.1. Những vấn đề chung .................................................................................... 51
3.1.1. Mục đích thực nghiệm............................................................................... 51
3.1.2. Đối tượng thực nghiệm ............................................................................. 51
3.1.3. Phạm vi thực nghiệm................................................................................. 51
3.1.4. Điệu kiện thực nghiệm .............................................................................. 51
3.1.5. Thời gian thực nghiệm .............................................................................. 51
3.1.6. Nội dung thực nghiệm ............................................................................... 51
3.1.7. Tổ chức thực nghiệm................................................................................. 52
3.1.8. Chuẩn bị cho thực nghiệm ........................................................................ 52
3.2. Phân tích kết quả thực nghiệm ..................................................................... 52
3.2.1. Kết quả phát triển số lượng từ tiếng Việt .................................................. 52
3.2.2. Kết quả mức độ ghi nhớ từ tiếng Việt của trẻ ở hai nhóm ĐC và TN .............. 53
3.2.3. Kết quả đo cuối về mức độ lĩnh hội từ tiếng Việt, qua các biểu hiện nghe - nói
- hiểu - vận dụng từ tiếng Việt của trẻ mẫu giáo dân tộc Thái (lứa tuổi 5 - 6)............54
3.2.4. Kết quả về mức độ sử dụng từ tiếng Việt của hai nhóm đối chứng và
thực nghiệm .............................................................................................. 56
tên đất nước Việt Nam [6,15].
Muốn nói tốt trước hết phải có vốn từ ngữ. Vì từ ngữ là chất liệu được sử
dụng để nói. Như vậy cung cấp và nâng cao vốn từ cho trẻ là bước đầu tiên có
vai trò quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Chuẩn bị cho trẻ có vốn tiếng Việt đủ để trẻ có thể học tập ở trường phổ
thông là điều hết sức cần thiết. Để làm được điều này, giáo viên phải có phương
pháp phù hợp để trẻ không chỉ nói sõi tiếng mẹ đẻ mà trẻ còn phải sử dụng thành
thạo cả tiếng phổ thông để trẻ tự tin đứng ở một môi trường học mới không bị
1
bỡ ngỡ, lo lắng. Để làm được điều này ta phải đề ra những biện pháp hợp lí, phù
hợp với trẻ mầm non về mặt tâm sinh lí.
Một trong những điều kiện để trẻ em dân tộc Thái có thể học tiếng phổ
thông là trẻ cần sử dụng thành thạo ngôn ngữ mẹ đẻ (tức là nắm vững ngôn ngữ
thứ nhất hay ngôn ngữ cơ bản) như vậy ít nhất trẻ phải được ba tuổi, thường là
(5 - 6 tuổi) thì trẻ sẽ thuận lợi trong việc học tiếng thứ hai (tiếng phổ thông).
Dân tộc Thái là một trong những dân tộc thiểu số ở Việt Nam, sống tập
trung nhiều nhất ở Sơn La, Điện Biên, Lai Châu và rải rác một số tỉnh khác như:
Thanh Hóa, Hòa Bình, Yên Bái. Địa bàn cư trú của dân tộc Thái chủ yếu ở vùng
núi, dân cư thưa thớt, môi trường tiếng Việt hạn hẹp, con người nơi đây chủ yếu
giao tiếp với nhau bằng tiếng mẹ đẻ (tiếng Thái). Điều đó ảnh hưởng đến việc
tiếp thu những kiến thức tiền khoa học của trẻ.
Là một người con của người Thái, một sinh viên lớp K53A ĐHGD Mầm
non, trong tương lai sẽ trực tiếp giáo dục con em đồng bào dân tộc Thái và các
dân tộc thiểu số khác, tôi thiết nghĩ để phục vụ cho công việc giảng dạy sau này,
tôi cần có những trình độ hiểu biết nhất định về sự nâng cao vốn từ tiếng Việt
của trẻ dân tộc Thái nói chung và trẻ (5 - 6 tuổi) vùng dân tộc này nói riêng.
Đồng thời có những biện pháp tác động sư phạm phù hợp để góp phần nâng cao
pháp để nhằm dạy nói cho trẻ trước khi vào buổi học.
