ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGÔ THỊ THẮM
QUAN NIỆM SINH TỬ TRONG THƠ TRUNG ĐẠI
VIỆT NAM THẾ KỶ X – XV
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Thị Phƣơng Thái
Thái Nguyên – 2016
Xác nhận khoa chuyên môn
Xác nhận của ngƣời hƣớng dẫn khoa học
PGS.TS. Phạm Thị Phƣơng Thái
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng. Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều
1.1. Lý do khoa học .........................................................................................................1
1.2. Lý do thực tiễn ..........................................................................................................2
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................................................... 2
2.1. Quan niệm sinh tử trong thơ trung đại thế kỷ X – XV từ góc nhìn Phật giáo .................2
2.2. Quan niệm sinh tử trong thơ trung đại thế kỷ X – XV từ góc nhìn Nho giáo .................5
2.3. Quan niệm sinh tử trong thơ trung đại thế kỷ X – XV từ góc nhìn Đạo giáo .................7
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ..............................................................................9
3.1. Mục đích nghiên cứu ................................................................................................ 9
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................................. 10
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu .............................................................................10
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu ............................................................................................. 10
4.2. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................................ 10
5. Phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................................................... 11
6. Đóng góp của đề tài ...................................................................................................11
7. Kết cấu của đề tài.......................................................................................................11
CHƢƠNG 1: NỀN TẢNG HỌC THUYẾT QUAN NIỆM SINH TỬ TRONG
THƠ TRUNG ĐẠI THẾ KỶ X - XV .........................................................................12
1.1. Điểm lƣợc diện mạo thơ ca trung đại Việt Nam thế kỷ X – XV ............................ 12
1.2. Sự ảnh hƣởng của các học thuyết tôn giáo đối với nền thơ ca trung đại thế kỷ X – XV 15
1.2.1. Triết học Phật giáo – luận thuyết khởi sinh dòng thơ Thiền đạt đạo ..................15
1.2.2. Tƣ tƣởng Nho giáo – học thuyết nhân văn nhìn từ mối quan hệ Tam Tài...............18
1.2.3. Đạo giáo với quan niệm hƣớng tới chủ nghĩa tự nhiên, lý tính ôn hòa ...............20
1.3. Quan niệm về vấn đề sinh tử trong thơ ca trung đại thế kỷ X - XV.......................23
1.3.1. Quan niệm lẽ sinh tử ............................................................................................ 23
1.3.2. Quan niệm sinh tử trong dòng chảy thơ ca trung đại thế kỷ X – XV dƣới góc
nhìn của Nho – Phật – Đạo ............................................................................................ 26
CHƢƠNG 2: QUAN NIỆM SINH TỬ TRONG THƠ CA TRUNG ĐẠI THẾ KỶ
X- XV DƢỚI GÓC NHÌN PHẬT GIÁO ...................................................................31
2.1. Quy luật sinh tử - triết lý tuần hoàn của nhà Phật ..................................................31
sống của con ngƣời sẽ kết thúc khi giã từ cuộc đời này, liệu rằng có một thế giới khác
đang tồn tại và sẽ đón lấy chúng ta hòa nhập vào một cuộc sống mới...? Từ cổ chí kim,
đó luôn là những câu hỏi lớn của đời ngƣời. Cuộc sống với mỗi con ngƣời luôn là điều
quan trọng nhất. Ai trên đời này lại không yêu cuộc sống. Đó là điều không thể phủ
nhận. Cái chết, theo đó cũng trở thành sự ám ảnh bởi họ coi đó là nỗi sợ hãi và bất
hạnh lớn nhất khi con ngƣời không còn hơi thở trên cõi đời này. Trên thực tế, trong sự
sống luôn ẩn tàng nhân tố của cái chết, rồi ai cũng phải trải qua giai đoạn đó. Thế
nhƣng, bất luận từ xƣa đến nay, từ Đông sang Tây, vấn đề sinh tử không đƣợc nhiều
ngƣời nhắc tới, thậm chí là né tránh. Mặc dù vậy, sinh tử vẫn luôn là vấn đề quan trọng
của mỗi cá nhân mà bất cứ ai dù thuộc thành phần nào cũng phải một lần đối diện.
