Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con giai đoạn 1 – 21 ngày tuổi tại công ty TNHH MTV lợn giống lạc vệ,, so sánh tác dụng của hai loại thuốc colistin 1200 và hancotmix forte trong điều trị bệnh - Pdf 40

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------

PHAN THỊ CƢƠNG

Tên đề tài:
TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON GIAI ĐOẠN 1 – 21
NGÀY TUỔI TẠI CÔNG TY TNHH MTV LỢN GIỐNG LẠC VỆ,
HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH, SO SÁNH TÁC DỤNG
CỦA HAI LOẠI THUỐC COLISTIN - 1200 VÀ HANCOTMIX-FORTE
TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú y
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khoá học: 2011 – 2016

Thái Nguyên, năm 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------

PHAN THỊ CƢƠNG
Tên đề tài:
TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON GIAI ĐOẠN 1 – 21
NGÀY TUỔI TẠI CÔNG TY TNHH MTV LỢN GIỐNG LẠC VỆ,

tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình.
Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã tạo
điều kiện, giúp đỡ, động viên em trong suốt quá trình học tập cũng như trong
thời gian thực tập tốt nghiệp.
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 11 năm 2015
Sinh viên

Phan Thị Cƣơng


ii

LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành chương trình học tập trong nhà trường, thực hiện phương
châm “Học đi đôi với hành”, “Lý thuyết gắn liền với thực tiễn sản xuất”. Giai
đoạn thực tập rất quan trọng đối với mỗi sinh viên, để củng cố và hệ thống lại
toàn bộ những kiến thức đã học, nâng cao tay nghề. Đồng thời, tạo cho mình sự tự
lập, lòng yêu nghề, có phong cách làm việc đúng đắn, năng lực làm việc đáp ứng
nhu cầu của thực tiễn sản xuất. Nắm được phương pháp tổ chức và tiến hành
nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, sáng
tạo khi ra trường sẽ trở thành một người cán bộ khoa học có chuyên môn, đáp ứng
nhu cầu thực tiễn, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển đất nước.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và sự đồng ý của Ban chủ nhiệm
khoa Chăn nuôi - Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, của Thầy
giáo hướng dẫn, được sự tiếp nhận của cơ sở, em tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con giai đoạn 1 – 21 ngày tuổi tại
công ty TNHH MTV lợn giống Lạc Vệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, so
sánh tác dụng của hai loại thuốc Colistin - 1200 và Hancotmix-Forte
trong điều trị bệnh” .
Trong thời gian thực tập tại Xí nghiệp lợn giống Lạc Vệ - Bắc Ninh, được sự


iv

DANH MỤC HÌNH

Trang
Hình 4.1. Tỷ lệ mắc bệnh PTLC giai đoạn từ 1 – 21 ngày tuổi .......................... 33
Hình 4.2. Tỷ lệ lợn con mắc bệnh ỉa phân trắng theo ngày tuổi ......................... 35
Hình 4.3. Tỷ lệ mắc bệnh lợn con theo giống ..................................................... 38
Hình 4.4. So sánh tác dụng của hai loại thuốc kháng sinh Colistin-1200 và
Hancotmix-Forte ................................................................................ 39
Hình 4.5. Tỷ lệ tái phát và tỷ lệ khỏi bệnh sau tái phát của hai loại thuốc ......... 41


v

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CS

: Cộng sự

E.coli

: Escherichia coli

Nxb

: Nhà xuất bản


2.1.1. Đặc điểm sinh lý của lợn con ở giai đoạn theo mẹ ..................................... 3
2.1.2. Tìm hiểu về bệnh phân trắng lợn con .......................................................... 7
2.1.3. Khái quát về vi khuẩn E.coli ..................................................................... 14
2.1.4. Cơ chế gây bệnh của vi khuẩn E.coli ........................................................ 14
2.1.5 Triệu chứng của bệnh ................................................................................. 15
2.1.6. Bệnh tích của bệnh .................................................................................... 16
2.1.7. Phương pháp phòng bệnh và trị bệnh phân trắng lợn con ........................ 16
2.1.8. Một số đơn thuốc được sử dụng trong điều trị bệnh LCPT tại Xí nghiệp
lợn giống Lạc Vệ - Bắc Ninh .............................................................................. 19
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước ......................................... 20
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước .............................................................. 20
2.2.2. Nghiên cứu ngoài nước ............................................................................. 22
Phần 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................ 23
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ................................................................... 23
3.3. Nội dung nghiên cứu .................................................................................... 23


