Tinh thần khẳng định quốc gia dân tộc trong văn xuôi trung đại việt nam thế kỉ x XIV - Pdf 31

Khoá luận tốt nghiệp

LỜI CẢM ƠN

Đề tài “Tinh thần khẳng định quốc gia dân tộc trong văn xuôi
trung đại Việt Nam thế kỉ X – XIV” được thực hiện nhờ sự giúp đỡ của các
thầy giáo, cô giáo Khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2; các
thầy cô trong Tổ Văn học Việt Nam; đặc biệt là Thạc sĩ Nguyễn Thị Tính – cô
giáo trực tiếp hướng dẫn tác giả khóa luận trong suốt quá trình viết đề tài
nghiên cứu khoa học. Tác giả khóa luận trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô
giáo và riêng Thạc sĩ Nguyễn Thị Tính, cô luôn nhiệt tình hướng dẫn, giúp tác
giả khóa luận hoàn thành đề tài nghiên cứu “Tinh thần khẳng định quốc gia
dân tộc trong văn xuôi trung đại Việt Nam thế kỉ X – XIV”.
Tác giả khóa luận xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 02 tháng 5 năm 2010
Tác giả khóa luận

Trần Thị Thanh

1

Trần Thị Thanh - K32EVăn


Khoá luận tốt nghiệp

LỜI CAM ĐOAN

Được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của Thạc sĩ Nguyễn Thị Tính và
có tham khảo các bài nghiên cứu của những tác giả khác, tác giả khóa luận đã

thế kỉ X – XIV ............................................................................................. 7
1.1. Những vấn đề chung về lịch sử xã hội, tư tưởng ...................................... 7
1.1.1. Lịch sử xã hội ....................................................................................... 7
1.1.2. Tư tưởng thời đại ................................................................................ 10
1.2. Những vấn đề chung về văn học thế kỉ X – XIV.................................... 11
1.2.1. Lực lượng sáng tác ............................................................................. 11
1.2.2. Tác phẩm văn học............................................................................... 12
Chương 2: Tinh thần khẳng định quốc gia dân tộc trong văn xuôi trung
đại Việt Nam thế kỉ X – XIV ...................................................................... 15
2.1. Khẳng định quốc gia dân tộc trên phương diện nội dung cảm hứng ....... 15
2.1.1. Khẳng định độc lập, chủ quyền ........................................................... 15
2.1.2. Khẳng định văn hiến, văn hóa............................................................. 21
2.1.2.1. Khẳng định con người Đại Việt tài năng, đức độ ............................. 22
2.1.2.2. Khẳng định phong tục tập quán dân tộc ........................................... 33
3

Trần Thị Thanh - K32EVăn


Khoá luận tốt nghiệp
2.1.3. Khẳng định non sông, đất nước giàu đẹp ............................................ 36
2.1.4. Khẳng định Đại Việt anh hùng, bất khuất ........................................... 39
2.1.5. Khẳng định tương lai trường tồn của dân tộc ...................................... 43
2.2. Khẳng định quốc gia dân tộc trên phương diện ý thức nghệ thuật .......... 48
2.2.1. Về văn tự ............................................................................................ 49
2.2.2. Về thể loại .......................................................................................... 50
KẾT LUẬN ................................................................................................. 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 58

4

1.3. Lí do cá nhân
Văn học thế kỉ X – XIV trải qua sáu triều đại phong kiến tự chủ đầu
tiên: Ngô, Đinh, Lê, Lí, Trần, Hồ. Đây là nền văn học viết đầu tiên của Việt