Sự sống – cái chết không phải là một khoảnh khắc mà luôn là hai mặt của một
chu trình có liên quan mật thiết với nhau trên lộ trình sinh tồn của một kiếp ngƣời. Là
hai phạm trù quan trọng trên hành trình nhân sinh đời ngƣời, vấn đề sinh tử, nhƣ một
lẽ tất yếu, trực tiếp ảnh hƣởng nhiều đến các hình thái ý thức xã hội cụ thể, trong đó có
văn học. Xét trong toàn bộ tiến trình văn học dân tộc, văn học trung đại Việt Nam từ
thế kỷ X – XV giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, góp phần phản ánh diện mạo nền văn
học trung đại mƣời thế kỷ qua. Ở giai đoạn đầu nền văn học chuyển mình từ văn học
dân gian sang văn học thành văn, văn học thời kỳ này chịu ảnh hƣởng và có mối quan
hệ khăng khít với các học thuyết tƣ tƣởng ngoài Mác xít, gắn liền với các cảm quan
tôn giáo, trong đó có Nho – Phật – Đạo. Do chịu ảnh hƣởng của các luận thuyết tƣ
tƣởng “tam giáo”, đồng thời, nhận chân đƣợc tầm quan trọng của sự sống và cái chết
trên lộ trình tồn tại của con ngƣời, các thi sĩ đã trình bày cách nhìn nhận của mình về
lẽ sinh tử đời ngƣời nhìn dƣới quan điểm sinh tử của Nho – Phật – Đạo. Tuy nhiên,
mỗi học thuyết lại có cách nhìn nhận, quan niệm và kiến giải khác nhau về sự sống và
cái chết. Nếu nhƣ Phật giáo coi lẽ sinh tử là vô thƣờng bất biến, là triết lý tuần hoàn
2
của nhà Phật trong vòng quay sinh trụ dị diệt; thì Nho giáo nhìn nhận sinh tử trong mối
quan hệ tam tài, do thiên mệnh quy định; còn Đạo giáo lại quan niệm sinh tử có số
Trong nhiều chục năm trở lại đây, giới nghiên cứu phê bình văn học đã đặt ra
một số vấn đề nhìn nhận, kiến giải lẽ sinh tử của Phật giáo thể hiện trong các tác phẩm
thi ca trung đại giai đoạn thế kỷ X – XV qua những công trình mang tính phác họa.
Qua sơ khảo một số công trình viết về lẽ sinh tử, trong tầm khả năng cho phép, chúng
tôi sẽ điểm diện một số công trình, bài viết mang tính mở đầu, đƣợc xem là chỉ dẫn
quan trọng và liên quan mật thiết đến đối tƣợng nghiên cứu của đề tài.
Dƣới góc nhìn văn hóa học – nhân chủng học, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử
với bài viết “Con ngƣời cá nhân trong văn học Lý – Trần”, Nghiên cứu Phật học, số
4/1995 đã nhận định quy luật sinh tử là tuần hoàn bất biến, đồng thời nhấn mạnh tâm
thế, thái độ chấp nhận lẽ sinh tử nhƣ một biện pháp khai phóng tâm lý của ngƣời theo
đạo Thiền.
Tác giả Đoàn Thị Thu Vân với bài “Quan niệm về con ngƣời trong thơ thiền Lý
Trần”, Tạp chí Văn học, số 2 (2003) có sự khám phá mới lạ hình tƣợng con ngƣời từ
mối quan hệ giữa văn chƣơng và tôn giáo, trong đó, tác giả chỉ ra những biểu hiện con
ngƣời cá nhân thấu triệt chân lý, quan điểm nhân sinh của Phật giáo.
Năm 2004, Nguyễn Hữu Sơn xuất bản cuốn Văn học trung đại Việt Nam –
Quan niệm về con người và tiến trình phát triển, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
Trong đó, tác giả lý giải sự ảnh hƣởng của văn hóa Phật giáo nói chung và lẽ sinh tử
nói riêng qua bài viết Căn rễ văn hóa của nền văn học thời Lý – Trần thông qua một
số bài thơ tiêu biểu. Tác giả nhận định: “Văn học Lý - Trần đặc biệt chú ý thể hiện
quan niệm về bản thể với các dạng thức tồn tại như pháp, pháp bản, chân thân, huyễn
thân, thân tâm… Đương nhiên, sự biểu cảm các dạng thức tồn tại đó bao giờ cũng
phải bộc lộ qua các mối liên hệ như hữu – vô, sinh – tử, tu chứng – giải thoát…”[37,
132]. Đây là một trong những sự gợi mở quý báu giúp chúng tôi tìm hiểu lẽ sinh tử
trong thơ ca dƣới góc nhìn Phật giáo.