vii

3.3.1. Theo dõi tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con nuôi tại Xí nghiệp lợn giống
Lạc Vệ - Bắc Ninh ............................................................................................... 23
3.3.2. So sánh tác dụng của hai loại thuốc Colistin–1200 và Hancotmix-Forte ......... 23
3.3.3. Kết quả điều trị sau tái phát, thời gian và chi phí trung bình điều trị của
hai loại thuốc Colistin – 1200 và Hancotmix-Forte ........................................... 23
3.4. Phương pháp tiến hành ................................................................................. 23
3.4.1. Bố trí thí nghiệm ....................................................................................... 23
3.4.2. Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi. ............................................ 25
3.4.3. Phương pháp xử lý số liệu ......................................................................... 26
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ................................. 27

Từ đó làm cho số lượng lợn tăng rất nhanh chóng. Để đảm bảo cho lợn
sinh trưởng và phát triển tốt đem lại hiệu quả kinh tế cao thì công tác phòng
chống dịch bệnh rất quan trọng, cần được chú ý ngay từ khi lợn sơ sinh đến
lúc lợn trưởng thành.
Tuy nhiên, với điều kiện thời tiết nước ta thì quá trình chăm sóc và nuôi
dưỡng cho lợn cũng vấp phải những khó khăn đáng kể. Một trong những bệnh
thường xảy ra với lợn con giai đoạn 1-21 ngày tuổi là bệnh phân trắng, bệnh
rất dễ xảy ra và khi xảy ra nó sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng,
phát triển của lợn con. Nếu không chữa trị kịp thời lợn sẽ chết rất nhanh gây
thiệt hại lớn đến ngành chăn nuôi.
Từ thực tế trên, để đánh giá tình hình nhiễm bệnh và khả năng mẫn cảm của
lợn con giai đoạn 1-21 ngày tuổi. Nhằm đề ra các biện pháp phòng chống hạn
chế phát sinh bệnh phân trắng ở lợn con, em tiến hành đề tài: ““Tình hình
mắc bệnh phân trắng lợn con giai đoạn 1 – 21 ngày tuổi tại công ty TNHH
MTV lợn giống Lạc Vệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, so sánh tác dụng
của hai loại thuốc Colistin - 1200 và Hancotmix-Forte trong điều trị bệnh”.


2

1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu tình hình chăn nuôi của Xí nghiệp lợn giống Lạc Vệ - Bắc Ninh.
- Tìm hiểu tình hình dịch bệnh xảy ra trên đàn lợn của Xí nghiệp lợn
giống Lạc Vệ - Bắc Ninh.
- Tìm hiểu tình hình bệnh lợn con phân trắng (LCPT) của Xí nghiệp lợn
giống Lạc Vệ - Bắc Ninh.
- Thử nghiệm hai loại thuốc kháng sinh điều trị bệnh LCPT tại Xí
nghiệp lợn giống Lạc Vệ - Bắc Ninh.
- Kết quả thử nghiệm hai loại thuốc kháng sinh điều trị LCPT tại Xí
nghiệp lợn giống Lạc Vệ - Bắc Ninh.

thiếu HCl, giúp hoạt hoá hoạt động tiết dịch, tạo khả năng xây dựng nhanh
chóng các đáp ứng miễn dịch của cơ thể.
Sau 20 ngày lượng sữa mẹ giảm dần trong khi nhu cầu của lợn con tăng
lên. Vì vậy, lợn con rất dễ rơi vào trạng thái khủng hoảng. Để khắc phục tình
trạng này cần tập cho lợn con tập ăn sớm để bổ sung thêm chất dinh dưỡng,
có tác dụng kích thích tăng tiết dịch, tăng hàm lượng HCl và men tiêu hóa; sự
phát triển của dạ dày và ruột để đáp ứng kịp thời với chế độ sau cai sữa.


