Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của trung quốc và gợi ý đối với việt nam - Pdf 40

Lời nói đầu
Trong những năm cuối của thế kỷ XX, nền kinh tế Trung Quốc trỗi dậy mạnh
mẽ, là hiện tượng nổi bật nhất, thu hút nhiều sự chú ý nhất ở khu vực Châu á - Thái
Bình Dương và trên toàn thế giới. Sau hơn 20 năm (1979-2003) thực hiện cải cách
mở cửa, bộ mặt kinh tế xã hội Trung Quốc đã biến đổi sâu sắc.Về nhiều mặt, Trung
Quốc đang chiếm những vị trí đáng kể trong nền kinh tế thế giới, đứng hàng đầu về
tốc độ tăng trưởng với một thực lực kinh tế không nhỏ. Đặc biệt là trong lĩnh vực
ngoại thương, trải qua gần một phần tư thế kỷ, ngoại thương Trung Quốc đã thu
được nhiều thành tựu rực rỡ: từ chỗ xếp hàng thứ 32 trên thế giới về xuất nhập
khẩu (năm 1978) đến nay Trung Quốc đã là cường quốc ngoại thương lớn thứ 5
trên thế giới với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lên tới 620,8 tỷ USD năm 2002
(tăng gấp 30 lần so với năm 1978). Hơn thế nữa, vị thế và ảnh hưởng của Trung
Quốc trong thương mại quốc tế ngày càng được nâng cao, ngoại thương Trung
Quốc đang đứng trước những cơ hội mới để phát triển tốt đẹp hơn, đặc biệt là sau
sự kiện Trung Quốc đã trở thành thành viên thứ 143 của Tổ chức thương mại thế
giới ngay vào năm đầu tiên của thế kỷ XXI.
Việt Nam là nước láng giềng có nhiều điểm tương đồng về điều kiện tự nhiên,
dân cư, chế độ chính trị xã hội và cả về kinh tế với Trung Quốc. Cũng giống như
Trung Quốc, Việt Nam đang tiến hành đổi mới đất nước, hướng tới việc xây dựng
nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, Việt Nam tiến
hành mở cửa, đổi mới đất nước sau Trung Quốc 8 năm và cho đến nay thì những
thành tựu kinh tế, thành tựu phát triển ngoại thương vẫn còn là khiêm tốn so với
những thành quả to lớn của nước bạn và còn chưa xứng với tiềm năng của chính
Việt Nam. Vì vậy, để thành công hơn nữa trong công cuộc phát triển ngoại thương
Việt Nam thì việc tham khảo bài học kinh nghiệm của Trung Quốc là rất cần thiết.
Với lý do trên, em xin được mạnh dạn nghiên cứu vấn đề “Một số bài học
kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt
1


Nam”. Bản khóa luận này chủ yếu đi sâu vào phân tích các bài học kinh nghiệm

Chương I
tình hình hoạt động ngoại thương trung Quốc từ 1979 đến nay
I. Vài nét về đất nước Trung Quốc

1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Trung Quốc là một đất nước có diện tích rộng lớn nằm ở nửa phía Bắc của Đông
bán cầu, phía Đông Nam của đại lục Á-Âu, phía Đông của Châu Á và phía Tây Thái
Bình Dương, có đường biên giới đất liền dài khoảng 22.000 km tiếp giáp với 15 quốc
gia, có vùng biển rộng lớn với tuyến bờ biển dài và rất nhiều đảo, đường biên giới trên
biển dài khoảng 18.000 km. Diện tích Trung Quốc là 960 vạn km2 , là nước lớn nhất
Châu Á, thứ 3 trên thế giới về diện tích lãnh thổ [22].
Với vị trí địa lý rất thuận lợi cùng với diện tích đất đai rộng lớn đã tạo ra cho
Trung Quốc những điều kiện dễ dàng phát triển mối quan hệ kinh tế, đặc biệt là quan
hệ mậu dịch với các nước và khu vực lớn ở Châu Âu, Châu Mỹ cũng như Đông Nam
Á, Australia và Trung Á.
Địa hình Trung Quốc rất đa dạng bao gồm đồng bằng, gò đồi, cao nguyên, bồn
địa, sơn địa, hoang mạc, sa mạc xen kẽ nhau, chủ yếu là địa hình đồi núi, chiếm 70%
diện tích đất đai trong đó gần 1/3 ở độ cao trên 300m, diện tích đất trồng trọt chỉ
khoảng 100 triệu ha, độ phì nhiêu khá cao.
Điều kiện khí hậu rất ưu việt nhưng tương đối khác nhau giữa các vùng, trải rộng
từ Nam tới Bắc là các vùng khí hậu khác nhau: vượt nhiệt đới, nhiệt đới, á nhiệt đới,
noãn ôn đới, hàn nhiệt đới. Lượng mưa dồi dào, bình quân hàng năm ở Trung Quốc là
629mm. Điều kiện nhiệt độ và lượng nước phân phối hợp lý tạo ra điều kiện cho việc
phát triển nông nghiệp, như nghề trồng lúa, trồng bông, các loại hoa quả và nghề cá.
Trung Quốc là nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên tương đối phong phú, trong
đó lượng tài nguyên nước đứng thứ nhất thế giới. Nguồn tài nguyên năng lượng cũng
rất lớn, trữ lượng than thăm dò được là 700 tỷ tấn, đứng thứ nhất thế giới. Sản lượng
dầu thô đứng thứ năm thế giới. Tài nguyên khoáng sản của Trung Quốc tương đối toàn
diện và đồng bộ, 150 loại khoáng sản được sử dụng trên thế giới đều được phát hiện ở
Trung Quốc, trong đó trữ lượng thăm dò được của hơn 20 loại như: than, vonfram,