Năm 2008, luận án tiến sĩ Ngữ văn Giá trị văn học trong tác phẩm của Thiền
phái Trúc Lâm của Trần Lý Trai đã lý giải các sáng tác của các tác giả thuộc Thiền
phái về các mặt nhƣ: cảm hứng nhân văn – thế sự, cảm hứng thiên nhiên, cảm hứng
bản thể giải thoát…
sinh tử (rõ cái chết), coi thân xác chỉ là hƣ huyễn. Và theo ông, chỉ khi nhận chân thấy
điều đó, con ngƣời mới đạt đến sự giác ngộ tuyệt đối
5
Bài viết “Cội nguồn triết học của tinh thần Thiền nhập thế của Trần Nhân
Tông”do tác giả Nguyễn Kim Sơn viết, đăng trên web Văn học và Ngôn ngữ, trƣờng
Đại học KHXH & NV Tp Hồ Chí Minh, 2015 đã đi đến nhận định tinh thần hƣớng nội
vào bản Tâm chính là hƣớng tới sự giải thoát, từ đó thể ngộ đƣợc sự an lạc khi đứng
trƣớc quy luật sinh tử kiếp ngƣời.
Kế tiếp đó, bài viết Hình tượng con người thâm ngộ triết lý Phật giáo qua một số
bài thơ Thiền Lý – Trần của Hoàng Trọng Tâm là bài viết sâu sắc luận bàn về triết lý vô
thƣờng, lấy đó làm tiền đề luận giải quan niệm sinh – diệt của kiếp ngƣời, từ đó giác ngộ
tinh thần thảnh thơi, vô sự trƣớc quy luật sinh tử đời ngƣời.
Tác giả Hà Văn Hoàng với bài Sự đốn ngộ của các bậc chân tu qua thơ
Thiền Lý – Trần đã cho ngƣời đọc thấy rõ những vấn đề về nhân sinh quan, mà
tiêu biểu là quy luật sinh – lão - bệnh - tử của đời ngƣời. Đồng thời, phản ánh tƣ
tƣởng nhập thế của các bậc Thiền sƣ trên con đƣờng đạt Đạo, hƣớng tới tinh thần
“phá chấp”, tịch diệt.
Ngoài ra, còn có rất nhiều chuyên khảo nghiên cứu về thơ ca ảnh hƣởng của
Phật giáo nói chung và lẽ sinh tử dƣới góc nhìn Phật giáo nói riêng nhƣ hai chuyên
luận của tác giả Nguyễn Công Lý: Bản sắc dân tộc trong văn học Thiền tông thời Lý –
Trần (NXB Văn hóa Thông tin, 1977), Văn học Phật giáo thời Lý Trần – diện mạo và
đặc điểm (NXB Đại học Quốc gia Tp.Hồ Chí Minh, 2002) và nhiều bài nghiên cứu,
bài viết nhỏ lẻ luận bàn về quan niệm sinh tử trong thơ ca trung đại giai đoạn từ thế kỷ
X – XV. Trong phạm vi giới hạn, chúng tôi chƣa thể khảo tả một cách đầy đủ và trọn
vẹn. Tuy nhiên, cần khẳng định rằng, đó là những bài viết mang tính gợi mở, định
hƣớng quý báu cho chúng tôi thực hiện đề tài này.
2.2. Quan niệm sinh tử trong thơ trung đại thế kỷ X – XV từ góc nhìn Nho giáo
Trong học thuyết Nho giáo không luận bàn nhiều về cái chết, bởi giáo lý chủ
chết toàn thây của Nho gia.
Luận văn Thạc sĩ Văn học Việt Nam thế kỉ XVIII – đầu XIX với vấn đề cái chết
của tác giả Vƣơng Thị Phƣơng Thảo, Trƣờng Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà
Nội, 2011 đã điểm lƣợc lại vấn đề viết về cái chết trong văn học Việt Nam trƣớc thế
kỷ XVIII. Trong đó, tác giả đề cập đến cách nhìn nhận cái chết của nhà Nho trong thơ
ca giai đoạn thế kỷ X – XV đó là tinh thần sẵn sàng chết để bảo toàn nghĩa lớn, trung
thần tiết nghĩa, coi lẽ sinh tử là thƣờng niên…
7
Trong bài viết Con người cá nhân trong văn học Việt Nam từ thế kỷ XV đến
cuối thế kỷ XVII, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đề cập tới con ngƣời Nho giáo trong
văn học thế kỷ XV là hƣớng tới tƣ tƣởng tu thân, dƣỡng thân, “sát thân thành nhân –
xả thân thủ nghĩa”, từ đó sự sống chết của thể xác không có nghĩa lý gì so với việc
thực hành điều nhân nghĩa.