4

* Đặc điểm thích ứng của lợn con
Sự thích ứng của lợn con khi thay đổi môi trường sống là rất kém. Đặc
biệt ở giai đoạn lợn con chuyển từ môi trường sống trong bụng mẹ ra môi
trường bên ngoài, từ nuôi dưỡng qua sữa mẹ đến chế độ tập ăn sớm.
Hơn nữa, sự thành thục và thiếu hoàn chỉnh về chức năng của các cơ
quan nội tạng, nhất là bộ máy tiêu hoá, liên quan mật thiết đến sự phát triển
của hệ vi sinh vật có lợi hoặc có hại trong ruột và sức đề kháng của cơ thể
chống lại bệnh tật. Quá trình tuần hoàn chuyển từ tuần hoàn máu qua nhau
thai sang tuần hoàn nhờ tim phổi, toàn bộ máu ở mạch máu rốn qua gan. Sự
cân bằng nhiệt của lợn con cũng phải tự thiết lập để thích ứng với môi trường
bên ngoài, không thể nhờ vào cân bằng nhiệt lượng của cơ thể mẹ như trong
giai đoạn bào thai.
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1986) [6], quá trình chuyển hoá, cân bằng
năng lượng từ giai đoạn bào thai sang giai đoạn sau khi sinh rất chậm, chưa
thích nghi ngay nên dễ bị tác động bởi môi trường. Nhờ quá trình oxy hoá mô
mỡ nên lợn con điều chỉnh được thân nhiệt. Khả năng điều chỉnh thân nhiệt
khác nhau ở lợn con là do mức độ phát triển khác nhau của mô mỡ ở từng cá
thể, từng loại gia súc. Lợn con có nhu cầu dinh dưỡng rất cao. Axit amin là
nguyên liệu chủ yếu cho sự sinh trưởng và phát triển của lợn con. Tốc độ sinh

sơ sinh, chưa hình thành hoặc hình thành không ổn định hệ vi sinh vật có lợi
này, có nghĩa là chưa có vi khuẩn ức chế và tiêu diệt sự xâm nhập của vi
khuẩn gây bệnh đường tiêu hoá.
Hệ vi sinh vật có hại hay gặp trong đường ruột là vi khuẩn Salmonella
spp, E.coli, một số chủng Clostridium spp, Shigella. Cho đến nay nhiều công
bố nghiên cứu khoa học đã cho biết nguyên nhân gây tiêu chảy ở gia súc non
gồm 3 loại chính là E.coli, Salmonella spp, Clostridium perfrigens.
Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2001) [13], trong hệ vi khuẩn đường
ruột, vi khuẩn E.coli là phổ biến nhất và chúng xuất hiện sớm trong đường


6

ruột của người, động vật sơ sinh, thường ở phần sau của ruột, đôi khi còn thấy
ở niêm mạc của nhiều bộ phận trong cơ thể Clostridium perfrigens typ C
gây bệnh viêm ruột hoại tử cho lợn ở lứa tuổi 1 đến 14 ngày tuổi, đặc biệt
xảy ra trầm trọng ở 1 đến 7 ngày tuổi, tỷ lệ chết cao (50%), bệnh lây nhiễm
qua phân.
Tiêu chảy ở lợn con do Salmonella cholerasuis gây ra thường thể hiện
ở 2 dạng là bại huyết và thần kinh. Khi mổ khám chúng ta thấy có hiện tượng
viêm ruột hoại tử có xuất huyết ở ruột, màng treo ruột, viêm màng ruột, đoạn
trước trực tràng phình to.
* Khả năng đáp ứng miễn dịch của lợn con
Khả năng miễn dịch của cơ thể là khả năng phản ứng của cơ thể đối với
các chất lạ khi xâm nhập vào cơ thể. Các chất lạ có thể là mầm bệnh, các
mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể gia súc non tương đối dễ do các cơ quan bảo
vệ cơ thể phát triển chưa hoàn chỉnh. Hệ thống tiêu hoá của lợn con lượng
enzym tiêu hoá và lượng HCl tiết ra chưa đáp ứng đủ cho quá trình tiêu
hoá, gây rối loạn trao đổi chất, tiêu hoá và hấp thu dinh dưỡng kém. Do
vậy, các mầm bệnh như E.coli, Salmonella... dễ dàng xâm nhập vào cơ thể