đường lối cải cách mở cửa “Một trung tâm, hai điểm cơ bản” (xây dựng kinh tế là
trung tâm, 2 điểm cơ bản là kiên trì cải cách mở cửa và kiên trì 4 nguyên tắc: Con
đường xã hội chủ nghĩa, chuyên chính dân chủ nhân dân, sự lãnh đạo của Đảng, tư
tưởng Mao Trạch Đông). Đặng Tiểu Bình đã đưa ra lý luận “Xây dựng xã hội chủ
nghĩa mang màu sắc Trung Quốc” với nội dung cơ bản là “Giải phóng tư tưởng, thực
sự cầu thị” tức là đi theo chủ nghĩa Mác nhưng phải xuất phát từ thực tế Trung Quốc.
Từ đó đến nay, Trung Quốc luôn luôn kiên trì công cuộc cải cách mở cửa, xây dựng
chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc, đưa đất nước chuyển sang một thời đại
mới.
Nhìn chung, tình hình chính trị-xã hội Trung Quốc trong những năm gần đây ổn
định, tuy trong nước và quốc tế có nhiều biến động nhưng Đảng cộng sản Trung Quốc
vẫn giữ vững được quyền lãnh đạo. Nội bộ ban lãnh đạo đã quán triệt quan điểm xuất
phát từ đại cục, tập trung mọi nguồn lực để phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, về chính
trị-xã hội, Trung Quốc cũng còn nổi cộm 2 vấn đề lớn, đó là: 1- Tệ tham nhũng, buôn

5


lậu, vấn đề việc làm, chênh lệch giàu nghèo; 2- Trung Quốc đang bước vào giai đoạn
quyết định của cải cách, thời kỳ then chốt của phát triển , có những biến đổi sâu sắc,
đan xen về thành phần kinh tế, lợi ích kinh tế, lối sống, hình thức tổ chức xã hội ... đặc
biệt là sự thay đổi về kết cấu giai tầng, tỷ lệ nòng cốt (giai cấp công nhân và nông dân)
trong Đảng cộng sản Trung Quốc cũng đã thay đổi, đòi hỏi phải đổi mới công tác
chính trị tư tưởng và công tác xây dựng Đảng.

4. Kinh tế Trung Quốc sau hơn 20 năm cải cách mở cửa
* Về tăng trưởng kinh tế
Từ năm 1978, khi bắt đầu cải cách, Trung Quốc đi vào con đường hội nhập với
thế giới và khu vực và đã thu được thành công đáng kể.
Trước cải cách, từ 1952 đến 1978, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của

15 năm nỗ lực và cố gắng là một bước tiến lớn của nền kinh tế Trung Quốc theo
hướng nhất thể hoá kinh tế toàn cầu. Sự kiện này cũng đã mở ra những cơ hội và thách
thức mới đối với nền kinh tế Trung Quốc. Trong bức tranh ảm đạm của nền kinh tế thế
giới 2001, mặc dù tăng trưởng xuất khẩu chững lại do bị ảnh hưởng của sự suy giảm
kinh tế Mỹ, Nhật Bản và thế giới song Trung Quốc vẫn duy trì được mục tiêu tăng
trưởng. Theo đánh giá của IMF, năm 2001, GDP của Trung Quốc đạt 9593,3 NDT
tương đương khoảng 1100 tỷ USD, tăng 7,3%, thấp hơn so với mức kế hoạch đề ra
(7,5%).
Năm 2002, GDP của Trung Quốc lần đầu tiên phá mốc 10 nghìn tỷ NDT, đạt
10.239,8 tỷ NDT tương đương 1278 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng là 8% [36].
Nhìn chung, trong nhiều năm gần đây Trung Quốc là nước có tốc độ tăng
trưởng kinh tế cao nhất thế giới và trong vòng 10 năm tới Trung Quốc có thể vẫn giữ
được tốc độ tăng trưởng này.
Bảng 1: So sánh tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc và thế giới
Năm
1999
2000
2001
2002
2003(dự đoán)