Đồng quan điểm với cách nhìn nhận sinh tử của Trần Đình Sử, nhà nghiên cứu
Trần Nho Thìn trong cuốn Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX, NXB
Giáo dục Việt Nam, 2012 một lần nữa nhấn mạnh phạm trù chữ Thân của con ngƣời.
Tác giả nhận định rằng, con ngƣời sở dĩ sợ cái chết vì thân xác còn chứa đựng những
ham muốn bản năng, vật chất. Theo đó, các bậc trí tuệ giác ngộ đạo lý Nho gia, vƣợt
thoát phạm trù con ngƣời trần tục, thì cái chết không còn đáng sợ nữa, chỉ mong muốn
chết vì đạo nghĩa: “thân xác tuy thiêng liêng vì là máu thịt của cha mẹ nhưng khi cần
có thể hy sinh cho lý tưởng đạo đức cao đẹp theo mô thức sát thân thành nhân, xả thân
thủ nghĩa”[51, 54].
Tác giả Trần Văn Đoàn với bài viết Sinh tử trong Nho giáo đăng trên Tạp
chí văn hóa Nghệ An, tháng 12/2012 có thể nói là một trong những căn cƣớc cội
gốc chỉ ra các đề chính về quan niệm sinh tử trong luận thuyết Nho giáo của
Khổng Tử và sự ảnh hƣởng của nó trong thơ ca giai đoạn thế kỷ XV.
Bàn về lẽ sinh tử dƣới cái nhìn Nho giáo, trong bài viết Quan điểm Nho – Phật
– Đạo và tinh thần tam giáo đồng nguyên thời Trần của tác giả Phúc Nguyên khẳng
nhận lợi danh ở đời.
Trong bài viết Quan điểm vô vi của Lão tử và vô vi của đạo Phật của tác giả
Thích Pháp Nhƣ luận bàn về tƣ tƣởng vô vi với tự nhiên, kiếp ngƣời. Tác giả đã trích
dẫn một số vần thơ tiêu biểu viết về lẽ sinh tử và đi đến kết luận, mạng sống của con
ngƣời chỉ là tạm thời, tự nhiên mới là trƣờng cửu. Nếu con ngƣời tuân theo sinh tử vô
vi thì sẽ trở về với sự tốt đẹp của tự nhiên.
Luận bàn sâu về sự ảnh hƣởng của Đạo giáo, tác giả Ngô Thị Thu Thủy với bài
viết Văn học Việt Nam trong mối quan hệ với tư tưởng Lão Trang, nhà nghiên cứu chỉ
rõ lối sống ẩn dật, vui nhàn của một số nhà Nho giai đoạn thơ ca thế kỷ XV nhằm di
dƣỡng tính tình, giữ trọn khí tiết chốn lâm tuyền điền viên, coi nhẹ vấn đề thân xác,
đặc biệt là coi thƣờng cái chết.
Năm 2012, tác giả Nguyễn Khánh Linh tiến hành luận văn Thạc sĩ Đạo đức kinh,
Nam hoa kinh trong văn học cổ điển Việt Nam, ảnh hưởng của tư tưởng lão Trang đến thơ
9
Nôm Nguyễn Trãi: biểu hiện, nguồn gốc kinh điển, giá trị nghệ thuật, Trƣờng Đại học
KHXH & NV Tp.Hồ Chí Minh đã nghiên cứu và khẳng định sự ảnh hƣởng của tƣ tƣởng
Lão Trang trong cách sống vô vi, thuận theo tự nhiên trong nhiều tác phẩm thơ ca của
Nguyễn Trãi…
Trên cơ sở tổng hợp những ý kiến, nhận định của các nhà nghiên cứu trong các bài
viết trên, chúng tôi tạm thời đƣa ra hai kết luận:
- Các nhà nghiên cứu đã có cái nhìn thấu triệt và đƣa ra những nhận định mang
tính khái quát về vấn đề sinh tử dƣới góc nhìn Nho – Phật – Đạo.
- Chỉ ra sự ảnh hƣởng của triết lý sinh tử từ thế giới quan Nho – Phật – Đạo
trong tiến trình thơ ca trung đại thế kỷ X – XV thông qua một số tác giả và tác phẩm
tiêu biểu.
