SKKN: “Một số biện pháp nâng cao ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ 24-36 tháng”
MỤC LỤC
MỤC LỤC................................................................................................................1
DANH MỤC VIẾT TẮT...........................................................................................3
II. PHẦN MỞ ĐẦU..................................................................................................4
1. Lý do chọn đề tài:..........................................................................................4
1.1. Cơ sở lí luận............................................................................................4
1.2. Cơ sở thực tiễn.........................................................................................5
2. Mục đích nghiên cứu:....................................................................................6
3. Đối tượng nghiên cứu....................................................................................6
4. Phương pháp nghiên cứu................................................................................6
5. Phạm vi nghiên cứu.........................................................................................6
III. NỘI DUNG.........................................................................................................6
1. Thực trạng của vấn đề:.................................................................................6
1.1. Thuận lợi:.................................................................................................6
1.2. Khó khăn:.................................................................................................7
1.3. Quá trình điều tra thực tiễn:..................................................................7
2. Biện pháp nâng cao ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ 24-36 tháng...................8
2.1. Giáo dục ngôn ngữ cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi:....................................8
2.1.1. Giờ đón trẻ:...........................................................................................8
2.1.2. Giáo dục ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động góc:......................9
2.1.3. Giáo dục ngôn ngữ thông qua hoạt động ngoài trời:......................11
2.2. Giáo dục ngôn ngữ thông qua các giờ học khác:................................12
2.2.1. Thông qua giờ nhận biết tập nói:......................................................12
2.2.2. Thông qua giờ thơ, truyện:.................................................................14
1
SKKN: “Một số biện pháp nâng cao ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ 24-36 tháng”
* Nhà trẻ
(NT)
* Giáo Dục Mầm non
(GDMN)
* An toàn giao thông
(ATGT)
* Phương tiện giao thông
(PTGT)
3
SKKN: “Một số biện pháp nâng cao ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ 24-36 tháng”
I. TÊN ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO NGÔN NGỮ
TIẾNG VIỆT CHO TRẺ 24-36 THÁNG
II. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
1.1. Cơ sở lí luận
Trong quá trình phát triển toàn diện nhân cách con người nói chung và trẻ
Mầm Non nói riêng thì ngôn ngữ có một vai trò rất quan trọng không thể thiếu
được. Ngôn ngữ là phương tiện để giao tiếp quan trọng nhất đặc biệt đối với trẻ
có ý thức, lĩnh hội kinh nghiệm của loài người xây dựng xã hội ngày càng phát
triển hơn.
Ngôn ngữ là phương tiện để phát triển tư duy, là công cụ hoạt động trí tuệ
và là phương tiện để giáo dục tình cảm, thẩm mỹ cho trẻ. Như vậy ngôn ngữ có
vai trò to lớn đối với xã hội và đối với con người. Vấn đề phát triển ngôn ngữ
một cách có hệ thống cho trẻ ngay từ nhỏ là nhiệm vụ vô cùng quan trọng.
1.2. Cơ sở thực tiễn
Là một cô giáo Mầm Non vùng bản trực tiếp dạy trẻ 24- 36 tháng tôi luôn
có những suy nghĩ trăn trở làm sao để dạy các con phát âm chuẩn, chính xác
đúng Tiếng Việt. Vì thế tôi đã dạy các con thông qua các môn học khác nhau và
dạy các con ở mọi lúc mọi nơi qua các hoạt động hàng ngày, từ đó trẻ khám phá
hiểu biết về mọi sự vật hiện tượng, về thế giới xung quanh trẻ, phát triển tư duy.