Trung Quốc
7,1%
7,5%
7,3%
8,0%
8,6%

Thế giới
2,8%

lượng 163 triệu tấn dầu thô, 131 triệu tấn quặng sắt, 1000 triệu tấn than, 128,5 triệu
tấn thép thô, 1355,6 tỷ kwh điện [22]. Đến năm 2001, sản lượng các ngành công
nghiệp này đều tăng lên mức 165 triệu tấn dầu thô, 145,4 triệu tấn quặng sắt, 1110
triệu tấn than, 152,66 triệu tấn thép thô và 1478 tỷ kwh điện [37]. Năm 2002, giá trị
gia tăng của công nghiệp cả năm đạt 4593,5 tỷ NDT, tăng 10,2% so với 2001; giá trị
sản phẩm mới cả năm tăng 24% so với 2001; tổng lượng phát điện cả năm đạt 1654 tỷ
Kwh, tăng 11,7% so với năm 2001; sản lượng than đạt 1380 triệu tấn,tăng 18,9%; sản
lượng dầu thô đạt 167 triệu tấn, tăng 1,8% [21].
Cơ cấu công nghiệp của Trung Quốc cũng có nhiều thay đổi theo hướng tăng
cường phát triển các mặt hàng có hàm lượng kỹ thuật cao như điện tử, vi tính, ô tô,
công nghệ viễn thông…
Vào giai đoạn chuyển giao thế kỷ, Trung Quốc đã trở thành trung tâm sản xuất
hàng công nghiệp của thế giới, từ các ngành có hàm lượng lao động cao như dệt may,
giày dép đến các ngành dùng nhiều tư bản và công nghệ cao. Thực tế, Trung Quốc đã
trở thành nước có sản lượng công nghiệp lớn thứ 4 trên thế giới, chỉ sau có Mỹ,
Nhật Bản và Đức.
Hiện nay, Trung Quốc đã chiếm trên 20% sản lượng thế giới trong các ngành đồ
điện gia dụng cao cấp như đầu máy video, DVD, máy điều hoà không khí, tivi màu…
Trong ngành điện thoại di động và máy tính cá nhân, Trung Quốc cũng sản xuất trên
10% sản lượng thế giới [25].
* Về nông nghiệp
Với dân số 1,3 tỷ người - đông nhất trên thế giới - vấn đề lương thực luôn luôn
đứng ở vị trí được coi trọng hàng đầu đối với người dân Trung Quốc. Cuộc cải cách
do Đặng Tiểu Bình lãnh đạo, bên cạnh chủ trương thúc đẩy phát triển công nghiệp,
dịch vụ, cũng hết sức quan tâm chú trọng tới phát triển nông nghiệp, từng bước hiện
đại hóa ngành nông nghiệp. Từ một đất nước nghèo đói, lượng lương thực thực phẩm
trong nước không đủ để đáp ứng nhu cầu trong nước, phải thường xuyên nhập khẩu
lương thực thực phẩm với khối lượng lớn, sau hơn 20 năm, bộ mặt nông nghiệp

8

lượt người so với năm 1999. Riêng năm 2001, tổng doanh thu ngành du lịch đạt
khoảng 59 tỷ USD (496 tỷ NDT), tăng 9,76% so với năm 2000 [22]. Năm 2002, số
người du lịch trong nước cả năm đạt 877,82 triệu lượt người, thu nhập du lịch trong
nước đạt 387,8 tỷ NDT, tăng 10,1%; thu nhập ngoại tệ du lịch quốc tế đạt 20,4 tỷ
USD, tăng 14,6% [21].
Qua hơn 20 năm cải cách, đất nước Trung Quốc đã trải qua nhiều thăng trầm,
chuyển biến, nền kinh tế Trung Quốc vừa phải đối mặt với những khó khăn, thách

9


thức nhưng cũng gặt hái được rất nhiều thành tựu. Sự phát triển kỳ diệu của Trung
Quốc là nhờ đâu nếu không phải từ sự nỗ lực hết mình của người dân Trung Quốc
trong công cuộc xây dựng đất nước với mục tiêu đưa Trung Quốc từng bước hội nhập
với kinh tế thế giới, từng bước trở thành một cường quốc kinh tế lớn mạnh. Chắc chắn
rằng trong những năm tới đây, Trung Quốc sẽ vẫn còn tiếp tục phát triển, nền kinh tế
sẽ ngày càng hội nhập, trở thành bộ phận quan trọng của nền kinh tế thế giới.
Nền kinh tế Trung Quốc trong hơn 20 năm qua phát triển rất sôi động, nhưng
đặc biệt là trong lĩnh vực ngoại thương thì những chuyển biến lại càng diễn ra nhanh
hơn, mạnh hơn. Có thể nói ngoại thương là “đầu tàu” trong phát triển kinh tế Trung
Quốc trong giai đoạn cải cách mở cửa hiện nay. Trong lĩnh vực này, Trung Quốc đã
có những bước tiến thành công, gặt hái nhiều thành tựu. Tuy nhiên để làm được điều
đó thì ngoại thương Trung Quốc đã phải trải qua nhiều giai đoạn phát triển, vừa làm
vừa rút kinh nghiệm mới dần dần đi vào đúng quỹ đạo phát triển.
II. Cải cách hoạt động ngoại thương Trung Quốc qua các giai
đoạn
* Sự cần thiết phải cải cách mở cửa ngoại thương Trung Quốc
Trước khi thực hiện cải cách mở cửa nền kinh tế vào cuối năm 1978, Trung Quốc
đã có những quan hệ kinh tế với nhiều nước trên thế giới nhưng quy mô nhỏ, phạm vi
hẹp. Các quan hệ đã chỉ dừng lại ở một nền ngoại thương kém phát triển và một ít viện