Winhem Preyer với Tri óc của trẻ em, tác phẩm miêu tả chi tiết về sự phát
triển của trẻ em, phát triển về vận động, hình thành ngôn ngữ và trí nhớ cụ thể
thông qua cậu bé Alex.
Ngay từ những năm 80 của thế kỷ trước, chúng ta đã có những cuốn sách
đầu tiên về phương pháp phát triển lời nói cho trẻ trong các trường đào tạo giáo
viên mầm non:
Phan Thiều với cuốn: Dạy nói cho trẻ trước tuổi cấp 1 (NXBGG - 1973).
Cao Đức Tiến, Nguyễn Quang Ninh, Hồ Lam Hồng với giáo trình: Tiếng
Việt và phương pháp phát triển lời nói cho trẻ, đã xây dựng các phương pháp
nhằm phát triển và hoàn thiện lời nói cho trẻ.
Hay nghiên cứu của Nguyễn xuân Khoa (1997) về: Phương pháp phát
triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo (0 - 6 tuổi), đã nghiên cứu về sự phát triển vốn
từ ngữ của trẻ ở các độ tuổi và đưa ra các phương pháp nhằm phát triển ngôn
ngữ cho trẻ em ở độ tuổi mầm non.
3
Tập thể tác giả: Nguyễn Xuân Khoa, Phùng Ngọc Kiếm, Lương Kim Nga
với cuốn: Tiếng Việt, Văn học và phương pháp giáo dục, đưa ra các phương
pháp giáo dục giúp trẻ học tốt Tiếng Việt và môn Văn Học.
Nguyễn Xuân Khoa với tác phẩm: Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho
trẻ mẫu giáo dưới 6 tuổi, đã đưa ra các phương pháp cụ thể giúp trẻ phát triển
ngôn ngữ, vốn từ của mình.
Các tác phẩm trên đều đề cập tới nội dung và các phương pháp nhằm hình
thành và phát triển vốn ngôn ngữ cho trẻ. Đây chính là cơ sở, là tiền đề cho các
nhà khoa học sau này nghiên cứu, tìm tòi, khám phá về vấn đề ngôn ngữ của trẻ.
Ngày nay, ngày càng có nhiều nghiên cứu về vấn đề này:
Luận án tiến sĩ của Đinh Hồng Thái - Phương pháp phát triển lời nói của
trẻ, đưa ra các phương pháp phát triển lời nói cho trẻ lứa tuổi mầm non.
5.2. Địa bàn nghiên cứu
Vì điều kiện thời gian có hạn nên tôi chỉ tìm hiểu thực trạng và thực hiện
trường mầm non sau: Trường Mầm non Hoa Hồng, xã Chiềng Khương - huyện
Sông Mã - tỉnh Sơn La
5.3. Khách thể nghiên cứu
Trường mầm non Hoa Hồng, xã Chiềng Khương, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn
La, chúng tôi tiến hành cụ thể trên 60 trẻ chia ra làm hai lớp: 30 trẻ lớp mẫu giáo
lớn A và 30 trẻ lớp mẫu giáo lớn B.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu sách, tài liệu có liên quan đến đề tài, đọc và hệ thống hóa các
tài liệu có liên quan đến cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu và các tài liệu liên
quan đến cơ sở hình thành và nâng cao vốn từ cho trẻ.
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra: bằng phiếu anket và điều tra trực tiếp trên trẻ, điều
tra phụ huynh, cô giáo ghi lại những biểu hiện về vốn từ và mức độ lĩnh hội vốn
từ tiếng Việt của trẻ.
- Phương pháp quan sát: quan sát các giờ dạy của giáo viên, các giờ học
của trẻ, quan sát các hoạt động của trẻ hằng ngày.
- Phương pháp trò truyện - đàm thoại.
- Phương pháp thống kê tài liệu.
5
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
7. Đóng góp của khóa luận
- Hệ thống những vấn đề lí luận và thực tiễn về việc nâng cao vốn từ tiếng
Việt cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua kể chuyện có tranh minh họa.