5

Trần Thị Thanh - K32EVăn


Khoá luận tốt nghiệp
Nam. Nó hình thành và phát triển trong bối cảnh Việt Nam vừa thoát khỏi
trên 1000 năm Bắc thuộc. Hoàn cảnh lịch sử đó đã tác động trực tiếp tới văn
học. Đó là thời kì “nhà nước phong kiến Việt Nam hình thành và phát triển,
với những đặc điểm riêng biệt, vừa mô phỏng Trung Quốc, vừa có bản sắc
riêng” [5, 15]. Nó có nhiều ưu việt và tích cực. Các triều đại phong kiến này
đã có những đóng góp to lớn vào việc “kháng chiến, kiến quốc”. Âm vang
của những chiến công chống xâm lược, của những thành tích xây dựng, và
của những thành tựu văn hóa to lớn làm cho văn học thời kì này có một dáng
vẻ thật huy hoàng, lộng lẫy.
Với những lí do trên, tạo nên niềm say mê trong tác giả khóa luận về
một thời kì văn học được đánh giá là mở đầu cho nền văn học Việt Nam.
2. Lịch sử vấn đề
Trải qua hơn 1000 năm Bắc thuộc, năm 938 với chiến thắng Bạch Đằng
của Ngô Quyền đã mở đầu thời kì quốc gia độc lập. Đó là sự kiện lịch sử
trọng đại. Tinh thần khẳng định quốc gia dân tộc trở thành một nhu cầu của
lịch sử thời đại. Đó cũng là nội dung chính của văn học thế kỉ X – XIV. Phần
lớn các sáng tác văn học thời kì này có “âm hưởng rất hào hùng, sảng khoái,
siêu thoát, bay bổng. Đó là giọng văn của những người anh hùng, của kẻ sĩ
quân tử gặp thời và thành đạt, của những người phi thường làm chủ cuộc
sống và thời đại. Từ văn học Phật giáo thời Lý đến văn học Nho giáo thời

nghĩa hiện đại của nó. Đó là những con người có tâm trạng hào hứng, phấn
khởi, siêu thoát, bay bổng. Đó là những anh hùng, liệt nữ, những thần, Phật,
những vị sư đạo cao đức trọng, những vua chúa, quan lại, nho sĩ,… có dáng
vóc kì vĩ, hành động phi thường, chiến công hiển hách. Thường là con người
chân dung, con người tấm gương dùng để ngợi ca, khẳng định, giáo huấn.
Con người đó là con người nhất thể, nhất dạng, không mấy khi mâu thuẫn và
phức tạp. Là con người của tinh thần và ý chí, nguyên tắc và chuẩn mực, có
tâm trạng cân đối, hài hòa, thanh cao”[5, 18]. Vậy là tác giả Nguyễn Phạm
Hùng nghiên cứu từ góc độ hình thức nghệ thuật đi đến những kết luận về nội
dung trong văn học thế kỉ X – XIV.

7

Trần Thị Thanh - K32EVăn


Khoá luận tốt nghiệp
Đoàn Thị Thu Vân (chủ biên), Lê Trí Viễn, Lê Thu Yến, Lê Văn Lực,
Phạm Văn Phúc, (2003), Văn học Trung đại Việt Nam thế kỉ X – cuối thế kỉ
XIX, Nhà xuất bản Giáo dục có triển khai luận điểm “Văn học thế kỉ X – XIV
là một nền văn học đậm đà tinh thần dân tộc và chất nhân văn” [12, 36]. Bài
viết tập trung phân tích, chứng minh những nội dung nổi bật nhất làm nên
những nét cơ bản cho diện mạo của văn học giai đoạn này.
Lê Thu Yến (chủ biên), Đoàn Thị Thu Vân, Lê Văn Lực, Phạm Văn
Nhu, (2003), Văn học Việt Nam, Văn học trung đại những công trình nghiên
cứu, Nhà xuất bản Giáo dục có lựa chọn “giới thiệu những bài viết được đánh
giá tốt và được xem như tiếng nói thẩm định tiêu biểu về một thời kì văn học”
[13, 10]. Bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau, các bài viết đi sâu vào nhiều
khía cạnh như: chủ đề, thể loại, ngôn ngữ, hình tượng nhân vật, thời gian –
không gian nghệ thuật… giúp người đọc tìm hiểu, khám phá và thưởng thức