Tôi thấy mình cần phải đi sâu tìm hiểu kỹ vấn đề này để từ đó rút ra nhiệm vụ
giáo dục cho phù hợp với yêu cầu phát triển của lứa tuổi. Chính vì vậy nên tôi
đã chọn đề tài: “Một số biện pháp nâng cao ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ 24-36
5
SKKN: “Một số biện pháp nâng cao ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ 24-36 tháng”
tháng” nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ đối với chương trình
GDMN mới hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu:
- Tìm hiểu thực trạng của việc một số biện pháp nâng cao ngôn ngữ tiếng
Việt cho trẻ 24-36 tháng” cho trẻ tại lớp trẻ 24- 36 tháng trường Mầm Non A
Dơi
- Đề xuất một số biện pháp nâng cao ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ 24-36
tháng.
3. Đối tượng nghiên cứu
- Trẻ từ 24 – 36 tháng tuổi
sắp xếp thành câu vì thế trẻ thường xuyên bỏ bớt từ, bớt âm khi nói.
- 60% trẻ phát âm chưa chính xác hay ngọng chữ x-s, dấu ngã - dấu sắc,
dấu hỏi – dấu nặng.
- Nhiều trẻ là người dân tộc thiểu số.
1.3. Quá trình điều tra thực tiễn:
Là một giáo viên chủ nhiệm lớp ngay từ đầu năm học tôi luôn quan tâm
đến đặc điểm tâm sinh lý cũng như ngôn ngữ giao tiếp của từng trẻ nhằm khám
phá , tìm hiểu khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ để kịp thời có những biện pháp
giáo dục và nâng cao dần ngôn ngữ cho trẻ. Khi tiếp xúc với trẻ tôi nhận thấy
rằng ngôn ngữ của trẻ còn nhiều hạn chế về câu từ, về cách phát âm. Khi trẻ nói
hầu hết toàn bớt âm trong các từ, giao tiếp không đủ câu cho nên nhiều khi giáo
viên không hiểu trẻ đang nói về cái gì? Cũng có một số trẻ còn hạn chế khi nói,
trẻ chỉ biết chỉ tay vào những thứ mình cần khi cô hỏi. Đây cũng là một trong
những nguyên nhân của việc ngôn ngữ của trẻ còn nghèo nàn.
Qua quá trình tiếp xúc với trẻ bản thân tôi thấy rất lo lắng về vấn đề này và
tôi nghĩ rằng mình phải tìm tòi suy nghĩ và nghiên cứu tài liệu để tìm ra biện
pháp phát triển ngôn ngữ giao tiếp cho trẻ một cách có hiệu quả nhất để có thể
giúp trẻ tự tin hơn khi giao tiếp với mọi người.
* Kết quả điều tra của đầu năm như sau:
Tốt
Phân loại khả năng
S
%
l
Khả năng nghe hiểu ngôn
ngữ và phát âm
Vốn từ
%
l
2
Yếu
6
2,5
1
6
S
%
l
2
0
1
2,5
0
SKKN: “Một số biện pháp nâng cao ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ 24-36 tháng”
6
8,7
1
6
3
1
8,7
3
8,7
1
8,7
8,7
2. Biện pháp nâng cao ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ 24-36 tháng
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là giáo dục khả năng nghe, hiểu ngôn ngữ và
phát âm chuẩn, phát triển vốn từ, dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, phát triển ngôn ngữ
mạch lạc, giáo dục văn hoá giao tiếp lời nói. Ngoài ra ngôn ngữ còn là phương
tiện phát triển thẩm mỹ, tình cảm, đạo đức .Đặc biệt nhờ có ngôn ngữ mà trẻ dễ
dàng tiếp nhận những chuẩn mực đạo đức của xã hội và hoà nhập vào xã hội
tốt hơn. Chính vì vậy mà trong quá trình dạy trẻ tôi đã mạnh dạn áp dụng một số
biện pháp dạy trẻ phát triển ngôn ngữ thông qua một số hoạt động sau:
2.1. Giáo dục ngôn ngữ cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi:
2.1.1. Giờ đón trẻ:
gian chơi của trẻ chiếm nhiều nhất trong thời gian trẻ ở nhà trẻ, là thời gian trẻ
được chơi thoải mái nhất. Trong qúa trình trẻ chơi sử dụng các loại từ khác
nhau, có điều kiện học và sử dụng các từ có nội dung khác nhau.