như thời tiết khí hậu, chất lượng sữa mẹ, vệ sinh chuồng trại, chăm sóc nuôi
dưỡng lợn con, lợn mẹ kém…gây nên.
- Quan điểm thứ hai cho là bệnh nhiễm trùng đường tiêu hoá, chủ yếu
do vi khuẩn E.coli gây ra.
Gần đây nhiều nhà nghiên cứu cho rằng bệnh do nhiều nguyên nhân
phối hợp, liên quan đến hàng loạt các yếu tố. Do đó việc phân chia nguyên
nhân nào là chính, nguyên nhân nào là phụ để có biện pháp điều trị hiệu quả.
+ Yếu tố ngoại cảnh
Trong điều kiện sinh lý bình thường có sự cân bằng giữa sức đề kháng
của cơ thể đối với các yếu tố gây bệnh. Khi sức đề kháng của cơ thể giảm, thì
cân bằng này mất đi, làm cho cơ thể rơi vào trạng thái bệnh lý.


8

Theo Đào Trọng Đạt và Phan Thanh Phượng (1986) [5], khi còn nằm
trong bụng mẹ, sự cân bằng nhiệt của bào thai do thân nhiệt của cơ thể mẹ
quy định. Sau khi sinh ra cơ thể lợn con chưa thể bù đắp được lượng nhiệt
mất đi do ảnh hưởng của môi trường bên ngoài. Lúc này, các yếu tố bất lợi
làm giảm sức đề kháng của cơ thể, tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh phát sinh
và phát triển. Trong những yếu tố về khí hậu thì yếu tố về nhiệt độ, độ ẩm là
quan trọng nhất. Nhiệt độ 28oC- 30oC, độ ẩm từ 75%- 85% là thích hợp cho
lợn con. Vì vậy vào những tháng giao mùa, tháng mưa nhiều, độ ẩm cao 86%90%, nhiệt độ thay đổi thất thường lợn con sẽ mắc bệnh nhiều, có khi tỷ lệ
bệnh phân trắng lợn con trong đàn 90% - 100%.
Nhiều tác giả cho rằng nguyên nhân của bệnh phân trắng lợn con không
có tính đặc hiệu nhưng mang tính tổng hợp, trong đó các yếu tố lạnh, ẩm được
đánh giá là yếu tố hàng đầu của bệnh. Lạnh, ẩm làm hệ thống điều hoà bị rối
loạn, dẫn đến rối loạn trao đổi chất của các cơ quan, các mô bào, các tế bào
của cơ thể, làm giảm sức đề kháng, tạo điều kiện cho virus, vi khuẩn có sẵn
trong đường ruột hay từ ngoài vào có cơ hội phát triển tăng nhanh về số lượng

trên động vật thí nghiệm.
- Vi khuẩn Salmonella
Salmonella có mặt trong thức ăn, nước uống, môi trường thiên nhiên và
trong cơ thể động vật, có khả năng gây bệnh khi gặp điều kiện thuận lợi.
Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2001) [13], Salmonella cũng đóng vai
trò rất quan trọng trong nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy ở lợn con vì vi
khuẩn này là nguyên nhân gây bệnh phó thương hàn ở lợn bao gồm
Salmonelle cholera suis (chủng kunzendorf) và Salmonella typhy suis (chủng
Voldagsen).
Theo Reynolda và cs (1967) [23], ngoài Salmonella cholera suis gây
bệnh phó thương hàn cho lợn, trong một số trường hợp còn gặp Slmonella
enteritidis và Salmonella dublin ở lợn con đang bú sữa.