4. Nhiệm vụ của đề tài
Làm rõ những nét cơ bản nhất về lịch sử xã hội, tư tưởng và văn học
thế kỉ X – XIV.
Khẳng định, ngợi ca quốc gia Đại Việt trên tinh thần dân tộc ở phương
diện nội dung cảm hứng và ý thức nghệ thuật; từ đó bồi dưỡng lòng yêu nước,
quyết tâm gìn giữ độc lập nước nhà cho các thế hệ con người Việt Nam.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tinh thần khẳng định quốc gia dân
tộc trong văn xuôi trung đại Việt Nam thế kỉ X – XIV.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là: Văn xuôi trung đại Việt Nam thế kỉ X
– XIV.
Về tư liệu bao gồm: Thơ văn Lý – Trần tập I; Thơ văn Lý – Trần tập II;
Thơ văn Lý ­ Trần tập III; và các bài nghiên cứu về văn xuôi trung đại Việt
Nam thế kỉ X – XIV.
6. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả khóa luận sử dụng những
phương pháp nghiên cứu sau đây:

9

Trần Thị Thanh - K32EVăn


Khoá luận tốt nghiệp
- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
- Phương pháp hệ thống.
- Phương pháp so sánh đối chiếu.
7. Đóng góp của khóa luận
Về mặt lí luận, hiểu kĩ hơn về giá trị nội dung và nghệ thuật của văn
xuôi trung đại Việt Nam thế kỉ X - XIV. Mỗi chúng ta càng thêm tự hào và

Năm 938, với chiến thắng B¹ch Đằng, đất nước ta bước vào một kỷ
nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự chủ; kết thúc sự đô hộ của phong kiến
Trung Hoa hơn một nghìn năm. Thế kỷ X - XIV là chặng đường đầu tiên tính
từ năm 939, Ngô Quyền xưng vương dựng nước đến năm 1414, nước ta rơi
vào ách thống trị của nhà Minh. Gần năm thế kỷ cũng là thời gian diễn ra sự
hưng vong của sáu triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ. Chế đé phong
kiến Việt Nam dần dÇn ổn định dưới triều Ngô, Đinh, Tiền Lê; đến thời Lý Trần, nhà nước phong kiến được xây dựng ngày càng lớn và vững vàng. Vì
vậy, các thế kỷ X, XII, XIII, XIV là “giai đoạn đại phục hưng và phát triển
của dân tộc về mọi mặt” [12, 34].
Thế kỉ X – XIV, dưới triều đại Lý – Trần, Đại Việt đã diễn ra công
cuộc xây dựng quốc gia phong kiến dân tộc độc lập vµ phục hưng văn hóa.
Về kinh tế, các triều vua đều khuyến khích phát triển nông nghiệp: Nhà
Đinh, TiÒn Lê, Lý và đầu đời Trần; bên cạnh đất công điền, công thổ tức là
bộ phận chủ yếu của ruộng đất trong toàn quốc; những đại điền trang của triều
đình, quý tộc cùng ruộng đất của nhà chùa cũng chiếm phần quan trọng.
Ruộng đất tư hữu của tiểu nông, địa chủ từ đời Lý trở đi tuy chưa nhiều
nhưng cũng ngày càng tăng nhanh.
Triều Lê Hoàn có lễ cày ruộng tịch điền, thể hiện sự coi trọng nghề
nông: cứ đầu năm, vào tháng Giêng, vua đích thân cày đường cày đầu tiên.

11

Trần Thị Thanh - K32EVăn


Khoá luận tốt nghiệp
Nhà Lý - Trần, chú ý đến vấn đề bảo vệ ruộng đất, chống lũ lụt: Năm 1118,
Vua Lý cho đắp đê Cư Xá; từng bước phát triển, củng cố hệ thống các sông,
đặc biệt là sông Nhĩ Hà; mở rộng diện tích canh tác, khuyến khích việc khai
hoang; ban hành chính sách “ ngụ binh ư nông” nhằm đảm bảo yêu cầu sẵn