VD1: Trò chơi trong góc” Thao tác vai” trẻ được chơi với em búp bê và
khi trẻ chơi sẽ giao tiếp với các bạn bằng ngôn ngữ hàng ngày.
+ Bác đã cho búp bê ăn chưa? ( Chưa ạ)
+ Khi ăn bác nhớ đeo yếm để bột không dây ra áo của búp bê nhé! (Vâng ạ)
+ Bột vẫn còn nóng lắm để mẹ thổi cho nguội đã ! (Giả vờ thổi cho nguội)
9
SKKN: “Một số biện pháp nâng cao ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ 24-36 tháng”
+ Búp bê của mẹ ăn ngoan rồi mẹ cho búp bê đi chơi nhé!!
(Âu yếm em búp bê)
Hình ảnh: Trẻ chơi với búp bê trong giờ hoạt động góc
Qua giờ chơi cô không những dạy trẻ kỹ năng sống mà còn dạy trẻ nghe,
hiểu giao tiếp cùng nhau và trao cho nhau những tình cảm yêu thương, gắn bó
của con người
VD2: Trong góc “ Hoạt động với đồ vật” ở chủ điểm “Giao thông” bằng
đồ dùng tự tạo đó chính là những chiếc ô tô đã đục sẵn lỗ và những chiếc ô tô,
máy bay chưa có bánh xe tôi đã cho trẻ lấy dây xâu qua những lỗ đó và tôi sẽ
hỏi trẻ:
+ Linh ơi, con đang xâu gì vậy? ( Con đang xâu ô tô ạ)
+ Con xâu ô tô bằng gì đấy?
(Con xâu bằng dây xâu ạ)
+ Dũng ơi, ô tô này đã đi được chưa hả con? ( Chưa đi được ạ)
những rèn cho trẻ sự khéo léo mà còn góp phần phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
2.1.3. Giáo dục ngôn ngữ thông qua hoạt động ngoài trời:
Hàng ngày đi dạo chơi quanh sân trường tôi thường xuyên đặt câu hỏi để
trẻ được gọi tên các đồ chơi quanh sân trường như:Đu quay, cầu trượt , bập
11
SKKN: “Một số biện pháp nâng cao ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ 24-36 tháng”
bênh….Ngoài ra tôi còn giới thiệu cho trẻ biết cây xanh, cây hoa ở vườn trường
và hỏi trẻ:
+ Cây hoa này có màu gì? ( Trẻ trả lời màu đỏ)
+ Thân cây này có to không? ( Có ạ)
+ Cây phượng vĩ này rất cao và có lá màu gì? (Màu xanh ạ)
+ Các con có nhìn thấy con gì đang bay đến không? (Có ạ)
+ Con gì vậy? (Con chim)
+ Con chim kêu như thế nào? (Chích chích….)
Hình ảnh: Hoạt động ngoài trời
* Giáo dục:
+ Các con nhớ cây xanh rất tốt cho sức khoẻ của con người các con không
được hái hoa, bẻ cành mà phải tưới cây để cây mau lớn nhé! ( Vâng ạ)
Qua những câu hỏi cô đặt ra sẽ giúp trẻ tích luỹ được những vốn từ mới
ngoài ra còn giúp trẻ phát triển ngôn ngữ chính xác, mạch lạc , rõ ràng hơn.
Ở lứa tuổi này trẻ nhiều khi hay hỏi và trả lời trống không hoặc nói những
câu không có nghĩa. Vì vậy bản thân tôi luôn chú ý lắng nghe và nhắc nhở trẻ,
nói mẫu cho trẻ nghe và yêu cầu trẻ nhắc lại.