- Sự thành công của khóa luận sẽ bổ sung vào việc phát triển ngôn ngữ cho
trẻ nhằm nâng cao chất lượng của giáo dục mầm non. Hơn nữa, khóa luận còn
1.1.1.1. Ngôn ngữ và ngôn ngữ nói
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ bản
và quan trọng nhất của con người. Do đó ngôn ngữ đã trở thành một trong hai
yếu tố quyết định đến sự phát triển của lịch sử loài người và sự phát triển mỗi cá
nhân. Ngôn ngữ được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau.
Theo quan điểm của các nhà xã hội học: ngôn ngữ là một hiện tượng xã
hội- lịch sử, trong quá trình lao động con người có nhu cầu nhận thức thế giới
xung quanh. Do điều kiện làm việc (hoạt động) cùng nhau, nên con người có
nhu cầu phải giao tiếp (thông báo) với nhau và nhận thức không tách rời nhau.
Vì vậy, ngôn ngữ ra đời để đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người.
Với các nhà ngôn ngữ học: Ngôn ngữ là hệ thống ngữ âm, những từ và
những quy tắc kết hợp chúng mà những người trong cùng một cộng đồng dùng
làm phương tiện để giao tiếp. Hay nói cách khác ngôn ngữ chính là một hệ
thống các quy luật cấu tạo lời nói và những quy luật cấu tạo này là chung cho
một cộng đồng ngôn ngữ.
Dưới góc độ tâm lý học: Ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu từ ngữ đặc biệt,
trong đó ký hiệu là bất kỳ cái gì của hiện thực được dùng để thực hiện các hoạt
động của con người. Ký hiệu cũng có chức năng của công cụ, hướng vào hoạt
động và làm thay đổi hoạt động theo những thuộc tính vốn có của ký hiệu. Ký
hiệu từ ngữ là một hiện tượng tồn tại khách quan trong đời sống tinh thần của
con người, là một hiện tượng của nền văn hóa tinh thần loài người, là một
phương tiện (công cụ) xã hội đặc biệt. Ký hiệu từ ngữ cũng tác động vào hoạt
động, làm thay đổi hoạt động như hoạt động tinh thần, hoạt động trí tuệ, hoạt
động bên trong của con người, nó hướng vào làm trung gian hóa cho các hoạt
động tâm lý cao cấp của con người như: Tri giác, trí nhớ, tư duy, ngôn ngữ ký
hiệu từ ngữ làm được điều đó là nhờ vào đặc tính bên trong nội dung tức là
7
nghĩa của từ và mỗi ký hiệu thực hiện một chức năng nhất định trong hệ thống
sau: “Ngôn ngữ phổ thông là ngôn ngữ đã được lựa chọn để dùng làm phương
tiện giao lưu cho tất cả những gì có liên quan đến toàn bộ dân tộc, được tất cả
các thành viên trong dân tộc đó chấp nhận”. [16,4]
Việt Nam có 54 dân tộc anh em sống trên dải đất hình chữ S xinh đẹp. Mỗi
dân tộc đều có tiếng nói riêng, đều được tôn trọng và bình đẳng. Song đã từ lâu
đời các dân tộc trên đất nước Việt Nam đã thống nhất lựa chọn - tiếng Việt là
ngôn ngữ phổ thông thống nhất, là công cụ cho tất cả các dân tộc trong cộng
đồng người Việt Nam giao tiếp và tiếp thu những tri thức khoa học về tự nhiên,
về xã hội, kinh tế, văn hóa của đất nước, của nhân loại, phục vụ cho công cuộc
xây dựng công nghiệm hóa, hiện đại hóa đất nước.
Để đáp ứng được với yêu cầu và đòi hỏi cấp bách của nhiệm vụ “Chuẩn
hóa tiếng Việt - tiếng Việt là công cụ giao tiếp nhận thức thống nhất của cả
nước”, cần phải nghiên cứu theo nhiều góc độ khác nhau trong sự phát triển tiếng
Việt cho nhân dân các vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Đặc biệt từ trẻ em lứa
tuổi mẫu giáo, mà hạt nhân của sự phát triển đó là sự lĩnh hội từ của trẻ. Xem xét
khả năng lĩnh hội của trẻ ở mức độ nào? Lĩnh hội theo phương thức nào? Để từ đó
có biện pháp tích cực làm nâng cao nhanh vốn từ tiếng Việt cho trẻ ngay từ lứa
tuổi mẫu giáo ở các vùng dân tộc thiểu số Việt Nam, để tiếng Việt thực sự là
“Công cụ tâm lý”, công cụ lĩnh hội kinh nghiệm xã hội loài người.