triển sôi động trong các nước trên thế giới.
Bên cạnh đó, những thách thức của những tiến bộ khoa học kỹ thuật như vũ bão
và cuộc cách mạng ngành nghề mới trên phạm vi toàn cầu, của phát triển giao lưu và
quốc tế hóa kinh tế cao độ cũng buộc Trung Quốc phải tự xét lại mình, tự đổi mới, tiếp
thu thành quả khoa học kỹ thuật hiện đại, tạo ra sự phát triển mạnh mẽ. Đặc điểm của
cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật là khoa học kỹ thuật trở thành sức sản xuất trực
tiếp, trí tuệ đóng vai trò trọng tâm tạo ra những hiệu quả kinh tế gấp nhiều lần trước
kia. Con người không những tác động đến đối tượng sản xuất mà còn có khả năng tạo
ra cả đối tượng sản xuất, những năng lượng mới, những vật liệu mới. Công nghệ mới,
lao động chất xám đã làm cho năng suất lao động phát triển lên đến mức vô cùng to
lớn, thúc đẩy nhanh quá trình quốc tế hóa sản xuất. Nền kinh tế quốc gia đã vượt ra
ngoài phạm vi một nước để tham gia vào sự phân công lao động quốc tế. Đó là xu thế
phát triển của thế giới.
Sự phát triển với tốc độ cao của một số nước Châu Á-Thái Bình Dương cũng là
một sức ép góp phần thúc đẩy Trung Quốc mở cửa. Tất cả các nước NICs và các nước
ASEAN do nhận thấy xu thế toàn cầu hóa của nền sản xuất, cho nên đã điều hướng
sản xuất của mình chuyển từ chỗ thay thế nhập khẩu sang chỗ hướng về xuất khẩu,
tham gia mạnh mẽ vào nền thương mại thế giới. Rõ ràng là họ đã trước sau thoát khỏi
tình trạng đóng cửa, vươn mạnh ra bên ngoài, khắc phục tư tưởng sợ phụ thuộc vào
nước ngoài, Chính điều này đã làm cho các nước này có tốc độ tăng trưởng đáng ngạc
nhiên, đặc biệt là Nam Triều Tiên có tốc độ tăng trưởng về xuất khẩu trong những
năm 60 và 70 là 35% và 27%, trong khi đó thì thương mại thế giới chỉ tăng tương ứng
có 9% và 7%. Vào những năm 70 tỷ lệ xuất nhập khẩu đối với GDP của Nam Triều
Tiên và Đài Loan là 34% và 50% [15].
Tình hình này buộc Trung Quốc phải xem lại mình và buộc Trung Quốc phải cải
cách ngoại thương nếu không muốn tụt hậu hơn nữa so với các nước trong khu vực.

11



năng sang chế độ sản xuất kiêm kinh doanh xuất nhập khẩu, cho phép các doanh
nghiệp tham gia vào ngoại thương kinh doanh xuất nhập khẩu một cách độc lập và áp
dụng chế độ đại lý đối với một số loại hàng hóa.
- Thực hiện chế độ giữ lại ngoại hối. Để khuyến khích các chính quyền địa
phương, các bộ và các doanh nghiệp tham gia vào xuất nhập khẩu một cách tích cực,
chế độ giữ lại ngoại hối được áp dụng năm 1979. Nói cách khác, trên cơ sở Nhà nước
12


thống nhất quản lý ngoại hối và đảm bảo cho những nhu cầu quan trọng của các dự án
quan trọng, các doanh nghiệp có quyền giữ lại một phần ngoại tệ mà họ kiếm được và
có quyền tự quyết đối với việc sử dụng số ngoại tệ này. Họ có thể tham gia vào thị
trường ngoại hối và có thể bán số ngoại hối không sử dụng cho các doanh nghiệp cần
mua.
Với những cải cách bước đầu trong hoạt động ngoại thương, từ sau năm 1978, hoạt
động ngoại thương của Trung Quốc diễn ra khá sôi động. Kim ngạch ngoại thương năm
1979 mới chỉ đạt 29,33 tỷ USD thì đến năm 1987 đã đạt 82,652 tỷ USD nghĩa là tăng 2,8
lần so với năm 1979. Trong thời gian này, ngoại thương Trung Quốc phát triển với tốc độ
trung bình là 14,2% một năm, đưa Trung Quốc từ chỗ xếp thứ 28 trên thế giới về tổng
khối lượng buôn bán lên vị trí thứ 12, về xuất khẩu từ thứ 32 lên thứ 14, về nhập khẩu từ
thứ 27 lên thứ 11. Số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 100 triệu USD từ 20 chủng
loại tăng lên tới 48 chủng loại. Thị trường ngoại thương quốc tế cũng được mở mang mọi
mặt từ chỗ có quan hệ ngoại thương với trên 140 nước trong năm 1979 lên 180 nước và
khu vực vào năm 1987 [23].