2.2. Giáo dục ngôn ngữ thông qua các giờ học khác:
2.2.1. Thông qua giờ nhận biết tập nói:
+ Trên mình cá có gì mà lấp lánh thế ? ( Có vẩy)
Trong khi trẻ trả lời cô phải chú ý đến câu trả lời của trẻ. Trẻ phải nói được
cả câu theo yêu cầu câu hỏi của cô. Nếu trẻ nói cộc lốc, thiếu từ cô phải sửa
ngay cho trẻ.
VD2 :
Bài nhận biết “ Ô tô”
Khi vào bài tôi đặt câu đố:
“ Xe gì bốn bánh
Chạy ở trên đường
Còi kêu bim bim
Chở hàng chở khách” ( Ô tô)
- Trẻ trả lời đó là ô tô tôi đưa chiếc ô tô cho trẻ xem và hỏi:
+ Xe gì đây?
( Ô tô ạ )
13
SKKN: “Một số biện pháp nâng cao ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ 24-36 tháng”
+ Ô tô có màu gì? ( Màu đỏ ạ )
+ Ô tô đi ở đâu?
( Ô tô đi ở trên đường ạ)
+ Ô tô dùng để làm gì? ( Dùng để đi ạ)
+ Còi ô tô kêu như thế nào? ( bíp bíp..)
+ Đây là cái gì?
14
SKKN: “Một số biện pháp nâng cao ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ 24-36 tháng”
+ Hai bạn Gà và Vịt trong câu truyện cô kể rủ nhau đi đâu?
( Đi kiếm ăn ạ)
+ Vịt kiếm ăn ở đâu?
( Dưới ao )
+ Thế còn bạn Gà kiếm ăn ở đâu?
+ Bạn Gà kiếm ăn như thế nào?
( Trên bãi cỏ)
( Bới đất tìm giun )
+ Khi hai bạn đang kiếm ăn thì con gì xuất hiện đuổi bắt Gà con?
( Con Cáo)
+ Vịt con đã cứu Gà con như thế nào? ( Gà nhảy phốc lên lưng Vịt ,
Vịt bơi ra xa).
+ Qua câu truyện con thấy tình bạn của hai bạn Gà và Vịt ra sao?
( Thương yêu nhau)
+ Nếu như bạn gặp khó khăn thì các con phải làm gì? ( Giúp đỡ bạn ạ).
- Cô kể 1-2 lần cho trẻ nghe giúp trẻ hiểu thêm về tác phẩm và qua đó
lấy nhân vật để giáo dục trẻ phải biết yêu thương và giúp đỡ bạn trong lúc gặp
khó khăn.
VD2:
Qua bài thơ “ Cây bắp cải ” tôi muốn cung cấp cho trẻ từ “ Sắp
mạnh dạn hơn khi trả lời.
+ Trẻ hay nói ô tô
-
ô chô.
+ Trẻ nói Thỏ ngoan
- Thỏ ngan
+ Bác Gấu
- Bác ấu
+ Con Cáo
- Con áo
………….
………..
- Mỗi khi trẻ nói sai tôi dừng lại sửa sai luôn cho trẻ bằng cách : tôi
nói mẫu cho trẻ nghe 1-2 lần sau đó yêu cầu trẻ nói theo.
- Thể hiện sắc thái, ngữ điệu nhân vật sẽ cuốn hút rất nhiều trẻ tham
gia đặc biệt những trẻ nhút nhát qua đó cũng mạnh dạn hơn. Đối với những trẻ
đó tôi động viên , khích lệ trẻ kịp thời.
- Tôi cho trẻ thể hiện ngữ điệu của các nhân vật trong truyện “ Thỏ
ngoan”
Cái vòi đi trước.
( Trẻ đưa tay ra phía trước giả làm vòi con voi)
+ Câu thứ hai : Hai chân trước đi trước
Hai chân sau đi sau.
