tiểu luận văn học dân gian và văn học trung đại việt nam - Pdf 62

Chương 1: VĂN HỌC DÂN GIAN
1.1.
1.1.1.

Khái niệm văn học dân gian
Quan niệm của các nhà nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới, các nhà nghiên cứu văn hóa/ văn học dân gian dùng
thuật ngữ folklore (Tiếng Anh: Folk: nhân dân, lore: trí không, trí tu ệ) đ ể
chỉ những giá trị vật chất, tinh thần của một cộng đồng. Trong đó có các
hướng quan niệm chủ đạo:

-

Thuật ngữ folklore do Briton William John Thoms đưa ra lần đầu tiên năm
1846, thay thế cho thuật ngữ popular antiquities, để chỉ “những cách th ức,
phong tục, sự hành lễ, chuyện mê tín dị đoan, khúc dân ca, tục ng ữ” và các
tư liệu khác của “thời hoàng kim”. Quan niệm này h ướng n ội hàm c ủa
thuật ngữ folklore vào các giá trị tinh thần của cộng đồng người.

-

Trường phái Đức (đại diện là Ion Maye) quan niệm folklore bao gồm “làng
xóm, kiến trúc nhà cửa, cung điện; cây cỏ; tín ngưỡng; tiếng nói; truy ền
thuyết; truyện cổ tích; dân ca; thư mục”. Điều này có nghĩa là folklore đ ược
quan niệm là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần của một dân t ộc,
tương ứng với thuật ngữ “văn hóa dân gian” được sử dụng ở Việt Nam
hiện nay.

-

V.IA. Propp quan niệm “folklore chỉ là những sáng tạo tinh th ần, h ơn n ữa

cứu, tức đặt văn học dân gian trong hệ quy chiếu của văn học thành văn.

-

Phạm vi nội hàm folklore, theo GS. Nguyễn Tất Đắc: “Folklore bao g ồm
toàn bộ tri thức, sáng tạo và cách ứng xử của con người tr ước và ngoài
dòng văn học chính thống của quốc gia, sách vở trường học và công nghi ệp
khoa học”. Đây là hướng tiếp cận folklore theo hướng nhân h ọc văn hóa.

-

Từ khi Hội văn nghệ dân gian Việt Nam ra đời, đặc biệt là sau khi thành
lập Viện văn hóa dân gian, bộ phận nghệ thuật ngôn từ trong các sáng tác
dân gian được nghiên cứu trong tương quan với môi tr ường diễn x ướng,
tức các yếu tố như âm nhạc, vũ đạo, lễ hội. Khuynh h ướng này th ừa nh ận
văn học dân gian là những sáng tác mang bản chất nguyên h ợp. Nó đ ược
xây dựng bằng nhiều yếu tố nghệ thuật như ngôn từ, âm nh ạc, c ử ch ỉ,
điệu bộ…

-

Đến nay, đa số các nhà nghiên cứu đi đến thống nh ất v ới quan ni ệm “văn
học dân gian là thành phần nghệ thuật ngôn từ trong nh ững sáng tác dân
gian mang tính tổng hợp bao gồm nhiều thành phần chất liệu nghệ thu ật
khác nhau như âm nhạc, vũ đạo”. Trong đó thành phần nghệ thuật ngôn từ
vừa có mối quan hệ tương sinh với các thành phần khác, vừa có sự đ ộc lập
tương đối của riêng mình.

2


mối quan hệ thẩm mĩ của nó đối với th ực tế, do s ự l ựa ch ọn c ủa nó đ ối
với thực tế và do thực tế lịch sử khi đi vào văn học dân gian v ừa đ ược c ải
tác một cách có ý thức, vừa bị hiểu lại một cách không t ự giác, văn h ọc dân
3