1.1.1.3. Ảnh hưởng của ngôn ngữ thứ nhất đến ngôn ngữ thứ hai
a. Thói quen sử dụng ngôn ngữ
Trong giao tiếp, chúng ta có thể nhận biết một cách tương đối dễ dàng khi
nghe một người nước ngoài nói tiếng Việt, người Việt Nam nói tiếng nước
ngoài, hay người dân tộc nói tiếng Việt. Vì sao ta nhận biết được dễ dàng như
thế? Bởi vì, dù người nói đã đạt đến trình độ tương đối chuẩn xác thì vẫn khó
tránh khỏi những đặc trưng ngữ âm tiếng mẹ đẻ của họ nằm ở đâu đó trong
chuỗi lời nói.
Khi học tiếng Việt, học sinh dân Thái có xu hướng chuyển những chuẩn
ngữ không có thanh điệu Ví dụ: như tiếng Ê đê, tiếng Ba Na… Còn ngôn ngữ
của dân tộc Thái có thanh điệu nhưng số lượng và tính chất các thanh không
hoàn toàn tương ứng với số lượng và tính chất các thanh trong tiếng Việt.
10
Chính vì lí do trên nên học sinh dân tộc Thái phát âm không đúng các thanh
tiếng Việt cũng còn khá phổ biến. Thường khó phát âm thanh ngã và thường chuyển
sang thanh sắc hoặc nặng khi phát âm những tiếng Việt mang thanh này.
Ví dụ: Bé ngã - bé ngá
Ý nghĩa - ý nghía
Rõ ràng - ró ràng
Như vậy chúng ta có thể thấy rằng thói quen sử dụng tiếng mẹ đẻ có ảnh
hưởng rất lớn đến việc học phát âm tiếng Việt. Thói quen đó nếu không có biện
pháp tác động phù hợp làm thay đổi quá trình học tiếng Việt, trẻ sẽ khó phát âm
rõ ràng, chính xác.
b) Môi trường sống chật hẹp
Môi trường học tiếng việt được hiểu là các điều kiện tự nhiên, xã hội, các
phương tiện, hoạt động trong và ngoài nhà trường có tác động đến quá trình học
tập, rèn luyện và sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt.
Môi trường học tiếng Việt bao gồm: cảnh quan nhà trường, lớp học; hoạt
động dạy và học; hoạt động vui chơi (là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo).
Môi trường học tiếng Việt ngoài nhà trường bao gồm đặc điểm dân cư (dân
số, thành phần dân tộc, tình trạng cư trú…), môi trường văn hóa xã hội (trình độ
dân trí, sinh hoạt văn hóa, ngôn ngữ giao tiếp cộng đồng, tình hình sử dụng tiếng
phổ thông, tiếng dân tộc,…), môi trường gia đình (ngôn ngữ giao tiếp trong gia
đình, các phương tiện nghe nhìn…)
Trẻ em dân tộc kinh từ khi lọt lòng mẹ là được tiếp xúc với môi trường
tiếng Việt (tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ của trẻ). Trẻ có rất nhiều cơ hội giao tiếp
đẻ để củng cố vốn tiếng Việt đã có ở trẻ. Giai đoạn mẫu giáo (5 - 6 tuổi) nên bắt đầu
làm quen với tiếng Việt, giao tiếp bằng tiếng Việt.
Nếu trẻ học đúng độ tuổi sẽ tránh được tình trạng loạn ngôn ngữ do quy luật di
chuyển. Có nghĩa là chưa nói sõi tiếng dân tộc mình mà đã học tiếng Việt ngay thì
lúc nói tiếng dân tộc không ra tiếng dân tộc, tiếng Việt không ra tiếng Việt, nhiều khi
trong cùng câu mà nửa nọ, nửa kia khiến người nghe không hiểu được.
Khi được học đúng độ tuổi, trẻ sẽ tiếp thu và học tiếng Việt rất nhanh.