Tuy nhiên, vấn đề sinh tử trong thơ ca thế kỷ X – XV dƣới góc nhìn Tam giáo
chƣa đƣợc nhìn nhận nhƣ một đối tƣợng chuyên biệt trong nghiên cứu văn học mà chỉ
đƣợc đề cập đến nhƣ một khía cạnh chủ chốt. Vì vậy, trên cơ sở những dẫn liệu đã có,
4.2.1. Phạm vi vấn đề nghiên cứu
Những biểu hiện về quan niệm sinh tử trong thơ ca trung đại thế kỷ X – XV dựa trên
các giáo lý cơ bản bàn về lẽ sinh tử của các luận thuyết Nho – Phật – Đạo.
4.2.2. Phạm vi tƣ liệu nghiên cứu, khảo sát
- Nhiều tác giả (1977), Thơ văn Lý – Trần (tập 1), NXB Khoa học xã hội, H.
- Nhiều tác giả (1988), Thơ văn Lý – Trần (tập 2, Quyển thƣợng), NXB Khoa
học xã hội, H.
- Nhiều tác giả (1978), Thơ văn Lý – Trần (tập 3), NXB Khoa học xã hội, H.
- Nhiều tác giả (2006), Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam (Tập 1, văn học
thế kỷ X - XV), NXB Giáo dục, H.
- Lê Mạnh Thát (1999), Thiền uyển tập anh, NXB Đại học Vạn Hạnh, Tp.Hồ
Chí Minh.
- Phạm Luận (phiên âm và chú giải) (2012), Nguyễn Trãi, Quốc âm thi tập,
NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.
11
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để giải quyết tốt mục tiêu đặt ra của đề tài, chúng tôi tiến hành những phƣơng
pháp nghiên cứu sau:
- Phƣơng pháp nghiên cứu lý thuyết: tạo cơ sở lý luận vững chắc, đảm bảo tính
khoa học, tính chính xác cho đề tài.
- Phƣơng pháp thống kê phân loại: Để làm căn cứ tổng hợp và phân tích, khái
quát các hiện tƣợng biểu hiện cho lẽ sinh tử trong thơ ca theo quan niệm của Tam giáo.
- Phƣơng pháp so sánh: Để tạo ra tƣơng quan so sánh nhằm chỉ ra sự tƣơng
đồng và khác nhau trong cách luận giải sinh tử quan trong thơ ca dƣới góc nhìn của
Nho – Phật – Đạo. Tiếp nối cũng nhƣ tính sáng tạo mới mẻ riêng biệt của đối
tƣợng nghiên cứu.
- Phƣơng pháp nghiên cứu liên ngành (Văn hóa học, tôn giáo – lịch sử, nhân
học văn hóa, nghiên cứu văn học sử, đặc biệt là tôn giáo): chỉ ra đƣợc sự ảnh hƣởng,
giúp hình thành và đẩy mạnh tiến trình phát triển của các giai đoạn văn học trung đại
sau này, trên nữa là của cả một nền văn học dân tộc. Văn học trung đại từ thế kỷ X –
XV thai nghén từ chiếc nôi của nền văn học dân gian, hình thành và nảy nở trong quá
trình đấu tranh dựng nƣớc, giữ nƣớc vĩ đại của dân tộc, đồng thời có sự tiếp thu, tiếp
biến từ khu vực văn hóa chữ Hán. Cũng ở giai đoạn này, dòng văn học viết xuất hiện
nhƣ một tất yếu lịch sử, sáng tác bởi chữ Hán và chữ Nôm, trong đó, mảng thơ ca
chiếm ƣu thế và đƣợc phát triển mạnh.
Chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền năm 938 đã chấm dứt ách thống trị của
phong kiến phƣơng Bắc và mở ra thời kỳ quốc gia độc lập, biểu hiện ý chí nối liền
quốc thống với thời độc lập của nƣớc Âu Lạc xƣa. Sau khi Ngô Quyền mất, Đinh Bộ
Lĩnh dẹp loạn Mƣời hai sứ quân năm 968, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt (sau này đƣợc
Lý Thánh Tông đổi là Đại Việt) biểu hiện niềm tự hào về dân tộc. Năm 981, Lê Hoàn
đã dựa vào ý chí ấy mà chiến thắng giặc Tống xâm lƣợc. Với sự nghiệp đấu tranh
thành công của các tƣớng sĩ tài ba, thế kỷ X đã chính thức mở ra trang sử hào hùng với
sự thành lập của Nhà nƣớc phong kiến Đại Việt và lòng tự hào Tổ quốc sâu sắc. Nhà
nƣớc độc lập là cơ sở cho việc hình thành một nền văn học viết của trí thức bên cạnh
dòng văn học truyền miệng dân gian vốn đƣợc phát triển liên tục từ thời kỳ Văn Lang
13
– Âu Lạc, tồn tại nhƣ một bộ phận không thể thiếu nhằm khẳng định nƣớc Đại Việt tự
cƣờng. Văn học dân tộc, đặc biệt là sự phát triển nở rộ của thơ ca, đã đƣợc hình thành
trong quá trình phát triển nhà nƣớc ấy, trở thành tấm gƣơng phản chiếu diện mạo đời
sống lịch sử - xã hội lúc bấy giờ.