gian chưa bao giờ là pho sử biên niên phản ánh toàn bộ đời sống và lịch s ử
của nhân dân cho nên không thể phân kì văn học dân gian một cách chi ti ết
như phân kì văn học viết. Những dấu mốc trên tiến trình phát tri ển văn
học dân gian cũng chỉ có ý nghĩa quy ước để phân định nh ững ch ặng l ớn
của con đường phát triển lịch sử của nó.
Việc nghiên cứu văn học dân gian theo lịch sử giúp hiểu rõ cái gì bền
vững trong lĩnh vực này, cái gì biến đổi và biến đổi ra sao, nh ững quy lu ật
nào tác động trong lịch sử văn học dân gian và những nhân tố nào chi ph ối
diễn tiến của nó.
Sự biến đổi của văn học dân gian theo thời gian phụ thuộc vào sự
biến đổi của đời sống nhân dân và của bản thân nhân dân. Vì th ế, sự biến
đổi cơ cấu xã hội của nhân dân cần được coi như là một trong nh ững căn
cứ cho sự phân kì lịch sử văn học dân gian. Cơ cấu xã hội của nhân dân
không biến đổi theo năm tháng mà biến đổi theo những hình thái khác
nhau của lịch sử xã hội. Lịch sử Việt Nam có những đặc điểm riêng so v ới
lịch sử các nước đã trải qua con đường kinh điển của sự phát tri ển xã h ội.
Vận dụng cách lí giải trên đây có thể chia lịch sử văn học dân gian ra
làm năm chặng lớn như sau: 1. Thời kì dựng nước; 2. Th ời kì đấu tranh gi ải
phóng dân tộc ra khỏi ách đô hộ của triều đại Hán - Đ ường; 3. Th ời kì xây
dựng và bảo vệ quốc gia phong kiến độc lập; 4. Thời kì đ ấu tranh gi ải
phóng dân tộc ra khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp và giải phóng dân t ộc
ra khỏi ách áp bức phong kiến; 5. Thời kì sau Cách Mạng Tháng Tám.
Muốn khung phân kì này trở thành con đường phát triển l ịch s ử ph ải
lấp đầy nó bằng các thể loại, các tác phẩm cụ thể. Nhưng điều đó chỉ luôn

Bắc, gồm hai khu vực: khu vực đồng bằng Bắc bộ: Bắc Ninh, Qu ảng Ninh,
Hà Tây, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình;
khu vực trung du: Thái Nguyên, Sơn La, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Hòa
Bình, Điện Biên; 3. Vùng các tỉnh ven biển miền Trung: t ừ Thanh Hóa đ ến
Bình Thuận; 4. Vùng các tỉnh Tây Nguyên: Lâm Đồng, Kon Tum, Gia Lai, Đ ắc
5


Lắc, Đắc Nông là vùng giữ những nét nguyên sơ và hồn nhiên của văn h ọc
dân gian; 5. Vùng các tỉnh Nam Bộ: Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ.
Việc phân vùng trên đây cũng chỉ là tương đối. Mặt dù tác ph ẩm dân
gian luôn vận động qua không gian và thời gian, song, qua cách th ể hi ện,
ngôn ngữ, phong tục, tập quán, lối sống, địa danh ph ản ánh trong tác ph ẩm
dân gian, chúng ta có thể tìm thấy địa bàn sáng tác và l ưu truy ền c ủa nó
bắt nguồn từ đâu, phổ biến ở vùng nào.

1.3.
1.3.1.

Thuộc tính văn học dân gian
Tính truyền miệng
“Phương thức sáng tác và tồn tại bằng truyền miệng là ph ương th ức
chủ yếu, và trong những giai đoạn lịch sử nhất định, là ph ương th ức duy
nhất của văn học dân gian”. Văn học dân gian ra đời t ừ buổi s ớm của xã h ội
loài người, khi con người chưa phát minh ra chữ viết. Trong th ời kì đó,
truyền miệng là phương thức duy nhất và tất yếu của văn h ọc dân gian.
Khi nhân loại có chữ viết, đặc biệt là khi ch ữ viết tr ở nên ph ổ biến, m ột
bộ phận văn học dân gian được văn bản hóa, tức ph ương th ức truy ền
miệng không còn là duy nhất. Tuy vậy, đời sống th ực s ự của nó v ẫn đ ược
duy trì bằng con đường mà nó đã nảy sinh.


