Cảnh thu trong thơ Trung đại Việt Nam - Pdf 55

Cảnh thu trong thơ Trung đại Việt Nam
PGS.TS. Nguyễn Huy Quát; Chu Thị Thúy Hằng
Khoa Ngữ văn, ĐHSP Thái Nguyên
Có thể nói, Cảnh thu là một trong những hình ảnh thiên nhiên nổi bật của bức tranh bốn
mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông trong thơ trung đại Việt Nam. Thiên nhiên mùa thu vừa là nguồn cảm
hứng, vừa là nơi gửi gắm tâm tư, tình cảm của thi nhân, theo lẽ “tức cảnh sinh tình”, “tả cảnh ngụ
tình”. Cảnh thu trong thơ trung đại có khi được miêu tả qua một số câu thơ trong bài tứ tuyệt, bát
cú Đường luật… hoặc ở rải rác trong truyện thơ Nôm, nhưng cũng có khi cả bài thơ hướng về
một đề tài “vịnh thu” (tả cảnh mùa thu) hoàn chỉnh…
Nói về đề tài “vịnh thu” trong thơ trung đại Việt Nam cũng có nghĩa là tìm hiểu quá trình phát
triển của nó qua nhiều thế kỷ, nhất là từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm đến Nguyễn Du, và đặc
biệt là Nguyễn Khuyến. Bởi vì, ban đầu các nhà thơ Việt Nam “vịnh thu” cũng giống như tả cảnh
mùa xuân, mùa hạ, mùa đông- thường thiên về sử dụng những hình ảnh có sẵn trong nguồn thơ
Đường (Trung Quốc) và mang tính ước lệ, tượng trưng. Nhưng qua một thời gian dài, đề tài này đã
đạt đến độ chín, vừa dễ hiểu, trong sáng, vừa gần gũi với thực tế thiên nhiên mùa thu Việt Nam.
1. Đề tài “vịnh thu” trong thơ trung đại Việt Nam trước thế kỷ XIX
Trong mối quan hệ ảnh hưởng của văn học trung đại Trung Quốc đối với văn học trung đại
nước ta, thì thơ “vịnh thu” Việt Nam cũng có sự ảnh hưởng và học hỏi thơ Đường - một trong
những đỉnh cao của thơ ca nhân loại - cũng là điều tất nhiên. Cảnh thu có trong thơ Trung Quốc,
được thể hiện qua hình ảnh: lá đỏ, rừng phong, tuyết đưa hơi lạnh, chày đập vải, cây ngô đồng...
đã “du nhập” vào thơ thu Việt Nam, ở cả chữ Hán và chữ Nôm.
Bắt nguồn cảm hứng từ một đêm thu đất nước, trong bài “Thu dạ dữ Hoàng giang Nguyễn
Nhược thuỷ đồng phú” (Đêm thu cùng ngâm với Hoàng giang Nguyễn Nhược-thuỷ), Nguyễn Trãi
viết:
Hồng diệp đôi đình trúc ủng môn,
Mãn giai minh nguyệt quá hoàng hôn.
Cửu tiêu thanh lộ tam canh thấp,
Tứ bích hàn cùng triệt dạ huyên.
Thiên lại ngữ thu kinh thảo mộc,
Ngọc thằng đê Hán chuyển càn khôn...
(Lá đỏ chồng ở sân, trúc ôm lấy cửa,

mơ hồ như là tả cảnh vật ở đâu đó. Chẳng hạn như bài thơ sau đây:
Lác đác ngô đồng mấy lá bay,
Tin thu hiu hắt lọt hơi may.
Ngàn kia cách nước so le địch,
Mái nọ bên đường đủng đỉnh chày.
Lau chổng bãi Nam ngàn dặm rợp,
Nhạn về ải Bắc mấy hàng bay.
Quí Ưng, Tống Ngọc dường bao nữa,
Khi ấy nhiều người cám cảnh thay.
Là người Việt Nam, làm thơ tả cảnh thu tại quê hương mình, được viết bằng tiếng dân tộc
mình thì không ít những hình ảnh cụ thể mang mầu sắc Việt Nam có thể dùng, thế mà cứ phải
lặp lại những “mô típ” người nước ngoài và nhiều người trong nước đã viết, đến sáo mòn như lá
ngô đồng, đủng đỉnh chày, nhạn về ải Bắc, Quý Ưng, Tống Ngọc từ đời nào bên Trung Quốc!
Phải chăng trong một thời gian dài, cách dạy và học theo lối giáo điều, khuôn sáo của nhà
trường phong kiến đã hạn chế sự linh hoạt, sáng tạo của các nhà thơ trung đại, xuất thân từ các
nhà nho?
Nhà thơ - nhà phê bình văn học Xuân Diệu có lời khen bài Mùa thu của Ngô Chi Lan, một nữ
sĩ dưới thời Lê Thánh Tông là “một bước tiến của thơ”, “lời văn ở đây đã trong sáng, liền, thoải
mái, không vất vả, không gợn, và có nhạc điệu”, đồng thời ông cũng chỉ ra hạn chế có tính cố hữu
của các nhà thơ ở giai đoạn này: “Còn thì vẫn các yếu tố ước lệ: Gió vàng, bóng nhạn, giếng ngọc,
rừng phong”
(2)
. Bài thơ Nôm có nhan đề Mùa thu thể hiện rõ chủ ý của Ngô Chi Lan là dành trọn
cho việc tả cảnh thu, đã được Xuân Diệu nhận xét ở trên, gồm bốn câu:
Gió vàng hiu hắt cảnh tiêu sơ,
Lẻ tẻ bên trời bóng nhạn thưa.
Giếng ngọc sen tàn bông hết thắm,
Rừng phong lá rụng tiếng như mưa.
(Hồng Đức quốc âm thi tập)
Những thế kỷ XVI-XVIII tiếp theo, các nhà thơ trung đại Việt Nam tuy ít sử dụng những