Những điểm tương đồng giữa tiếng Việt và tiếng mẹ đẻ càng thúc đẩy nhanh quá
trình học tiếng Việt ở trẻ. Những điểm không tương đồng giữa tiếng mẹ đẻ và
tiếng Việt cũng ít ảnh hưởng đến quá trình phát âm của trẻ. Hoặc nếu có ảnh
12
hưởng là trẻ phát âm sai thì cũng dễ uốn nắn sửa lỗi phát âm cho trẻ. Chính vì
vậy, việc học tiếng Việt có hiệu quả hơn và trẻ phát âm chuẩn xác hơn, biết cách
sử dụng ngôn ngữ phù hợp.
1.1.2. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi)
1.1.2.1. Về vốn từ của trẻ
*) Vốn từ là gì?
Từ vựng chính là vốn từ của ngôn ngữ, từ vựng là tập hợp tất cả các từ,
cụm từ cố định có thành tố cấu tạo ổn định như từ.
Vốn từ của một ngôn ngữ là tổng số mà hệ thống hóa toàn bộ từ và cụm từ cố
định của ngôn ngữ đó. Vốn từ vựng của ngôn ngữ có nhiều lớp, nhiều nhóm từ
không đồng nhất và có chất lượng khác nhau. Trong vốn từ vựng của một ngôn ngữ
nào cũng đều có những từ mới và những từ cũ, có từ tích cực và từ thụ động .
- Vốn tích cực (chủ động) là những từ được sử dụng hàng ngày, những từ này
có tần số sử dụng cao, được con người nắm vững và sử dụng trong lời nói một
cách thành thạo.
- Vốn từ thụ động: Bao gồm những từ được sử dụng hay không được sử dụng
nữa. Nó bao gồm những từ cổ và các từ còn mang nhiều sắc thái mới, chưa được
Trẻ 36 tháng tuổi có khoảng 468 từ.
Trẻ trên 3 tuổi có khoảng 500 từ.
Trẻ trên 4 tuổi có khoảng 700 từ.
Trẻ từ 5 - 6 tuổi có khoảng 1033 từ.
Tuy số lượng từ của trẻ mẫu giáo do các nhà ngôn ngữ đưa ra không khớp
nhau, nhưng sự chênh lệch không lớn lắm và các tác giả khẳng định: Số lượng từ của
trẻ phụ thuộc và nhiều yếu tố khác nhau, trong đó quan trọng nhất các tác động của
môi trường như: Sự tiếp xúc ngôn ngữ thường xuyên của những người xung quanh.
*) Về mặt từ loại
Theo Xtecnơ, danh từ là từ loại đầu tiên xuất hiện ở trẻ em, rồi đến động từ
sau đó mới đến các từ loại khác xuất hiện muộn hơn. Số lượng từ loại càng
nhiều bao nhiêu thì càng tạo điệu kiện cho trẻ diễn đạt thuận lợi bấy nhiêu. Trẻ
mẫu giáo nói nhiều chưa phải là nói hay, nói đúng. Vì vậy, cần phải mở rộng các
từ loại để trẻ biết nói hay, nói đúng, biết sử dụng từ gợi cảm từ văn học…
Về danh từ: Nội dung, ý nghĩa của các từ được mở rộng, phong phú hơn ở
những từ có nghĩa rộng. Ví dụ từ “hoa” có rất nhiều loại hoa khác nhau như:
Hoa hồng, hoa cúc, hoa mơ, hoa đồng tiền, hay như các loại quả, bánh, cây, số
14
lượng từ chỉ nghề nghiệp của người lớn tăng. Ở trẻ lứa tuổi này xuất hiện những
danh từ mang tính văn học: Áng mây, đóa hoa…
Về động từ: Phần lớn là những động từ gần gũi, tiếp tục phát triển thêm
những nhóm từ như: Lảnh lót, líu lo, ngoe nguẩy, lung linh, lung liếng những
động từ chỉ sắc thái khác nhau như: Chạy vù vù, đi lăng xăng, chạy loạn xạ…
Về trạng từ: Trẻ được mở rộng và sử dụng được đúng các trạng từ: Hôm
nay, ngày mai, vừa rồi, lát nữa, hôm qua, ngày xửa ngày xưa…
Về tính từ: Phát triển về số lượng cũng như chất lượng tính từ. Trẻ sử dụng
nhiều từ có tính chất gợi tả như: chát xít, đắng ngắt, đỏ lòm và trẻ bắt đầu sử
dụng các từ tượng hình, tượng thanh: Róc rách, rì rầm, xào xạc, lộp độp, ào ào
Danh từ
291
40%
Động từ
230
30%
Tính từ
58
7,3%
Đại từ
25
2,7%
Số từ
17
1,8%
trẻ nhanh chóng định vị được các âm vị có cấu âm đơn giản, nhưng âm vị có cấu
âm phức tạp trẻ dễ mắc lỗi, song nếu kiên trì tập luyện thì hầu hết trẻ em đều có
khả năng định vị các âm vị của tiếng mẹ đẻ (trừ các trẻ khuyến tật về cơ quan
phát âm hoặc cơ quan thính giác).