Tính diễn xướng
Đây là thuộc tính quan trọng phản ánh đầy đủ bản chất của vi ệc
sáng tác và lưu truyền VHDG, phản ánh được đặc tr ưng, ch ức năng c ơ bản
của VHDG, không có việc sáng tác và lưu truyền bằng miệng một cách đ ơn
thuần mà truyền miệng gắn với “diễn xướng”. Chúng tôi dung thu ật ng ữ
“diễn xướng” thay cho “biểu diễn” bởi tên gọi “diễn x ướng” phù h ợp h ơn
với đặc trưng sáng tác dân gian trong môi trường sáng tác tập th ể v ừa có
diễn và xướng. Tác phẩm dân gian bắt đầu được “x ướng” lên r ồi m ọi
người hô theo mà “diễn” cho đúng. Biểu diễn là một hoạt động có tính
chuyên nghiệp, yêu cầu có bài bản, th ường gọi cho các hoạt động ngh ệ
thuật sân khấu. Thuật ngữ “diễn xướng” bao hàm cả “biểu diễn”.
7


Diễn xướng đồng thời là sự thể hiện đặc trưng nguyên hợp. Diễn
xướng phô diễn vẻ đẹp dân gian qua cả nghệ thuật ngôn từ, âm nh ạc và
vũ đạo trong môi trường - không gian diễn xướng. Tính di ễn x ướng c ủa
văn học dân gian thể hiện khác nhau ở từng thể loại. Tùy vào th ể loại mà
phương thức diễn xướng tập trung vào lời nói, nhạc điệu hay tạo hình.
Diễn xướng có hai dạng: diễn xướng bằng miệng và bằng điệu b ộ,
động tác, cử chỉ. Diễn xướng bằng miệng là hình thức: hò, hát, ngâm, nói có
vần điệu…Như vậy tính diễn xướng rộng hơn, nó bao hàm tính truy ền
miệng. Tính diễn xướng thể hiện ở các thể loại không giống nhau. Về quy
mô, có loại diễn xướng cá nhân và có loại diễn xướng tập th ể. Di ễn x ướng
thể hiện trong môi trường sinh hoạt văn hóa văn ngh ệ dân gian t ự nhiên.
Môi trường ấy là khung cảnh làng quê, cánh đồng, song n ước lao đ ộng,
trong lễ hội, trong giao duên. Môi trường sinh hoạt dân gian m ất đi thì
diễn xướng dân gian cũng mất theo. Như vậy tính diễn xướng th ể hiện
linh hồn và sức sống của tác phẩm dân gian. Nếu không có tính diễn

đời ban đầu do một cá nhân hoặc một nhóm cá nhân sáng tác nh ưng qua
quá trình lưu truyền, sáng tác lại, dấu ấn cá nhân ban đ ầu đã b ị lu m ờ. V ả
lại, dù là cá nhân sáng tác nhưng vẫn chịu sức ép chi ph ối của tâm lý c ộng
đồng. Tâm lý cộng đồng vừa là tâm lý dân tộc, vừa là tâm lý đ ịa ph ương. Vì
vậy VHDG vừa mang phong cách dân tộc, vừa mang phong cách vùng,
phong cách địa phương. Tâm tư tình cảm, khát vọng của quần chúng cũng
mang tính lịch sử, xã hội nhất định. Thời kì nguyên thủy khi con người d ần
tách khỏi cuộc sống hoang dã, bắt đầu phân biệt mình v ới muôn loài thì
khát vọng của con người là khám phá thế giới tự nhiên kì bí. Nh ững v ị th ần
như: thần mưa, thần sấm, thần chớp... là kết quả của trí tưởng t ượng và
khao khát hiểu biết thế giới xung quanh của con người.
Cơ sở của tâm lí là tính tập thể của những hoạt động sản xuất, ho ạt đ ộng
xã hội của con người trong những giai đoạn khác nhau của l ịch s ử nhân
loại.
Cần phải thấy mối quan hệ biện chứng giữa tập th ể và cá nhân
trong quá trình sáng tác. Mối quan hệ này thể hiện trong m ối quan h ệ gi ữa
truyền thống và ứng tác. Truyền thống được duy trì nh ờ ứng tác nh ưng
9


ngược lại, truyền thống lại quy định ứng tác. Truy ền thống tạo nên m ột
tâm lý, thị hiếu thưởng thức và sáng tác chung buộc ứng tác phải tuân theo.
Ai sáng tác mà không theo truyền thống sẽ bị nhân dân tẩy chay ho ặc s ửa
chữa lại cho đúng “đường ray” truyền thống. Sức mạnh của truy ền th ống
bắt nguồn và hiện thân của tập thể. Có truyền thống dân tộc và truy ền
thống địa phương. Hò khoan Quảng Bình và Quảng Nam, hát Gi ặm Ngh ệ
1.3.4.