ít có đôi chút ruộng đất) cùng nông nô ở các điền trang của nhà nước, quý tộc,
tăng lữ. Ngoài ra còn có thợ thủ công, lái buôn; họ xuất hiện khi nghề thủ
công , thương nghiệp buôn bán phát triển.
Cùng với cơ cấu chính quyền, nhà nước tiến hành khôi phục lại quốc
hiệu, định lại kinh đô.
Về mặt tổ chức quân đội, dưới triều đại nhà Lý, quân đội từ trung ương
tới địa phương có những nguyên tắc, quy định rất nghiêm ngặt. Ở trung ương
có quân đội chính quy thường trực; toàn dân là lính dự bị và toàn thể quân đội
đều có chữ “thiên tử quân”; vua chú ý đến việc thưởng người có công, phạt
người mang tội. Về luật pháp, triều đình từng bước xây dựng: Ở thời kỳ đầu,
chưa có luật pháp cụ thể, vua xử người có tội theo ý muốn của mình; đến thời
Lý đã ban hành Bộ luật Hình Thư (1042).
Về văn hóa – giáo dục, đất nước độc lập là điều kiện thuận lợi để văn
hóa dân tộc phát triển mạnh mẽ. Triều đình có nhiều cố gắng khôi phục phong
tục, tập quán, tín ngưỡng dân gian và phát huy những giá trị vốn có của văn
hóa dân tộc nhằm xây dựng một nền văn hóa cởi mở, đậm đà bản sắc dân tộc.
Các triều vua cho xây dựng nhiều lâu đài, cung điện, thành lũy, đền thờ
(anh hùng dân tộc, thần linh), nhiều nhất là chùa tháp; Tháp Báo Thiên,
Chuông Quy Điền, Tượng phật Chùa Quỳnh Lâm, Đỉnh Phổ Minh, Chùa
Diên Hựu (chùa Một Cột), lăng mộ nhà Trần, thành nhà Hồ, Hoàng thành
Thăng Long,… là những công trình kiến trúc có nghệ thuật độc đáo.
Trong thời kỳ đầu, giáo dục chưa có quy mô lớn, chưa có những cuộc
thi thử nhân tài, chỉ dựa vào việc tiến cử, nhận cử; đến đời Lý - Trần, chính
sách giáo dục được tổ chức chặt chẽ và có hệ thống: nội dung giáo dục, học
Tứ thư (Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh tử), Ngũ kinh (Kinh thư, Kinh
lễ, Kinh dịch, Kinh xuân thu, Kinh thi).

13

Trần Thị Thanh - K32EVăn


14

Trần Thị Thanh - K32EVăn


Khoá luận tốt nghiệp
Lý, Nho học bắt đầu được đề cao; Năm 1070, Lý Thánh Tông lập Văn Miếu ở
Thăng Long; Năm 1075, vua Lý Nhân Tông mở khoa thi “Nho học tam
trường” đầu tiên; Năm 1076, chọn những quan chức biết chữ cho vào học ở
Quốc Tử Giám. Nho giáo được chú trọng trong quan hệ dung hòa với Phật
giáo và Đạo giáo. Phật giáo ở thời Lý được coi là quốc giáo, nó truyền bá
rộng rãi trong đời sống xã hội và in ấn trên mọi lĩnh vực văn hóa dân tộc.
Thời Trần vẫn tổ chức các khoa thi Tam giáo. Từ năm 1232, bắt đầu mở
khoa thi Nho học. Lực lượng trí thức được đào tạo theo Nho học ngày càng
đông. Nho giáo đẩy lùi ảnh hưởng của Phật giáo, chiếm dần địa vị quốc giáo.
Như vậy, ba hệ tư tưởng Phật, Đạo, Nho ở mỗi triều đại có những địa vị
khác nhau nhưng đều được giai cấp thống trị dùng để hỗ trợ, ủng hộ vương
quyền bằng phương pháp dung hòa giữa Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo.
1.2. Những vấn đề chung về văn học thế kỷ X - XIV
Lịch sử - xã hội giai đoạn thế kỷ X – XIV có nhiều biến động lớn lao.
Những thăng trầm tác động mạnh đến văn học. Thời đại đặt ra những yêu cầu
mới, làm nên một giai đoạn văn học có diện mạo riêng, đặc điểm riêng.
1.2.1. Lưc lượng sáng tác
Đến thời Lý, nước ta thực sự có một nền văn học viết khá đặc sắc.
Ngoài một số tác giả thuộc tầng lớp vua quan như: Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông,
Lý Nhân Tông, Lý Thường Kiệt, Đoàn Văn Khâm,… lực lượng sáng tác chủ
yếu là các nhà sư.“Thiền uyển tập anh ngữ lục” thống kê có khoảng trên 40
nhà sư sáng tác thơ văn thời bấy giờ như: Vạn Hạnh, Viên Chiếu, Không Lộ,
Mãn Giác, Quảng Nghiêm,…