10

- Vi khuẩn Clostridium perfrigens
Một trong những nguyên nhân quan trọng khác đóng vai trò kế phát
gây bệnh là vi khuẩn yếm khí Cl. perfrigens hình thành độc tố gây dung
huyết, gây hoại tử, tổ chức phần mềm và gây chết. Vi khuẩn có khả năng gây
ra các chứng nhiễm độc, viêm ruột xuất huyết trầm trọng ở lợn con.
Các chủng Cl. perfrigens sản sinh ra nhiều độc tố và enzym khác nhau,
mỗi chủng có những đặc điểm riêng trong việc sản sinh ra một vài loại độc tố
hay enzym nào đó.
Theo Bergeland và Taylor (1992) [19], những độc tố gây bệnh chủ yếu
do Cl. perfrigens bao gồm độc tố α, β, δ. Dựa vào hầu hết các đặc điểm mô tả
thì Cl. perfrigens typ C gây ra viêm ruột hoại tử. Cl. perfrigens typ C sản sinh
ra độc tố α, β chủ yếu là độc tố β, nhân tố quan trọng nhất trong sinh bệnh học
của bệnh viêm ruột hoại tử do Cl. perfrigens typ C gây ra. Bệnh xảy ra chủ
yếu trên lợn con ở giai đoạn theo mẹ, lứa tuổi mắc phổ biến nhất là 12 giờ sau

Tác hại của ký sinh trùng là do chúng ký sinh, phát triển trong
đường tiêu hoá, cướp chất dinh dưỡng của cơ thể, tiết độc tố, quá trình
bám dính và di hành chúng làm tổn thương niêm mạc ruột, giảm sức đề
kháng của cơ thể lợn.
Tất cả các yếu tố trên tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn xâm
nhiễm, bội nhiễm và gây bệnh.
Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [11], Giun đũa lợn
(Ascarisuum), sán lá ruột lợn (Fassiolopsis buski), ký sinh trùng đường
máu như tiên mao trùng (T.evansi) với triệu chứng tiêu chảy cấp tính hoặc
mãn tính.
+ Do độc tố nấm mốc
Độc tố nấm mốc với hàm lượng cao có thể gây chết hàng loạt gia súc,
với biểu hiện là nhiễm độc đường tiêu hoá, gây tiêu chảy dữ dội. Ngoài ra việc
gây tiêu chảy cho gia súc, độc tố nấm mốc còn gây độc trực tiếp cho người
dùng thực phẩm bị nhiễm nấm mốc hoặc gián tiếp từ những độc tố tồn dư trong
thực phẩm.


12

+ Do điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng
Tình trạng sức khoẻ và chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng lợn mẹ ảnh
hưởng đến dinh dưỡng bào thai và tích luỹ chất dinh dưỡng để tạo ra sữa
trong giai đoạn cuối. Việc nuôi dưỡng lợn nái chửa kỳ cuối rất quan
trọng, nó quyết định trọng lượng sơ sinh của lợn con - một trong những
chỉ tiêu để nâng cao năng suất của đàn nái sinh sản, đồng thời nói lên sức
khoẻ của lợn con sơ sinh.
Các chất dinh dưỡng cung cấp cho lợn mẹ, ngoài việc đáp ứng nhu cầu
năng lượng và protein còn cung cấp các vitamin, khoáng, đặc biệt là protein
tạo kháng thể chống lại các vi khuẩn có hại.

thải nhiệt. Đặc điểm này đã lý giải tại sao bệnh lại hay xảy ra hàng loạt ồ ạt
khi thời tiết thay đổi thất thường.
Theo Cù Xuân Dần (1996) [4], lượng sữa mẹ từ khi đẻ tăng đến ngày
thứ 15 là cao nhất, đến ngày thứ 20 đột ngột giảm xuống thấp trong khi nhu
cầu về sữa mẹ của lợn con tăng lên. Do đó nếu ở giai đoạn này lợn mẹ mà
thiếu chất dinh dưỡng thì lợn con lại càng thiếu sữa, cơ thể lợn con trở nên
suy nhược, giảm sức đề kháng, lợn dễ bị stress.
Một trong các nguyên nhân quan trọng nhất gây bệnh đường tiêu hóa là
do thiếu sắt. Khi còn là bào thai lượng sắt cần thiết được mẹ cung cấp. Khi ra
ngoài môi trường sống, sữa mẹ chỉ cung cấp được 1/6 lượng sắt mà cơ thể
non yêu cầu. Trong khi cơ thể sơ sinh cần tới 40- 50 mg sắt/ngày, nhưng lợn
con chỉ nhận được 1mg/ngày thông qua sữa mẹ. Vì vậy, cần bổ sung thêm ít
nhất là 200- 250mg/con để lợn con tránh thiếu máu. Trong sữa mẹ không
những chỉ thiếu sắt mà còn thiếu cả Coban, Vitamin B 12 tham gia vào quá
trình tạo máu, tổng hợp và hoạt hóa một số enzym. Do đó lợn con dễ sinh bần
huyết, cơ thể suy yếu, sức đề kháng giảm, lợn con dễ mắc bệnh phân trắng.