Tĩnh, hát Quan họ Bắc Ninh…là biểu hiện của truyền thống địa ph ương.
Tính vô danh

tác mà không chịu trách nhiệm về những sáng tác của mình, từ đó ch ất
lượng tác phẩm không cao, thậm chí là lỗi thời, vô giá tr ị hoặc ph ản đ ộng.
Cũng có người lợi dụng tính truyền miệng để lưu truy ền nh ững thông tin
không chính xác, song, theo quy tắc chọn lọc tự nhiên, chúng cũng sẽ nhanh
chóng bị đào thải khỏi nhân dân, bởi sự tỉnh táo của ng ười dân lao đ ộng,
tức điều gì vô nghĩa sẽ nhanh chóng bị lãng quên.
1.3.5.

Tính biến đổi
Tính biến đổi là kết quả của tính truyền miệng, tính tập thể. Các
nhà nghiên cứu folklore luôn đề cập đến tính chất vận động của tác phẩm
dân gian. Tác phẩm văn học dân gian ra đời chỉ là điểm kh ởi đầu, luôn bi ến
đổi theo thời gian và không gian. Không có nhiều nh ững tác phẩm dân gian
đã được định hình, tạo thành dạng mô típ thuộc v ề truy ền th ống, nh ưng
vẫn ẩn chứa khả năng thay đổi. Truyền thống không phải là bất bi ến.
Dị bản là hệ quả của quá trình biến đổi. Dị bản thể hiện tâm hồn và
quan điểm nghệ thuật của tác giả dân gian, là con đ ường phát tri ển c ủa
tác phẩm. Xu hướng chung giải thích dị bản là bản khác, nh ưng đôi khi
khái niệm đó vẫn còn bị nhầm lẫn với những khái niệm: b ản thi ếu, b ản
sai. Dị bản khác các bản khác ở chỗ dị bản là một tác phẩm mà xoay xung
quanh nó có một số dị biệt, một số chi tiết chỉ khác sắc thái bi ểu c ảm
nhưng vẫn thể hiện rõ một chủ đề còn các bản khác là các tác ph ẩm khác
nhau không cùng một chủ đề mặc cho nó cùng sử dụng m ột mô típ nh ư
câu mở đầu, từ mở đầu.

11


Do áp lực của tính truyền miệng và tính tập thể, m ột tác ph ẩm dân
gian luôn luôn biến đổi cho phù hợp với địa ph ương, phù h ợp v ới tâm lý

1.4.
1.4.1.

và lưu truyền tác phẩm dân gian.
Chức năng và đặc điểm của VHDG
Tính đa chức năng và tính nguyên hợp của VHDG
12


Tính đa chức năng và tính nguyên hợp là hai mặt của một v ấn đề.
Tính nguyên hợp sản sinh ra tính đa chức năng. Tính đa ch ức năng ph ản
ánh tính đa ngành, đa lĩnh vực nghệ thuật và khoa h ọc trong sáng tác dân
gian. Tác phẩm văn học dân gian không ch ỉ đơn thuần là tác ph ẩm ngh ệ
thuật ngôn từ mà còn là nghệ thuật biểu diễn bao gồm: ca nh ạc, đ ộng tác
vũ đạo. Sáng tác, diễn xướng văn học dân gian không chỉ xuất phát t ừ nhu
cầu thưởng thức mà chủ yếu là phổ biến tri thức, truyền dạy kinh nghiệm.
Tác phẩm VHDG không chỉ là khoa học văn học mà còn ph ản ánh, l ưu gi ữ
các ngành khoa học khác như lịch sử, dân tộc học, y h ọc, nông h ọc,…nghĩa
là tất cả mọi lĩnh vực văn hóa vật thể và phi v ật th ể. Ch ằng h ạn nh ư
truyện “Con rồng cháu tiên”, truyện không chỉ nói về nguồn gốc cao quý
của dân tộc Việt mà còn đề cập đến thời kỳ lịch sử đầu tiên của qu ốc gia
phong kiến, thời đại Hùng Vương. Truyện thể hiện nguồn gốc nhân ch ủng
người Việt là kết quả hôn phối giữa hai bộ lạc có hai nền văn hóa: văn hóa
đồng bằng ven biển và văn hóa vùng núi. Đây là th ời kì chuy ển ti ếp t ừ xã
hội mẫu hệ sang phụ hệ.
Tính nguyên hợp còn thể hiện sự nguyên hợp các hình th ức biểu
diễn của văn hóa tinh thần như tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo đời sau nh ư
Phật giáo, Đạo giáo nguyên hợp các ý thức xã hội như ý thức thời tiểu sử, ý
thức thời mẫu quyền, ý thức thời phụ qquyền. Mỗi ý thức hệ lại có cách lý
giải, phản ánh hiện thực cuộc sống khác nhau tạo nên tác phẩm dân gian