( Hai tay chống hông, hai chân nhấc lên nhấc xuống)
+ Câu cuối :
Còn cái đuôi đi sau rốt
Tôi xin kể nốt
Câu chuyên con voi.
( Một tay chống hông, một tay đưa ra đằng sau vờ làm đuôi con voi)
2.2.4. Thông qua giờ vận động :
Trong góc vận động của lớp tôi đã sử dụng những thùng bìa để làm thành
tàu hoả cho trẻ chơi. Mỗi thùng làm thành một toa tàu. Trong khi chơi trẻ có
thể vừa chơi vừa kết hợp âm nhạc hát :” Đoàn tàu tí hon”, “ Tàu vào
ga”…..vận dụng vào phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
17
SKKN: “Một số biện pháp nâng cao ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ 24-36 tháng”
Tôi còn phân loại màu xanh, đỏ, vàng của những chiếc vòng để khi trẻ
phân biệt màu không bị nhầm lẫn. Khi trẻ chơi với vòng tôi có thể hỏi trẻ giúp
ngôn ngữ của trẻ thêm mạch lạc, rõ ràng hơn:
+ Vòng này có màu gì hả con?
+ Thế còn vòng này có màu gì đây?
( Màu đỏ ạ)
( Màu xanh ạ)
SKKN: “Một số biện pháp nâng cao ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ 24-36 tháng”
- Tôi cho trẻ ngồi chiếu xung quanh cô. Cô nhắc tên đồ dùng nào thì
trẻ phải nói nhanh đồ dùng đó dùng để làm gì?
- Cô nói:
+ Cái bát dùng để làm gì?
( Cái bát đựng cơm)
+ Cái cốc dùng để làm gì? (Dùng để uống nước)
+ Cái mũ để làm gì?
( Cái mũ để đội)
+ Cái áo để làm gì?
( Cái áo để mặc)
…………………..
………………
Sau khi hỏi trẻ xong tôi vận dụng trò chơi này để rèn sự nhanh nhẹn và tư
duy của trẻ. Tôi phát cho mỗi trẻ một lô tô đồ dùng khác nhau. Tôi yêu cầu trẻ
gọi tên đồ dùng và xác định nơi cất đồ dùng đó trong lớp. Sau đó tôi hô: 1,2,3
yêu cầu trẻ chạy nhanh về đúng nơi đồ dùng.
* Trò chơi 2: “ Con muỗi ”
* Cách chơi:
- Cô đứng phía trước trẻ, cô cho trẻ đọc và làm động tác theo cô.
+ Hôm nay, ai đưa con đến trường?
+ Mẹ con đưa đến trường bằng PT gì?
+ Cô nào đón con vào lớp?
+ Hôm qua chủ nhật, bố mẹ con có đưa con đi đâu không?
+ Con đi với ai?
+ Con đi bằng PT gì?
+ Khi đi đường con nhìn thấy gì ?
+ Bạn nào đã được đi ô tô rồi ?
+ Ô tô kêu như thế nào ?
+ Khi ngồi trên ô tô phải như thế nào để đảm bảo ATGT?
Sau khi đặt những câu hỏi như vậy tôi khuyến khích trẻ kể tên những loại
PTGT khác mà trẻ biết.
Tiếp tục cho trẻ quan sát mô hình PTGT và cho trẻ nghe âm thanh của
PTGT yêu cầu trẻ đoán đó là PTGT nào.
* Trò chơi 4: “Trò chuyện cùng cô ”
Qua trò chơi này trẻ được phát âm nhiều ,tiếp xúc nhiều với ngôn ngữ mới
qua giao tiếp với cô.
* Tiến hành:
20
SKKN: “Một số biện pháp nâng cao ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ 24-36 tháng”
Trong ngày tuỳ từng thời điểm mà cô dành thời gian vỗ về ôm ấp trẻ, nói
chuyện với trẻ:
* Khi cho ăn :
+ “ Bạn Hùng ăn giỏi nào, con ăn cơm với gì đấy?