Văn học là một hiện tƣợng xã hội. Cho nên, thơ ca giai đoạn từ thế kỷ X – XV
nảy sinh trên mảnh đất màu mỡ của dân tộc không chỉ phản ánh hệ ý thức tƣ tƣởng mà
còn động lực của quá trình hình thành dân tộc. Từ thế kỷ X, giai cấp phong kiến Đại
Việt đƣợc độc lập nhƣng ít nhiều các thiết chế cai trị vẫn mô phỏng theo nhà nƣớc
phong kiến phƣơng Bắc. Vậy nên, về mặt văn hóa thì Hán học rất đƣợc coi trọng. Chữ
Hán đƣợc dùng làm văn tự chính thức, cũng là thứ chữ dùng để sáng tác thơ ca là chủ
kể trên, với sự ảnh hƣởng của quan niệm Nho – Phật – Đạo tuy nhiều lúc khác nhau,
nhƣng đều có chung một điểm đích đó là sáng tác thơ ca hƣớng đến tinh thần dân tộc
cao cả, thiêng liêng.
Tình hình sáng tác thơ ca từ thế kỷ X – XV phong phú, đa dạng qua nhiều giai
đoạn phân kỳ chia nhỏ. Từ thế kỷ X – XII, đây là văn học thời Lý đang trong giai đoạn
mở đầu nên số lƣợng tác giả và tác phẩm chƣa nhiều, chủ yếu là các sáng tác thơ ca
của các thiền sƣ nhƣ Thị đệ tử (Vạn Hạnh thiền sƣ), Cáo tật thị chúng (Mãn Giác thiền
sƣ), Sinh lão bệnh tử (Diệu Nhân ni sƣ), Thị tật (Quảng Nghiêm thiền sƣ)…. Ngoài ra,
còn có một số các tác phẩm tiêu biểu của các tác giả ngoài nhà chùa chịu ảnh hƣởng
của Phật giáo nhƣ Sắc không (Lê Thị Ỷ Lan), Thị chư Thiền lão tham vấn Thiền chỉ
(Lý Thái Tông), Thông Huyền đạo nhân (Lý Nhân Tông)… Sang thế kỷ XII –XIV, thơ
ca phát triển rầm rộ với các thi tập nhƣ Thái Tông thi tập (Trần Thái Tông), Thánh
Tông di tập (Trần Thánh Tông), Lạc Đạo tập (Chiêu Minh Vƣơng Trần Quang
Khải),… Đáng chú ý hơn cả là các thi tập của các nhà Nho nhƣ Cúc hoa bách vịnh
(Trƣơng Hán Siêu), Tiều ẩn thi tập (Chu Văn An), Hiệp Thạch tập (Phạm Sƣ
Mạnh),… Cũng ở giai đoạn này, thơ ca sáng tác bằng chữ Nôm đã ra đời, tạo cơ sở
cho việc xây dựng những tác phẩm thơ Nôm ở đời sau. Ở thế kỷ XV, thơ ca chủ yếu
do các nho sĩ sáng tác. Tiêu biểu là tác gia Nguyễn Trãi với Ức Trai thi tập (chữ Hán)
và Quốc âm thi tập (chữ Nôm) và một số tập thơ chữ Hán nhƣ Chuyết Am thi tập (Lý
Tử Tấn), Cưu đài tập (Nguyễn Húc), Trúc Khê thi tập (Trình Thanh),…
Điểm lƣợc diện mạo thơ ca giai đoạn thế kỳ X – XV, có thể thấy đƣợc sự
trƣởng thành và ngày càng lớn mạnh của đội ngũ tác giả từ những ngày đầu mới hình
thành văn học viết, cùng với đó là sự tăng lên đáng kể về số lƣợng, chất lƣợng tác
phẩm. Thơ ca đã thể hiện hào khí dân tộc, chủ nghĩa yêu nƣớc, chủ nghĩa anh hùng
của thời đại trong sự nghiệp đấu tranh, phục hƣng và xây dựng đất nƣớc. Vị thế chính
15
thống, quan phƣơng vẫn là văn học chữ Hán, nhƣng văn học chữ Nôm đã sớm xuất
hiện nhƣ một thành phẩm văn học không thể thiếu, trở thành thành tựu đáng ghi nhận
16
gian dài đó, có thể nói, Phật giáo thịnh vƣợng nhất vào thời Lý – Trần. Ảnh hƣởng qua