hoặc tập thể cá nhân ở một địa phương nào đó xác đ ịnh. Ban đ ầu l ưu
truyền trong phạm vi địa phương đó trước khi hòa vào dòng ch ảy c ủa
nguồn dân gian chung. VHDG địa phương có nh ững đ ặc đi ểm riêng. Bi ểu
hiện đầu tiên của tính địa phương là ngôn ngữ. Ngôn ng ữ địa ph ương
trong VHDG, đặc biệt là các thể loại ca dao dân ca, Tục ngữ, Vè... là lo ại
ngôn ngữ thể hiện rõ sắc thái địa phương. Có bài Ca dao đặc s ệt ti ếng đ ịa
phương vùng bắc Miền Trung:
“Đôi ta yêu chắc mần ri
Mẹ cha mần rứa ta thì mần răng”
Địa danh vùng đất, làng nghề phản ánh khá rõ trong Tục ngữ Ca dao dân ca
địa phương. Một câu ca dao ở Đà Nẵng vừa nói đ ịa danh v ừa nói đ ến làng
nghề:

“Non nước có núi Ngũ Hành
Có nghề đúc đá lừng danh khắp vùng”
14


Một bài ca dao Quảng Nam-Đà Nẵng đã phản ánh rõ đặc đi ểm vùng đ ất,
sản vật và con người địa phương này:
“Đất Quảng Nam chưa mưa đã nắng
Rượu Hồng Đào chưa nhấm đã say.”
- Tính dân tộc: là sự biểu hiện đặc trưng dân tộc, là tình hoa văn hóa dân
tộc, còn là sự biểu hiện đa dạng của tính địa phương. Tính dân tộc th ể
hiện trong nhiều lĩnh vực: thể thơ, cấu tứ, cốt truyện, ngôn ng ữ, phong t ục
tập quán, tâm lý lối sống dân tộc. Trong đó, th ể th ơ lục bát và song th ất l ục
bát là hai thể thơ nổi trội trong ca dao, cũng là hai th ể th ơ đ ặc tr ưng c ủa
dân tộc. Ngoài ra, ngôn ngữ ca dao hầu hết là ngôn ngữ thuần Việt, góp
phần đáng kể vào việc gìn giữ vốn ngôn ngữ dân tộc.
“Hỡi cô tát nước bên đàng

Cách phân loại này chưa nhất quán về tiêu chí, vừa căn c ứ vào
phương thức diễn, vừa căn cứ vào hình thức biểu hiện.
Giáo trình dùng cho các trường Đại h ọc T ổng h ợp cũng chia làm ba
nhóm: các thể loại tự sự (gồm: truyện cười, thần thoại, ngụ ngôn, vè, cổ
tích); các thể loại trữ tình (ca dao dân ca); các thể loại kịch (gồm: chèo,
tuồng).
Cách phân loại này chủ yếu nghiêng về tiêu chí loại hình ph ản ánh
như ở các tác phẩm văn học viết. Theo cách này, các tác gi ả so ạn sách đã
gặp lúng túng trong việc sắp xếp các thể loại vào đúng các lo ại hình c ủa
nó.
Cao Huy Đỉnh dựa vào ba tiêu chí để phân loại: cơ s ở đời sống th ực
tiễn, cơ sở tư tưởng và tình cảm, cơ sở hình thức. T ừ ba tiêu chí trên, tác
giả đề xuất bốn loại hình sau đây: văn học chuyện kể đời, văn h ọc phô
diễn tâm tình, văn học đúc rút kinh nghiệm th ực tiễn, văn h ọc diễn trò.
Quan điểm của Cao Huy Đỉnh căn cứ vào chức năng th ực hành và
phương thức phản ánh. Đây là cách phân loại t ương đối phù h ợp v ới đ ặc
trưng văn học dân gian nhưng vẫn còn một số tồn tại nh ư s ự giao thoa
không tài nào giải thích được của hai thể loại, hai phương th ức ph ản ánh.
Giáo sư Hoàng Tiến Tựu căn cứ vào phương thức bi ểu diễn và
phương thức phản ánh tương ứng khác nhau mà phân loại thành b ốn
nhóm: phương thức nói (tục ngữ, câu đố) phản ánh qua ph ương th ức suy
lí; phương thức kể (truyện đời xưa, truyện cười, truyện đồn đại, vè kể
chuyện) phản ánh theo phương thức tự sự; ph ương th ức hát (ca dao dân