Nhất thiên hàn sắc tảo phù vân.
(Muôn dặm tiếng thu dồn lá rụng,
Đầy trời sắc lạnh quét mây bay)
(Quách Tấn dịch)
Điểm lại một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu của thơ trung đại Việt Nam viết về mùa thu,
chúng ta thấy rõ những hạn chế trong bút pháp miêu tả, ở cả thơ chữ Hán và chữ Nôm là thiên về
sách vở, ước lệ, tượng trưng, chung chung, thiếu tính hiện thực, sinh động, cụ thể và chưa có được
nét riêng biệt, độc đáo ở mỗi nhà thơ. Nhưng đến Nguyễn Khuyến (1835-1909), với ba bài thơ thu
nổi tiếng, thì những ưu điểm trong bút pháp miêu tả của ông sáng rỡ lên như một dấu son tươi
mới. Theo Bùi Văn Nguyên, đó là “thành công tốt đẹp của quá trình dân tộc hoá nội dung mùa thu
cho thật là thu Việt Nam..., và dân tộc hoá hình thức lời thơ, câu thơ cho thật là Nôm, là Việt
Nam”
(3)
... của Tam nguyên Yên Đổ.
2. Nguyễn Khuyến với chùm thơ Thu điếu, Thu vịnh, Thu ẩm
Nguyễn Khuyến, bằng tài năng của mình, đã đưa thơ Việt Nam phát triển lên một bước mới,
đặc biệt là đến gần với hiện thực, cụ thể và sinh động hơn trong bút pháp miêu tả. Thiên nhiên
làng quê trong thơ Yên Đổ đến với độc giả bằng tất cả vẻ đẹp giản dị, thanh sơ mà vẫn có được
những nét hấp dẫn riêng của nó.
Trong số rất nhiều bài thơ tả cảnh thiên nhiên của Nguyễn Khuyến, có ba bài thơ đã luôn toả
ra thứ ánh sáng êm dịu và trong trẻo, làm say đắm lòng người. Thiên nhiên bao la của những ngày
thu muộn, có ao nước trong veo lóng lánh bóng trăng, có đom đóm “lập loè ngõ tối” đã tạo nên ba
bức tranh đặc sắc về cảnh thu Việt Nam ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Trong cuốn Văn học Việt Nam (Nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX), Nguyễn Lộc nhận
định: ''Nói về thiên nhiên, trong văn học cổ có rất nhiều, tả cái đẹp của thiên nhiên mùa thu
trong văn học cổ rất hay. Nhưng trước Nguyễn Khuyến, chưa bao giờ có một thiên nhiên nào
đậm đà phong vị của đất nước quê hương đến thế''
(4)
. Xuân Diệu cũng đã từng nhận xét:
''Nguyễn Khuyến nổi tiếng nhất trong văn học Việt Nam là về thơ Nôm, mà trong thơ Nôm của

thu sống động hơn và đủ để đánh thức thi sĩ trở về với thực tại, sau những suy ngẫm mơ màng. Có
thể nói, sự xuất hiện bất ngờ của một âm thanh trong khung cảnh tĩnh lặng ấy, là nét sắc sảo và
tinh tế trong nghệ thuật tả cảnh của nhà thơ. Nếu tiếng chó nhỏ bên ao cắn tiếng người (Đến chơi
nhà bác Đặng - Nguyễn Khuyến) làm cho buổi trưa hè ở làng quê trở nên có sức sống hơn, thì ở
đây cá đâu đớp động dưới chân bèo (Thu điếu) lại chứa đựng một âm thanh đa nghĩa, vừa cô đơn,
vừa bất lực...
Cũng trong mạch cảm xúc ấy, Nguyễn Khuyến đã đưa cái thần của cảnh thu Việt Nam vào bài
Thu vịnh. Cái thanh thoát nhẹ nhõm, cái cao vời vợi của không gian được gói gọn trong bầu trời
thu xanh ngắt kia. Điểm nhấn trên nền trời ấy là cần trúc - Một sự tạo hình trong không gian thật
cụ thể. Cây trúc còn non trông yếu ớt, mong manh, khi có làn gió thu hiu hiu thổi nhẹ, giống như
chiếc cần câu nghiêng bóng xuống mặt ao, đu đưa trước gió. Đường nét cong cong của thân cây,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status