1.1.2.3. Về ngôn ngữ mạch lạc
Trẻ mẫu giáo lớn có vốn từ phong phú hơn trẻ mẫu giáo nhỡ cả về số
lượng cũng như từ loại. Trẻ sử dụng được nhiều mẫu câu khác nhau. Tư duy của
trẻ phát triển hơn, trẻ biết so sánh, nhận ra những đặc điểm giống, khác nhau của
16
sự vật hiện tượng. Ở Trẻ bắt đầu xuất hiện khả năng tổng quát, đưa ra kết luận.
Những đặc điểm đó của tư duy ảnh hưởng rất lớn đến ngôn ngữ mạch lạc trẻ.
Ngôn ngữ của trẻ dễ dàng hơn, có nội dung hơn, người nghe dễ hiểu hơn. Trong
ngôn ngữ độc thoại, trẻ thường dùng những câu, những đoạn ngắn. Trẻ thích
được trò chuyện với người lớn. Trẻ không chỉ thích đàm thoại về những gì trẻ
đang tri giác mà còn biết đàm thoại về những nội dung mà trẻ biết và đưa ra
những nhận định của mình. Mặc dù không phải lúc nào trẻ cũng đưa ra những
nhận định đúng. Trẻ có thể kể lại một câu chuyện mà trẻ biết hoặc được nghe kể,
có thể kể theo tranh hoặc đồ chơi, đồ vật. Mặc dù phần lớn lời kể của trẻ bắt
chước theo mẫu của người lớn.
1.1.3. Đặc điểm của việc lĩnh hội vốn từ tiếng Việt của trẻ mẫu giáo dân
tộc Thái (lứa tuổi 5 - 6)
Việc tiếp thu ngôn ngữ của trẻ em luôn gắn liền với sự phát triển trí tuệ,
năng lực cảm thụ, trí nhớ, tưởng tượng. Trong những năm đầu của cuộc sống đối
với trẻ em, từ ngữ chính là nguyên bản thứ hai của thực tế. Còn nguyên bản thứ
nhất là những điều cảm thụ được từ thế giới vật chất, sẽ đi qua các giác quan bên
ngoài mà đi vào nhận thức, bất kỳ một kiến thức nào được thể hiện bằng từ ngữ
đều thông qua kinh nghiệm. Tức là sự nhận thức thế giới bên ngoài, thế giới của
*) Ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ dân tộc Thái hòa nhập với cộng đồng và
trở thành thành viên của cộng đồng
Nhờ có những lời chỉ dẫn của người lớn, trẻ em dân tộc Thái dần dần hiểu
được quy định chung của cộng đồng mà mọi thành viên trong cộng đồng phải
thực hiện. Trước hết là những nề nếp sinh hoạt của gia đình, nhóm trẻ,
trường mầm non. Sau đó là một số quy định ngoài xã hội. Những gì trẻ có
thể được phép làm và những gì không được làm. Mặt khác, trẻ cũng có thể
dùng ngôn ngữ của mình để bày tỏ những nhu cầu, mong muốn của mình với
các thành viên trong cộng đồng. Điều đó giúp trẻ dễ hòa nhập với mọi
người. Nhờ có ngôn ngữ, thông qua các câu chuyện, trẻ dễ dàng tiếp nhận
những chuẩn mực đạo đức của xã hội và hòa nhập xã hội tốt hơn. Tóm lại:
ngôn ngữ có vai trò rất lớn, là phương tiện quan trọng nhất để trẻ lĩnh hội
nền văn hóa dân tộc, để trẻ giao lưu với người xung quanh, để tư duy, tiếp
thu khoa học và bồi bổ tâm hồn, hình thành, phát triển nhân cách trẻ.