2. Giai đoạn 1988-1990 (giai đoạn quá độ chuyển sang cải cách chiều
sâu)
- Trọng tâm của giai đoạn này là tăng cường chế độ khoán ngoại thương. Chính
phủ đã bắt đầu áp dụng chế độ này vào năm 1988. Trong phạm vi chế độ này, các
chính quyền địa phương ký kết hợp đồng với Chính phủ về số lượng ngoại hối mà họ

chịu trách nhiệm kế toán ngoại hối, tăng cường giám sát quản lý công tác thống kê, chỉ
đạo công tác kinh doanh và kế toán tài vụ của các xí nghiệp ngoại thương, tham gia
điều tiết mức thuế và cân đối công tác ngoại thương giữa các khu vực.
- Việc thi hành hệ thống hợp đồng trách nhiệm theo hướng cân đối trách nhiệm,
quyền hạn và lợi nhuận của các công ty ngoại thương có tác dụng giải quyết các vấn
đề khác nhau của địa phương, các ngành, các công ty ngoại thương và các xí nghiệp
sản xuất, đồng thời còn đóng vai trò quan trọng thúc đẩy phương thức hoạt động bên
trong của các xí nghiệp, đó là nguyên nhân tạo ra được lợi nhuận và mở rộng ngoại
thương.
Giai đoạn này chỉ kéo dài có 3 năm nhưng ngoại thương Trung Quốc đã có
những bước tiến lớn. Vào năm 1990 kim ngạch ngoại thương của Trung Quốc đạt
115,4 tỷ USD so với 102,784 tỷ USD năm 1988 tăng lên 12%. Điểm đặc biệt là sau
một thời gian dài nhập siêu đến năm 1990 Trung Quốc đã xuất siêu với thặng dư là
8,746 tỷ USD. Số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu hàng năm hơn 100 triệu USD từ
48 loại vào năm 1987 đã lên đến 83 loại vào năm 1990. Tỷ trọng hàng công nghiệp
xuất khẩu trong kim ngạch xuất khẩu chiếm 74,5%. Đối với hoạt động nhập khẩu, vào
năm 1989, những thiết bị đồng bộ và kỹ thuật tiên tiến được nhập vào khoảng 4,39 tỷ
USD, đổi mới 400 xí nghiệp trọng điểm và đã sản xuất ra hơn 6000 loại sản phẩm
mới, trong đó một số lượng khá lớn đạt được tiêu chuẩn tiên tiến trên thế giới có sức
cạnh tranh mạnh mẽ. Đến năm 1990, Trung Quốc đã thiết lập được quan hệ thương
mại với 200 nước và khu vực [23].

3. Giai đoạn 1991-2001
Mục tiêu của giai đoạn này là thiết lập một chế độ quản lý và một cơ chế hoạt
động với đặc điểm "chính sách thống nhất, cạnh tranh lành mạnh, quản lý tự chủ,
trách nhiệm của mỗi doanh nghiệp đối với các khoản lỗ lãi, kết hợp sản xuất với
thương mại, áp dụng chế độ đại lý và thẩm quyền duy nhất trong việc giải quyết các
vấn đề thương mại". Mục tiêu của chế độ mới là nhằm chấm dứt một lịch sử lâu đời

14

đồng được đánh giá và điều chỉnh theo từng năm.
Nhìn chung, những cải cách trong giai đoạn này đẩy mạnh hơn nữa việc mở rộng
quyền hạn, chủ động sản xuất kinh doanh ngoại thương; khơi dậy tính tích cực, năng
động sáng tạo cho các xí nghiệp sản xuất và các công ty xuất nhập khẩu; đẩy mạnh
việc mở rộng kênh lưu thông, tiêu thụ hàng hóa ra thị trường thế giới; tăng cường sức
cạnh tranh của hàng xuất khẩu trên thị trường quốc tế.

4. Năm 2001 Trung Quốc trở thành thành viên của WTO - một dấu
mốc quan trọng trong phát triển ngoại thương nói riêng và kinh tế nói
chung
15


4.1. Sự cần thiết gia nhập WTO của Trung Quốc
Xét từ góc độ tiềm lực phát triển của kinh tế Trung Quốc cũng như từ cơ chế hoạt
động toàn cầu của WTO, việc Trung Quốc gia nhập WTO là phù hợp với nhu cầu của
cả hai bên.
* Về phía Trung Quốc:
Trong hơn hai thập kỷ qua, công cuộc cải cách và mở của của Trung Quốc được
tiến hành trong bối cảnh quốc tế hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới. Toàn cầu hoá
đã mang lại cho Trung Quốc cả những cơ hội lẫn những thách thức. Cho đến nay, sự
phát triển và thịnh vượng của Trung Quốc phụ thuộc khá nhiều vào các mối liên kết
của Trung Quốc với thế giới bên ngoài. Chính vì vậy, gia nhập WTO là nhu cầu thiết
thực để Trung Quốc:
- Tiếp tục đi sâu cải cách và mở cửa, xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ
nghĩa
- Hoà nhập vào xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới
- Tận dụng triệt để hơn nữa kinh nghiệm quản lý, kỹ thuật, công nghệ, thị trường
và nguồn vốn quốc tế
- Tăng cường xây dựng niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài về triển vọng