Xứng núi Ngưỡng Sơn”, “Văn bia chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh” (Pháp
Bảo), “Văn bia tháp Sùng Thiện Diên Linh” (Nguyễn Công Bật). Có các văn
bản chiếu: “Chiếu dời đô”(Lí Thái Tổ), “Chiếu nhường ngôi”(Lí Chiêu
Hoàng). Về văn chép sử, thời Lý có “Ngoại sử ký” của Đỗ Thiện và những bộ
“Ngọc điệp” nhưng đã thất truyền.
Văn học đời Trần phong phú về thể loại, bao gồm chủ yếu những sáng
tác bằng chữ Hán. “Hịch tướng sĩ” của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là
tác phẩm chính luận mẫu mực, kết tinh tinh thần yêu nước của học phong

16

Trần Thị Thanh - K32EVăn


Khoá luận tốt nghiệp
Đông A. Về văn chép sử, thời Trần xuất hiện những bộ sử tương đối quy mô
như: “Đại Việt sử ký” (Lê Văn Hưu), “Đại Việt sử lược” (Khuyết danh).
Truyện văn xuôi chữ Hán đời Trần, gồm các tác phẩm : “Thiền uyển tập anh
ngữ lục”, “Tam tổ thực lục” (khuyết danh), “Việt điện u linh tập” (Lí Tế
Xuyên), “Lĩnh Nam chính quái lục” (Trần Thế Pháp), “Nam ông mộng lục”
(Hồ Nguyên Trừng),…
Tác phẩm truyện ký thời Trần còn lại không nhiều, các tác giả tuy chủ
yếu làm việc ghi chép lại những truyện vốn lưu truyền trong dân gian nhưng
góp phần quan trọng vào sự phát triển của thể loại văn xuôi tự sự Việt Nam
thời trung đại.
Tóm lại, văn học giai đoạn thế kỷ X – XIV hình thành, phát triển trong
bối cảnh phục hưng của đất nước, dân tộc và văn hóa Đại Việt. Số lượng tác
phẩm còn lại không nhiều nhưng đã cho thấy diện mạo phong phú về nội
dung, nghệ thuật; là bằng chứng về một trong những thời đại huy hoàng của
quốc gia Đại Việt và nền văn hóa dân tộc.


Trần Thị Thanh - K32EVăn


Khoá luận tốt nghiệp

CHƯƠNG 2
TINH THẦN KHẲNG ĐỊNH QUỐC GIA DÂN TỘC TRONG VĂN
XUÔI TRUNG ĐẠI VIỆT NAM THẾ KỈ X – XIV

Văn xuôi trung đại Việt Nam thế kỉ X – XIV nói riêng, thời trung đại
nói chung chủ yếu viết bằng chữ Hán; chữ Hán không chỉ là một bộ phận cấu
thành văn học dân tộc mà còn là ảnh xạ phản chiếu trình độ tư duy nghệ thuật
của nền văn học đã sản sinh ra nó. Với giọng điệu anh hùng là chủ yếu, tinh
thần khẳng định quốc gia dân tộc là một trong những nội dung cơ bản của văn
xuôi trung đại Việt Nam thế kỉ X – XIV, toát lên khí phách và tinh thần của
một Đại Việt hùng mạnh, trường tồn.
2.1. Khẳng định quốc gia dân tộc trên phương diện nội dung cảm hứng
PGS.PTS. Nguyễn Đăng Na nhận xét: Về nội dung, văn xuôi thế kỉ X –
XIV chủ yếu tËp trung khẳng định nước Việt là một quốc gia độc lập trên các
bình diện: Có lịch sử lâu đời, có chủ, có quyền và có tương lai trường tồn. Hai
nội dung đầu thể hiện khá đầy đủ trong “Lĩnh Nam chích quái lục” (Trần Thế
Pháp), “Ngoại sử kí” (Đỗ Thiện), phần “Ngoại kỉ” sách “Đại Việt sử kí” (Lê
Văn Hưu)… Nội dung thứ ba có trong tất cả các tác phẩm, đặc biệt là “Thiền
uyển tập anh ngữ lục”, “Tam tổ thực lục”, “Việt điện u linh tập”…
“Đất Việt đâu đâu cũng có anh tài. Nhân kiệt, địa linh, hạo khí của núi
sông là những yếu tố đảm bảo cho tương lai dân tộc, là điểm tựa tinh thần để
dân tộc vượt qua những cơn hiểm nghèo. Một đất nước như vậy, không một
thế lực nào có thể xâm phạm được. Đó là nội dung nổi bật của văn xuôi tự sự
Việt Nam thế kỉ X – XIV” [9, 23].