16


ca, vè tâm tình) phản ánh theo phương th ức trữ tình; phương th ức diễn
(các trò diễn dân gian) phản ánh theo phương thức kịch.
Chính vì những phức tạp do tính nguyên hợp đem lại nên ranh gi ới


thể sáng tác mà quên đi vai trò của cá nhân. Cá nhân t ạo nên t ập th ể, t ập
thể cá nhân của vùng nào tạo nên phong cách dân gian của vùng ấy.
- Về chất liệu xây dựng: chất liệu của VHDG là l ời nói và văn học vi ết là l ời
văn cùng chung là thành phần ngôn từ, nhưng ở VHDG ch ất liệu là l ời nói
nên luôn luôn thay đổi, không ổn định. Ngược lại, văn h ọc vi ết, ch ất li ệu là
lời văn được cố định thành chữ viết, văn bản in ấn nên nó định hình và ổn
định. Đặc biệt lời nói trong văn học dân gian không ph ải là l ời nói th ường,
lời nói tự nhiên ngoài lời là rất lớn, thường là hàm ngôn, mà hàm ngôn thì
cần có văn cảnh mới hiểu hết. Vậy nên nghiên cứu tác phẩm VHDG c ần
phải gắn liền với môi trường diễn xướng.
- Về chức năng: Ngoài các chức năng giáo dục, nhận thức, thẩm mỹ là ch ức
năng chung của văn học, VHDG còn có chức năng th ực hành.
- Về hình thái ý thức: Văn học viết ra đời khi có ch ữ viết và phân chia giai
cấp. Còn VHDG ra đời từ thời kì xã hội cộng sản nguyên th ủy, ch ưa có ch ữ
viết và nó vẫn tồn tại, phát triển trong xã hội phân chia giai c ấp và có ch ữ
viết. Hình thái tư tưởng văn học viết chủ yếu là hệ tư t ương Nho giáo,
Phật giáo, Đạo giáo. Nhưng hình thái tư tưởng của VHDG ngoài các hình
thái trên do ảnh hưởng tư tưởng thống trị và tôn giáo phong kiến, còn có
các hình thái tư tưởng nguyên thủy.
Sau khi văn học viết hình thành, văn học dân gian v ẫn tiếp t ục t ồn
tại và phát triển song hành cùng bộ phận văn học viết, h ợp thành di ện
mạo chung của một nền văn học. Văn học dân gian bên cạnh vị trí đ ộc lập
của mình còn hỗ trợ nguồn tư liệu, chất liệu phong phú cho văn h ọc vi ết.
Ngược lại, văn học viết, ngoài hoạt động riêng biệt của mình, đã đồng th ời
mở ra một kênh lưu giữ văn học dân gian bên cạnh con đ ường truy ền
miệng. Cũng đã có nhiều trường hợp các tác phẩm văn học dân gian và văn
học viết giao thoa, xâm nhập và chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình t ồn
tại.


ngắn.
19


Văn học trung đại Việt Nam là thuật ngữ chỉ có khi cuốn Đặc điểm
có tính quy luật của lịch sử văn học Việt Nam được xuất bản nội bộ ở
trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh. Người dùng tên gọi này tr ước
tiên là tiến sĩ Niculin, nhà nghiên cứu Nga về văn học Việt Nam. Thu ật ng ữ
này đã khắc phục mọi bất cập của các thuật ngữ trước đó. Thuật ng ữ này
dựa trên tiêu chí là sự phân kỳ của lịch sử văn minh loài người ( trung đ ại,
cận đại, hiện đại, đương đại). Chính tên gọi nên một th ời kỳ đầy ám ảnh
là thời kỳ “đêm trường trung cổ” – thời kỳ không mấy tốt đẹp trong l ịch s ử
Châu Âu. Khi lúc bấy giờ, ý thức tôn giáo, t ư tưởng tôn giáo – thiên Chúa
giáo- bao trùm và áp chế toàn bộ Châu Âu khiến cho giá trị nhân văn bị
kèm nén mạnh mẽ.
2.2. Phân kỳ lịch sử trung đại Việt Nam
Phân kỳ là một thao tác cơ bản của khoa văn học s ử. Có khoa văn h ọc
sử là có việc phân kỳ. Kể từ ngày khoa văn học s ử Việt Nam ra đ ời đến nay
đã tồn tại nhiều cách phân kỳ nhưng yêu cầu khoa học vẫn đòi hỏi cải tiến