gia nhập WTO là phù hợp với lợi ích của cả Trung Quốc và các nước trên thế giới.
Điều đó đã được chứng minh một cách thuyết phục thông qua sự hợp tác thành công
và những thành tựu to lớn mà các bên đạt được trong nhiều năm qua.
4.2. Tóm tắt quá trình đàm phán và gia nhập WTO của Trung Quốc
4.2.1. Tiến trình gia nhập
1948 - Trung Hoa Dân Quốc là một trong số 23 thành viên sáng lập của Hiệp
định chung về thuế quan và thương mại GATT (tiền thân của WTO)
1950 - Một năm sau ngày thành lập nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, nước
này tuyên bố rút khỏi GATT với lý do GATT chỉ là hội của những nước tư bản.
1986 - Trung Quốc đệ đơn gia nhập GATT
1987 - GATT đã thành lập “Nhóm công tác về địa vị nước tham gia ký kết hiệp
định chung của Trung Quốc”
1989 - Các cuộc đàm phán bị hoãn lại sau sự kiện Thiên An Môn. Nhiều chương
trình tự do hoá kinh tế đã trở nên sai lệch với mục tiêu của các cuộc đàm phàn.
1994 - Trung Quốc thực hiện nhiều cố gắng, nhanh chóng tự do hoá thương mại
để cố gia nhập WTO vào cuối năm nhưng nội bộ vẫn chưa thông suốt và chế độ bảo
hộ còn cao
1995
01/1995 - WTO thay thế cho GATT
07/1995 - Trung Quốc được công nhận là quan sát viên của WTO
11/1995 - Trung Quốc tuyên bố kế hoạch tự do hoá thương mại lớn nhất từ trước
tới nay, kế hoạch này sẽ được thực hiện trong vòng 16 năm nhằm lôi kéo sự ủng hộ
của Mỹ. Trung Quốc dự kiến cắt giảm 30% thuế quan và cho phép thành lập các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nưóc ngoài.

17


1997 - Khủng hoảng tài chính ở Châu Á .
Trung Quốc vẫn giữ ổn định được đồng Nhân dân tệ, tuy nhiên việc tự do hoá đã

sức gay go với nhiều nước thành viên trong WTO. Sở dĩ thời gian đàm phán kéo dài là
do nhiều nước đã không nhất trí với Trung Quốc về vấn đề trợ cấp nông sản

18


09/06/2001 - Trung Quốc và Mỹ nhất trí việc Trung Quốc gia nhập WTO kể cả
vấn đề trợ cấp nông sản.
20/06/2001 - EU tuyên bố tiếp tục đàm phán song phương với Trung Quốc về
việc nước này gia nhập WTO
03/07/2001 - Trưởng đoàn đàm phán Bộ thương mại Trung Quốc-ông Long Vĩnh
Đồ- nói rằng “tất cả những vấn đề mấu chốt” đã được giải quyết bằng thương lượng
với các thành viên WTO
13/09/2001 - Trung Quốc và Mêhicô kết thúc đàm phán song phương, hoàn
thành xong cuộc đàm phán thứ 37 cũng là cuộc đàm phán cuối cùng trước khi Trung
Quốc gia nhập WTO.
14/09/2001 - Các thành viên WTO nhất trí điều khoản Trung Quốc gia nhập
WTO tại một cuộc họp bất thường.
17/09/2001 - Trung Quốc cùng các đối tác thương mại chủ yếu ký hiệp định
chính thức về việc Trung Quốc gia nhập WTO.
11/11/2001 - Tại Hội nghị các bộ trưởng của Tổ chức thương mại thế giới
(WTO) diễn ra ở Doha-Quata, Trung Quốc đã hoàn tất thủ tục gia nhập WTO sau 15
năm thương lượng và chính thức trở thành thành viên thứ 143 của Tổ chức này.
4.2.2. Quá trình đàm phán
Đàm phán gia nhập WTO được Trung Quốc tiến hành theo hai phương thức
song song và bổ sung cho nhau. Trong suốt 15 năm, cùng với nhiều cố gắng khác,
Trung Quốc luôn giữ được thái độ tích cực, đã tiến hành gần 30 lần hội nghị Nhóm
công tác đa phương và hàng trăm lần đàm phán song phương.
4.2.2.1. Đàm phán đa phương
Ngày 11/07/1986, Đại sứ Trung Quốc tại Liên hiệp quốc Tiền Giai Đông gửi