lại lẫn nhau giữa chế độ phong kiến tự chủ và Phật giáo đã in đậm trong các sinh hoạt
xã hội với một thời đại mà các thiền sƣ, những triết gia hòa đạo với đời, tham gia
chính trị, góp phần tạo nên ý chí kiên cƣờng cho dân tộc. Trƣớc nhà Lý, các nhà nƣớc
phong kiến ngoài việc sử dụng các hình pháp cai trị thì một phần còn phải dựa vào
Phật giáo để xác lập trật tự, quy tụ nhân tâm nhằm ổn định xã hội. Cho đến thế kỷ X,
một hệ thống chùa chiền và một màng lƣới tăng ni rộng lớn đã hình thành ở khắp nơi.
Các nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê dựng nƣớc đều phần nào dựa vào thế lực của tăng lữ. Lý
Công Uẩn – ngƣời mở đẩu triều đại nhà Lý, đƣợc nhà chùa nuôi từ nhỏ, cho nên khi
lên làm vua càng phải dựa vào nhà chùa. Ông đã ban nhiều lệnh có lợi cho sự phát
triển của Phật giáo: làm chùa trong cả nƣớc, độ dân làm sƣ, sai sứ sang Trung Quốc
xin kinh Tam tạng… Ảnh hƣởng của Phật giáo từ đó càng thêm mạnh. Cũng vì thế mà
dân gian có câu tục ngữ: “Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt” để phản ánh tình hình
xã hội đời Lý bấy giờ.
Tƣ tƣởng sâu xa vi diệu của Phật giáo với các giáo lý căn bản nhƣ Tứ Diệu Đế,
Mười Hai Nhân Duyên, Bát Chánh Đạo, Thuyết vô ngã đã hiện hữu trong mạch sống
dân tộc ngay từ những ngày đầu du nhập. Cho đến nay, tƣ tƣởng đó đã thấm nhuần
trong tâm hồn dân tộc Việt Nam thành một khối keo sơn khó phai mờ và lay chuyển.
Trái ngƣợc với giáo lý căn bản của Nho giáo là các nguyên lý nhƣ “mệnh trời”, “chính
danh”, “tam cƣơng, ngũ thƣờng”, “trung hiếu lễ nghĩa”,…để tổ chức hệ thống cai trị
thì đạo Phật lại dùng chính chân tâm của con ngƣời để hƣớng tới sự giác ngộ, lấy sự từ
bi để tu luyện mình và giúp đỡ ngƣời khác, là công cụ đắc lực để làm yên lòng dân
chúng, ổn định trật tự xã hội. Trong đời Lý – Trần, Phật giáo rất thịnh hành, vì thế, thơ
ca đời thời kỳ này chịu ảnh hƣởng các triết luận, tƣ tƣởng của Phật giáo, thậm chí
mang tính chất chủ đạo. Bởi lẽ, từ khi du nhập, Phật giáo không chỉ tồn tại nhƣ một
tôn giáo mà đã hòa vào cuộc sống của cƣ dân Đại Việt, góp phần tạo nên tính đa dạng,
phong phú trong các yếu tố dân tộc Việt. Tƣ tƣởng giáo lý Phật giáo phù hợp với tâm
hồn, cách nghĩ dân tộc sau hơn ngàn năm bị ngoại bang thống trị, đang khao khát
hƣớng tới xây dựng một quốc gia độc lập, tự chủ. Tất cả những điều đó hầu nhƣ đã
chứa đựng những triết lý sâu xa nhƣng rất gần gũi với con ngƣời,lại vừa sâu lắng,
thanh thoát, thâm thúy mà nhẹ nhàng, dễ đi sâu vào tâm thức ngƣời Việt với những giá
trị nhân văn cao đẹp. Chính từ sự đốn ngộ chân lý của Phật học, các vị thiền sƣ, các
vua quan là những Phật tử thuần thành đã khởi sinh dòng thơ Thiền đạt đạo, dễ dàng đi
18
sâu vào lòng dân tộc, với nét đẹp không bao giờ mất của Phật giáo, đó là tinh thần
“nhập thế mà không trụ thế”.