18
*) Ngôn ngữ là phương tiện hình thành và phát triển nhận thức của trẻ về
thế giới xung quanh
Ngôn ngữ giúp trẻ tìm hiểu, khám phá và nhận thức về môi trường xung
quanh. Thông qua các từ ngữ và các câu nói của người lớn, trẻ làm quen với các
sự vật hiện tượng có môi trường xung quanh, hiểu được những đặc điểm, tính
chất, công cụ các sự vật cùng các từ tương ứng với nó. Từ và hình ảnh trực quan
của các sự vật cùng đi vào nhận thức của trẻ. Nhờ có ngôn ngữ, trẻ nhận biết
càng ngày càng nhiều các sự vật hiện tượng mà trẻ được tiếp xúc trong cuộc
sống hàng ngày, giúp trẻ hình thành, phát triển phong phú các biểu tượng và thế
giới xung quanh. Ngôn ngữ là phương tiện giúp trẻ hình thành và phát triển tư
duy. Ngôn của trẻ được phát triển dần theo lứa tuổi trẻ. Điều đó sẽ giúp trẻ
không chỉ tìm hiểu những hiện tượng, sự vật gần gũi xung quanh, mà còn có thể
thông qua ngôn ngữ trẻ nhận thức được những cái hay, cái đẹp trong cuộc sống
xung quanh như: những bông hoa, những hàng cây, con đường, những cảnh đẹp
làng quê với những từ ngữ thể hiện nó. Trẻ sẽ có nhiều ấn tượng đẹp, tâm hồn
trẻ trung và có ý thức gìn giữ cái hay, cái đẹp trong tiếng mẹ đẻ, những hành vi
đẹp trong cuộc, trẻ biết những gì nên làm và những gì không nên làm, qua đó
rèn luyện những phẩm chất tốt ở trẻ, dần dần hình thành ở trẻ những khái niệm
ban đầu về đạo đức như: ngoan - hư, tốt - xấu, thật thà - không thật thà.
1.1.5. Một vài nét về con người và ngôn ngữ Thái
*) Đặc điểm con người
Dân tộc Thái có trên một triệu người sinh sống tập trung chủ yếu tại các
tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa bình, Yên Bái, Nghệ An, Thanh Hóa và
sinh sống rải rác ở một số tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên do di cư. Dân
tộc Thái còn có những tên gọi khác là Táy và có nhóm Táy Đằm, Táy Khao, Táy
Mười, Táy Thành, Hàng tổng, Pu Thay, Thổ Đà Bắc. Tiếng Thái thuộc hệ ngôn
ngữ Tày - Thái.
Trải qua các cuộc thiên di trong lịch sử, dân tộc Thái có mặt ở Việt Nam từ
hàng trăm năm trước, họ có nhiều kinh nghiệm đắp phai, đào mương, dựng cọn,
bắc máng lấy nước làm ruộng nên trong nhân gian thường truyền câu ca “Xá ăn
theo lửa, Thái ăn theo nước”. Canh tác lúa nước là hoạt động sản xuất chính của
người thái, lúa gạo là nguồn lương thực chính, đặc biệt là lúa nếp. Tuy nhiên
người thái cũng làm nương để trồng lúa, ngô, lạc vừng… và nhiều thứ cây trồng
20
khác. Trong từng gia đình còn chăn nuôi gia súc, gia cầm, đan lát, trồng bông,
nuôi tằm để dệt vải, một số nơi còn làm đồ gốm…Sản phẩm nổi tiếng của người
Thái là vải thổ cẩm với những nét hoa văn độc đáo màu sắc rực rỡ, bền đẹp.
Về văn học nghệ thuật, do người Thái có chữ viết riêng nên kho tàng văn
hóa dân gian như truyền thuyết, ca dao, truyện thơ, văn học, dân ca… và một số
luật lệ còn được lưu truyền lại khá nguyên vẹn qua các bản ghi chép trên giấy