vốn nước ngoài có điều kiện tự do hơn khi xâm nhập thị trường vốn trong nước. Cuối
năm 1998 đã có 150 ngân hàng nước ngoài kinh doanh ở Trung Quốc.
- Bốn là, trong cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á vừa qua, Trung Quốc đã thực
hiện cam kết không phá giá đồng Nhân dân tệ, đồng thời còn tham gia viện trợ cho
vay đối với các nước Thái Lan và Inđônesia để làm dịu và góp phần phục hồi cuộc
khủng hoảng này.
Như vậy, bằng những nỗ lực cải cách và mở cửa cho phù hợp với những cam kết
với các đối tác đàm phán, Trung Quốc đã tiến hành thành công gần 30 lần hội nghị
Nhóm công tác đa phương, chính thức hoá những cam kết đã đạt trong những đàm
phán đa phương.
4.2.2.2. Đàm phán song phương
* Hiệp định thương mại Trung-Mỹ
- Quá trình đi đến ký kết:
Để đi đến ký kết hiệp định thương mại Trung–Mỹ, hai bên đã có một quá trình
đàm phán lâu dài đầy khó khăn. Trong những năm 1986-1989, hai bên đã thực hiện 10
lần đàm phán có tiến triển và đạt được nhiều thoả thuận. Nhưng năm 1989, do sự kiện
Thiên An Môn đàm phán bị hoãn lại. Năm 1992 sau khi Đặng Tiểu Bình đi thị sát các
tỉnh Miền Nam Trung Quốc, kêu gọi Trung Quốc cần học tập kinh nghiệm của Chủ

20


nghĩa tư bản, thổi luồng gió mới cho những cải cách táo bạo thì hai bên nối lại hội
đàm. Trong thời kỳ 1992-1995, Trung Quốc thực hiện nhiều cố gắng để gia nhập
WTO vào cuối năm 1994 nhưng Mỹ đưa ra yêu cầu cao nên Trung Quốc không chấp
nhận. Trong những năm 1995-1998, Trung Quốc không tỏ ra hăng hái như trước, thậm
chí có lúc lạnh nhạt. Tháng 4/1999, Thủ tướng Chu Dung Cơ thăm Mỹ với nhiều thoả
hiệp và nhượng bộ với Mỹ nhằm hoàn tất đàm phán và ký kết hiệp định nhưng phía
Mỹ tiếp tục đòi yêu cầu cao hơn. Ngày 8/5/1999, Mỹ ném bom sứ quán Trung Quốc ở
Nam Tư làm quan hệ hai bên như “rơi xuống vực”. Đàm phán Trung-Mỹ bị ngưng lại.

Trước đây, Trung Quốc và EU đã nhiều lần thương thuyết để ký hiệp định này
nhưng kết quả đạt được rất hạn chế và hai bên chưa đủ đi đến kết quả cuối cùng.
Nguyên nhân chính khiến hai bên chưa đạt được sự nhất trí trong các vòng đàm phán
trước đây là do phía Trung Quốc từ chối chấp nhận những điều kiện mà EU đưa ra
liên quan đến việc nâng tỷ lệ cổ phần của công ty nước ngoài trong các liên doanh,
trong đó có các liên doanh viễn thông và bảo hiểm tại Trung Quốc lên 49%. Tại nhiều
phiên thảo luận trong 4 vòng đàm phán diễn ra từ đầu năm 2000 đến khi ký kết hiệp
định, các đại diện của Trung Quốc và EU tranh cãi rất gay gắt xung quanh vấn đề mở
cửa khu vực dịch vụ viễn thông, lập liên doanh sản xuất ôtô, bảo hiểm nhân thọ, phân
phối và chính sách buôn bán của Trung Quốc với EU. Tuy vậy qua 3 vòng đàm phán
đầu, hai bên cũng đã thoả thuận được 80% các vấn đề then chốt.
Sau 5 ngày thương lượng căng thẳng, đến ngày 20/05/2000, Trung Quốc và EU
đã chính thức ký kết hiệp định về việc Trung Quốc gia nhập WTO.
Các nội dung chính của hiệp định xoay quanh các vấn đề như sau:
- Trung Quốc đồng ý cắt giảm thuế quan xuống còn 8-10% đối với 150 mặt hàng
nhập khẩu chủ yếu từ EU
- Các thương gia nước ngoài được phép đưa vào 20% lượng nhập khẩu dầu mỏ
của Trung Quốc
- Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO được 3 năm, các công ty nước ngoài được
nắm 49% cổ phần trong các công ty liên doanh viễn thông và bảo hiểm tại Trung
Quốc.
- Trung Quốc xoá bỏ các hạn chế về sở hữu của người nước ngoài đối với các
cửa hàng bán lẻ trên quy mô lớn.
- Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO , Trung Quốc cấp ngay 7 giấy phép bảo
hiểm cho các hàng của EU, mọi công ty của EU đều có điều kiện pháp lý để được cấp
giấy phép.
Ngoài Mỹ và EU, Trung Quốc còn đạt được nhiều thoả thuận thương mại song
phương với nhiều nước khác nữa. Đến 17/9/2001, Trung Quốc đã ký Hiệp định
thương mại với tổng số 37 thành viên của WTO mà Trung Quốc cần phải ký kết, hoàn
tất quá trình đàm phán gia nhập WTO.