14

2.1.3. Khái quát về vi khuẩn E.coli
Trực khuẩn E.coli biểu hiện các đặc tính sinh vật học rõ rệt, một quy
luật thường thấy đó là trực khuẩn đường ruột lên men lactoza tạo a.xít và sinh
hơi. Đó là đặc tính chủ yếu của vi khuẩn đường ruột với các loại vi khuẩn
khác nhau thuộc họ Entero bacteria ceae.
Trực khuẩn đường ruột E.coli có khả năng lên men các loại đường có
nhiều phân tử rượu như: Glucoza, Mannit, Duxit, Saccaroza, Arabonosa. Phần
lớn chúng tạo ra Indol làm sữa có màu quỳ tím.
Kháng nguyên O: Là kháng nguyên thân chịu nhiệt ở 100 0 C trong
vòng 2giờ 30 phút vẫn giữ được tính kháng nguyên, vẫn giữ được khả năng

do ỉa chảy mất nước nhiều. Trong 1 đến 2 ngày đầu mắc bệnh lợn vẫn bú sau
đó gầy tọp nhanh, lông xù, đuôi rũ, da nhăn nheo, nhợt nhạt, hai chân sau
dúm lại và run rẩy, đuôi và khoeo dính đầy phân.
Tiêu chảy ở mức độ nhẹ lợn không có biểu hiện mất nước nhưng cũng
có thể tiêu chảy nặng. Khối lượng cơ thể bị giảm 30- 40% do mất nước. Cơ
bụng hóp lại, lợn gầy, suy kiệt và đi siêu vẹo, mắt trũng sâu, da tái xám và
nhợt nhạt. Trong trường hợp mãn tính, da vùng hậu môn có thể đỏ lên do tiếp
xúc với phân kiềm tính, lợn ít bị mất nước và nếu điều trị tích cực thì có thể
khỏi bệnh.
Ngoài việc chẩn đoán dựa vào triệu chứng trên thì bệnh còn được xác
định chủ yếu dựa vào trạng thái biến đổi của phân. Về trạng thái phân có thể
chia làm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn đầu kể từ 12- 24 giờ trước khi bị bệnh (thời kỳ nung bệnh),
lúc này thấy lợn đi ỉa khó khăn, phân táo đen và nhỏ như hạt đỗ đen.
- Giai đoạn tiếp theo phân táo bón chuyển sang dạng sền sệt, màu vàng,
2 đến 3 ngày sau phân chuyển sang màu trắng như vôi hoặc trắng xám. Phân


16

ngày một lỏng hơn, trong phân có lẫn những hạt sữa chưa tiêu hoá, lổn nhổn
như vôi hoặc có nhiều bột. Có trường hợp mắc bệnh đến ngày thứ 3 phân đã
loãng như nước, tháo tung toé. Lúc này lợn con mất nước nặng, nếu kiểm tra
phân dưới kính hiển vi sẽ thấy trong phân có những hạt mỡ chưa tiêu hoá, các
tế bào niêm mạc ruột hoặc có thể lẫn một ít hồng cầu.
- Giai đoạn bệnh chuyển sang lành, phân từ màu trắng xám chuyển
thành xám đen. Phân đặc dần thành khuôn như phân lợn khoẻ.
2.1.6. Bệnh tích của bệnh
Xác chết gầy, đuôi và khoeo dính đầy phân, mắt trũng sâu, lông da khô,
mất tính đàn hồi.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status