mười lăm bộ là các bộ Giao chỉ, Chu Diên, Ninh Sơn, Phúc Lộc, Việt Thường,
Ninh Hải, Dương Tuyền, Quế Dương, Vũ Ninh, Y Hoan, Cửu Chân, Nhật
Tam, Chân Định, Quế Lâm, Tượng Quận; rồi sai các em chia nhau coi giữ,
đặt ra tướng võ, tướng văn. Tướng văn gọi là Lạc hầu, Tướng võ gọi là Lạc

20

Trần Thị Thanh - K32EVăn


Khoá luận tốt nghiệp
tướng; con trai vương gọi là quan lang, con gái vương gọi là Mị nương; quan
cai quản gọi là Bồ chính, bề tôi gọi là Mão; nô lệ gọi là Xảo, gọi bề tôi là
Khôi, đời đời cha truyền con nối gọi là Phụ đạo, các đời truyền ngôi đều gọi
là Hùng Vương mà không thay đổi” [9, 131].
Người đất Bắc, kẻ nước Nam “Tôi thuộc loài Rồng, đứng đầu thủy tộc.
Nàng thuộc loài Tiên, người trên mặt đất… hai khí âm dương hợp lại”
[9, 131]; hình thành nước Văn Lang có các bộ, có người coi giữ, có tướng
văn, tướng võ cùng các vương xây dựng bảo vệ đất nước. Như vậy Họ Hồng
Bàng có giá trị khẳng định độc lập, chủ quyền dân tộc.
Yêu nước, tự hào dân tộc, lạc quan tích cực là xu hướng nổi bật nhất,
làm nên những nét cơ bản cho diện mạo văn học thế kỉ X – XIV. “Để giành
lại được chủ quyền, dân tộc đã phải trả một giá đắt bằng bao nhiêu xương
máu đã đổ trong nhiều thế hệ, do đó khi nước nhà được giải phóng, trong văn
học bừng dậy một ý thức khẳng định độc lập chủ quyền và xây dựng đất nước
tự chủ, tự cường mạnh mẽ” [12, 37]. Tinh thần này biểu hiện tràn đầy trong
văn kiện chính trị quan trọng đồng thời là tác phẩm văn học Chiếu dời đô (Lý
Công Uẩn).
Lý Công Uẩn (974 – 1028), vị vua khai sáng ra triều Lý, người làng Cổ
Pháp, nay thuộc làng Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh. Năm 1009, ông được

Tông (1072 – 1128), ông được cử làm chánh sứ cùng Nguyễn Bồi tới trại
Vĩnh Bình tiếp tục thương nghị việc biên giới, đòi nhà Tống trả lại các miền
Vật Dương, Vật Ác thuộc châu Quảng Nguyên; trước đấy họ Nùng đã đem
nộp để hàng Tống. Sau khi trở về, ông được cất lên chức Thái Sư, mười hai
năm liền giữ chức đó. Bức thư gửi cho viên Kinh lược Quảng Tây là Hùng
Bản cùng những lời biện luận với phái bộ nhà Tống tại hội nghị Vĩnh Bình
của Lê Văn Thịnh góp phần khẳng định độc lập, chủ quyền dân tộc.
Thư gửi Hùng Bản (Ký Hùng Bản thư) có lẽ chỉ là một trích đoạn do
Lê Văn Thịnh gửi viên Kinh lược Quế Châu Hùng Bản, trong khi ông đang
cầm đầu phái bộ nhà Lý ở Hội nghị Vĩnh Bình lần thứ hai, năm Giáp Tý
(1084). Hội nghị này do nhà Tống chủ động đề nghị mở sau chiến thắng oanh