(Con ăn cơm với thịt ạ)
+ “ Bạn Hà ăn được mấy bát cơm rồi?
* Khi thay quần áo cho trẻ cô cũng cần nựng trẻ:
những kiến thức đã học vào cuộc sống của trẻ, trẻ được giao tiếp, được sửa âm,
sửa ngọng.
Ngoài ra tôi còn kết hợp với phụ huynh sưu tầm những quyển thơ, truyện
có chữ, hình ảnh to, rõ nét , nội dung phù hợp với lứa tuổi nhà trẻ để cho trẻ làm
quen và để xây dựng góc thư viện sách truyện của lớp.
3. Kết quả đạt được khi thực hiện đề tài:
Sau khi áp dụng “ Một số biện pháp nâng cao ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ
24-36 tháng” trong cả năm học tôi thấy có những chuyển biến rõ rệt , phần lớn
số trẻ trong lớp đã có một số vốn từ rất khá, các cháu nói năng mạch lạc , rõ ràng
được thể hiện như sau:
•
Trẻ mạnh dạn , tự tin hơn trong khi giao tiếp.
•
Trẻ khi giao tiếp biết nói đủ câu hoàn chỉnh.
•
Trẻ không còn nói ngọng, nói lắp nữa.
Ngôn ngữ của trẻ đã phong phú hơn và trẻ đã biết vận dụng vốn từ vào
cuộc sống hàng ngày.
Bằng một số kinh nghiệm của mình mà tôi đã áp dụng trong việc phát triển
ngôn ngữ của trẻ lứa tuổi nhà trẻ trong năm học vừa qua và kết quả đạt được
như sau:
*Kết quả đạt được cuối năm như sau:
Khảo sát cuối năm
Tốt
l
2
0
1
2,5
0
B
S
l
Yế
%
u
S
l
%
0
0
0
0
1
8,75
0
0
0
0
0
0
0
0
0
6
00
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở trường Mầm Non là vấn đề rất quan trọng và
cần thiết, mức độ phát triển ngôn ngữ của trẻ còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố
khác nhau.
Phát triển ngôn ngữ giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống giao tiếp hàng
ngày và hoạt động nhận thức của con người nói chung, sự phát triển tâm lý nhận
thức của trẻ nói riêng, đặc biệt là trẻ lứa tuổi 24- 36 tháng khả năng ngôn ngữ
* Tích cực cho trẻ làm quen với thiên nhiên để phát triển khả năng quan
sát, giúp trẻ củng cố và tư duy hoá các biểu tượng bằng ngôn từ.
* Học thêm tiếng B Ru- Vân Kiều.
2. Một số ý kiến đề xuất:
- Tiếp tục cho giáo viên đi thăm quan môi trường sư phạm và các tiết dạy
mẫu ở trường bạn để học hỏi kinh nghiệm.
- Tăng cường tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ
cho GV
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Điều lệ trường Mầm non.
2. Nguyễn Xuân Khoa (1997), Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo, NXB
Giáo dục.
3. Nguyễn Quang Ninh, Bùi Kim Tuyến, Lưu Thị Lan, Nguyễn Thanh
Hồng (2001), Tiếng Việt và phương pháp phát triển lời nói cho trẻ, NXB Giáo dục.
4. Hoàng Kim Oanh, Phạm Thị Việt, Nguyễn Kim Đức (2001), Phương pháp
phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi, NXB ĐHQG Hà Nội.
5. Đinh Hồng Thái (2007), Giáo trình phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ em,
NXBGD, Hà Nội.
24
SKKN: “Một số biện pháp nâng cao ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ 24-36 tháng”
6. Đinh Hồng Thái (chủ biên), Trần Thị Mai (2008), Giáo trình phương pháp
phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, NXBGD, Hà Nội.