1.2.2. Tƣ tƣởng Nho giáo – học thuyết nhân văn nhìn từ mối quan hệ Tam Tài
Sau khi giành đƣợc độc lập dân tộc ở đầu thế kỷ X, Ngô Quyền đã xoá bỏ chế độ
quận huyện của nhà Hán và xây dựng nên một chính thể độc lập, tự chủ. Nhƣng, con
ngƣời làm nên lịch sử Việt Nam lúc đó là dựa trên di sản của thời kỳ Bắc thuộc để lại,
gồm cơ cấu xã hội, con ngƣời, học thuyết, tín ngƣỡng, trong đó có Nho giáo. Trong lịch
sử Trung Hoa cổ đại, Nho giáo, Nho gia (đạo Nho) là một thuật ngữ bắt đầu từ chữ
“Nho”, mà theo Hán tự, từ "Nho" gồm từ " Nhân" (ngƣời) đứng trên chữ "Nhu" mà thành.
Nhân là ngƣời, Nhu là cần dùng để giúp cho nhân quần trong xã hội biết đƣờng ăn ở và
hành động cho phù hợp với lẽ trời.
Kinh điển Nho gia bao gồm có Tứ thư (Trung dung, Đại hoc, Luận ngữ, Mạnh
tử), Ngũ kinh (Kinh dịch, Kinh thƣ, Kinh thi, Kinh lễ, Kinh xuân thu) và các giáo lý cơ
bản nhƣ Tam cương (quân thần, phụ tử, phu phụ), Ngũ Thường (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí,
Tín). Mục tiêu của Nho giáo là phát huy tính thiện của con ngƣời, khiến ngƣời dân biết
bỏ ác theo thiện, giúp mọi ngƣời đạt đến trình độ đạo đức cao nhất. Để làm đƣợc điều
này mỗi ngƣời phải không ngừng rèn luyện nhân cách và đạo đức của bản thân. Cũng
trong hạt nhân tƣ tƣởng triết học Nho giáo, nhấn mạnh đến yếu tố Nhân và Lễ, trong
đó, coi chữ Nhân là đạo đức hoàn thiện nhất. Đó là căn nguyên mà Nho giáo đã đề cao
chữ Nhân trong mối quan hệ Tam tài (Thiên – Địa – Nhân). Nhân tâm nhƣ gƣơng, trời
đất có thể coi là vật ngoài gƣơng, nhƣng cái mà ta gọi là vũ trụ là ảnh trong gƣơng.
Ảnh đó tất không phải trời, không phải đất, cũng không phải tâm, mà là kết quả sự hòa
hợp của cả ba, con ngƣời bởi thế mới sánh ngang trời đất. Con ngƣời không thể biết gì
chế độ phong kiến. Khi các triều đại còn thịnh vƣợng, sự học của khoa cử và thụ
hƣởng ơn vua lộc nƣớc đƣợc các Nho sĩ trí thức trẻ rất coi trọng. Từ đầu thế kỷ thứ X,
tuy Phật giáo là quốc giáo nhƣng Nho giáo vẫn tìm đƣợc chỗ đứng của mình, đặc biệt
ở giai đoạn thế kỷ XIII - XV, lực lƣợng sáng tác thơ ca chủ yếu là các nhà Nho. Cho
đến thời Lê Thánh Tông thì Nho giáo đạt tới đỉnh cao thịnh vƣợng. Đƣờng lối trị nƣớc
với sự cộng gộp của “Đức trị” và “Pháp trị” nhất quán trong suốt thời gian tại ngôi.
Không chỉ các Nho sĩ sáng tác, mà các quân vƣơng cũng sáng tác thơ ca. Ngoài việc
dùng luận thuyết Nho gia để vận dụng phục vụ đất nƣớc, họ còn tiếp thu, lĩnh hội và
phát huy tinh thần Nho học vào trong từng trang thơ, coi thơ ca nhƣ một lãnh địa gửi
gắm tâm sự ƣu thời mẫn thế của mình, là một trong những công cụ truyền bá tƣ tƣởng
Nho học uyên thâm. Không khó để thấy trong nhiều thi phẩm mang đậm màu sắc Nho