công nghiệp nhập khẩu (xe con, thiết bị phim ảnh).
Phi thuế quan:
- Nhiều biện pháp phi thuế quan như hạn ngạch, hạn chế số lượng… sẽ được xoá
bỏ. Trong vòng 3 năm tất cả các công ty sẽ có quyền nhập khẩu, xuất khẩu, phân phối
hàng hoá trên khắp đất nước (trừ một số hạn chế nhất định).
-Nhà nước sẽ vẫn duy trì quản lý đối với một số mặt hàng như: ngũ cốc, thuốc lá,
nguyên liệu, khoáng sản, và một số sản phẩm thép. Các mặt hàng khác như: tân dược
và phân bón vẫn phải chịu quản lý về giá.
* Các cam kết trong các lĩnh vực
Về nông nghiệp
- Trung Quốc sẽ mở rộng nhập khẩu hàng nông sản và bỏ trợ cấp xuất khẩu đối
với sản xuất nông nghiệp.

23


- Trung Quốc cũng đồng ý hạn chế chi phí trợ cấp nông nghiệp ở mức 8,5% giá
trị sản lượng trong nước (tỷ lệ cho phép thông thường là 10% đối với các nước đang
phát triển).
Về công nghiệp
* Dệt may: Hạn ngạch nhập khẩu sản phẩm dệt may của Trung Quốc sẽ chính
thức chấm dứt vào 12/2004 theo hiệp định dệt may của WTO mặc dù Hệ thống “bảo
vệ” nhập khẩu cho phép các nước thành viên khác áp dụng hạn chế số lượng đối với
hàng hoá xuất khẩu từ Trung Quốc tới cuối năm 2008.
* Năng lượng-dầu mỏ:
- Trung Quốc đồng ý mở cửa các lĩnh vực dầu thô và dầu chế biến cho các
thương gia tư nhân với 4 triệu tấn các sản phẩm dầu và 10% dầu thô nhập khẩu.
- Trung Quốc cũng sẽ mở cửa lĩnh vực phân phối lẻ mặt hàng này sau 3 năm gia
nhập WTO và cho phép các công ty nước ngoài có ít nhất 30% ở mỗi trạm xăng dầu.
- Trung Quốc sẽ mở cửa thị trường bán buôn sau 5 năm gia nhập WTO.

chuẩn và trình tự như đối với doanh nghiệp nhà nước.
+ Hoàn thiện các biện pháp quản lý xuất nhập khẩu, giảm thuế quan và các biện
pháp phi thuế quan theo đúng cam kết. Đặc biệt, Trung Quốc đã bắt đầu quan tâm tới
vấn đề xây dựng hàng rào kỹ thuật để hạn chế nhập khẩu qua việc công bố thực thi
“Điều lệ quản lý an toàn sinh vật chuyển đổi gien nông nghiệp”
+ Xây dựng cơ chế mới về giảm thuế xuất khẩu, thực hiện chính sách hoàn thuế
xuất khẩu mới.
III. Thực tiễn hoạt động ngoại thương Trung quốc trong
những năm gần đây

1. Về kim ngạch xuất nhập khẩu
Từ khi tiến hành cải cách mở cửa đến nay, hoạt động ngoại thương Trung Quốc
không ngừng gia tăng quy mô, mà biểu hiện trước hết là kim ngạch xuất nhập khẩu
liên tục gia tăng với tốc dộ vào hàng nhanh nhất thế giới, chỉ sau hơn 20 năm, vị thế
của Trung Quốc trong thương mại quốc tế đã được cải thiện rõ rệt, nếu như năm 1978
ngoại thương Trung Quốc vẫn còn đứng thứ 32 trên thế giới thì tới năm 2002, với
những thành công rực rỡ của cải cách mở cửa Trung Quốc đã trở thành cường quốc
đứng thứ 5 trên thế giới về ngoại thương.
Từ sau năm 1978 hoạt động ngoại thương của Trung Quốc diễn ra khá sôi động
nếu so sánh trong tương quan với sản xuất công nghiệp và nông nghiệp. Kim ngạch
ngoại thương năm 1978 mới đạt 20,6 tỷ USD, đến năm 1984 đã vọt lên 50 tỷ, tăng gấp
2,5 lần năm 1978. Bốn năm sau, năm 1988 tổng kim ngạch ngoại thương đã tăng gấp
đôi năm 1984, đạt 100 tỷ USD. Năm 1994 ngoại thương Trung Quốc lại nêu kỉ lục
mới gấp đôi năm 1988, đạt hơn 200 tỷ USD, năm 1997 con số đã vượt qua 300 tỷ
USD, lên tới 325,1 tỷ USD [19]. Năm 1978, kim ngạch ngoại thương của Trung Quốc
chỉ bằng 25% của Hàn Quốc và Đài Loan nhưng đến năm 1994 kim ngạch ngoại
thương của Trung Quốc đã bằng 75% của Hàn Quốc và 82% của Đài Loan. Tính đến
năm đó, mức tăng bình quân của kim ngạch ngoại thương Trung Quốc đạt 15,4%
trong thời kì mở cửa [15].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status