22

Trần Thị Thanh - K32EVăn


Khoá luận tốt nghiệp
liệt của Lý Thường Kiệt, nhằm thương nghị về việc trả tù binh cho Tống cùng
vấn đề biên giới. Bên ta, đến hội nghị với mục đích đòi lại hai động Vật
Dương, Vật Ác họ Nùng đã mang nộp Tống. Trước đấy một năm, phái bộ
Đào Tông Nguyên cũng đã đến hội nghị để bàn nhưng chưa đi tới kết quả.
Sau vì tình hình căng thẳng, Đào Tông Nguyên phải bỏ hội nghị ra về. Hội
nghị lần thứ hai này bắt đầu từ tháng Sáu âm lịch đến tháng Tám âm lịch,
cũng vẫn căng thẳng như trước, đến nỗi nhà Tống phải có mật lệnh cho các
vùng biên giới tập trung quân đề phòng. Lê Văn Thịnh không tán thành thái
độ cố chấp của phái bộ nhà Tống, không muốn trả lại đất đai cho ta. Biết rằng
cãi nhau với người đứng đầu phái bộ Tống là Thành Trạc cũng vô ích, nên
ông đã thay đổi sách lược, gửi cho Hùng Bản là kẻ cầm quyền ở cấp cao hơn
một bức thư với lời lẽ khiêm nhường, thuyết phục thêm bọn chúng. Nhưng

mềm dẻo hoặc cứng rắn để đòi Tống phải trả lại đất cho nước mình. Tống
Thần Tông tất nhiên không chịu trả. Lý Thường Kiệt bèn sai châu mục Châu
Thượng Nguyên (vùng Bắc Cạn) là Dương Thọ Văn đem quân đánh châu
Quy Hóa và toan đánh vào châu Thuận An. Bởi vậy, năm 1083 – 1084 mới có
cuộc đàm phán của Tống và Lý ở Vĩnh Bình. Tuy nhiên, hội nghị cuối cùng
chưa đạt kết quả như ý định của nhà Lý. Khi Tống Triết Tông lên ngôi
(1085), Lý Nhân Tông lại viết thư đổi hai động Vật Dương, Vật Ác. Tống
quyết từ trối, thác cớ vừa nối nghiệp, phải theo mệnh vua trước. Vua Lý lại
sai Đàm An đem quân vào đánh Tống. Ngày mồng hai, tháng Giêng năm
Bính Dần (tức ngày 19 tháng Giêng năm 1086), vua Tống gửi thư trách vua
Lý. Lý Nhân Tông bèn gửi Biểu đòi hai động Vật Dương, Vật Ác sang Tống,
lần này lời lẽ khéo léo, ôn hòa hơn; song vẫn kiên quyết đòi đất hai động. Ông
còn vạch rõ ý đồ của Tống định đem chuyện trả đất trước đây để xí xóa việc
trước mắt:
“Nước tôi có đất Vật Dương, Vật Ác, gồm hai động và tám huyện, vẫn
tiếp liền với phần đất tỉnh Quảng Tây. Những đất ấy trước sau đều bị bọn đầu
mục thổ dân làm phản, bỏ đi, đem theo về với Trung Quốc. Đất Vật Dương thì
năm Bính Thìn (1076) bị sát nhập vào đất quý tỉnh; đất Vật Ác thì năm Nhâm
Tuất (1082) cũng bị sát nhập và đặt thành ải Thông Khang. Mặc dầu đấy chỉ

24

Trần Thị Thanh - K32EVăn


Khoá luận tốt nghiệp
là mảnh đất nhỏ nhưng vẫn khiến lòng tôi đau xót, luôn luôn nghĩ đến cả
trong giấc mộng. Quả thực tổ tiên tôi xưa kia đã phải đánh dẹp phường tiếm
nghịch, xông pha gian nguy, không tiếc tính mạng mới có được đất ấy. Nay
tôi phận con cháu, đã không kế tục được cơ nghiệp cha ông thì dám đâu dự

Trích đoạn Khẳng định Đại Việt anh hựng, bất khuất Khẳng định tương lai trường tồn của dõn tộc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status