nhằm tạo ra một cách phân kỳ mới hiện đại hơn.
Những cách phân kỳ đã có:
Phân kỳ vừa theo vương triều vừa theo th ời đại: ví d ụ v ới D ương Qu ảng
Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu là gồm: văn học Lý - Trần (XI-XIV),
văn họcLê - Mạc (XV-XVI), văn học Nam Bắc phân tranh (XVII-XVIII), văn
học cận kim,văn học mới. Với Nguyễn Đổng Chi trong Việt Nam c ổ văn h ọc
sử là gồm: thời đại từ Sĩ Nhiếp đến Ngô Quyền, thời đại Ngô Đinh Lê, th ời
đại nhà Lý, thời đại nhàTrần, thời đại nhà Hồ. Với Ngô T ất T ố là gồm: văn

đến hết Tây Sơn), thời kỳthịnh đạt (triều Nguyễn), văn học hiện đại
(1862-1945 gồm: giai đoạn 1862-1907, giai đoạn 1907-1932, giai đo ạn



1932-1945).
Phân kỳ theo các thời kỳ lớn gắn với các hình thái xã h ội trong l ịch s ử dân
tộc: đây là cách phân kỳ riêng của bộ Lịch sử văn học Việt Nam thuộc công
trình quốc gia do Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam t ổ ch ức biên so ạn trong
thời kỳ chống Mỹ với ý tưởng muốn chứng minh rằng: Việt Nam có 4000
năm lịch sử thì cũng có 4000 năm văn học do đó đã g ộp hai kh ối văn h ọc
dân gian với văn học viết thành một và phân làm 4 thời kỳ lớn nh ư sau:
+ Văn học Việt Nam trong buổi đầu mở nước (từ th ế k ỷ X về tr ước).
+ Văn học Việt Nam trong thời kỳ xây dựng quốc gia Đại Việt.
+ Văn học Việt Nam trong thời kỳ chống ách thống trị của th ực dân Pháp.

21


+ Văn học Việt Nam từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đ ến
nay (bộ sách này đã có đủ bản thảo nhưng cho đến nay chỉ m ới ra m ắt bạn


đọc tập1 gồm hai thời kỳ đầu).
Các cách phân kỳ trên, cách nào cũng có căn cứ của nó. Nh ưng nhìn chung,
đều phân kỳ trên những bình diện liên quan t ới văn h ọc mà ch ưa tr ực ti ếp
là văn học.
Về mặt khoa học, ở đây có hai phương diện liên quan đến việc phân kỳ:
a) Sự chi phối của xã hội, của lịch sử đối với sự tồn tại phát tri ển c ủa văn
họctrong thời gian.

mộtquan điểm nghệ thuật, một phong cách ngôn ngữ, một hệ thống th ể
loại... và có quiluật vận động riêng. Với cách phân kỳ này, giai đo ạn văn h ọc
nửa sau thế kỷ XIX được xếp ngược lên với các giai đoạn tr ước ch ứ không
đi liền với các giai đoạn sau như nhiều công trình văn h ọc s ử tr ước đây đã
làm. Điều đó là đúng với qui luật vận động của lịch sử văn h ọc.
Theo GS. Lê Trí Viễn thì ta chia văn học trung đại Việt Nam thành 2 giai
đoạn là thượng kỳ và hạ kỳdo giáo sư chịu ảnh hưởng của văn họcPháp
Người biênsoạn SGK, chịu ảnh hưởng của GS Lê Trí Viễn nên hiện nay
trong SGK chia thành bốn giai đoạn từ sự phân chia hai giai đo ạn c ủa GS Lê
Trí Viễn





TK X đến TK XIV
TK XV đến TK XVII
TK XVIII đến nửa đầu TK XIX
Nửa cuối TK XIX đến nay
Giai đoạn







Quan niệm sáng Thể loại
tác
TK X đến TK XIV Thi ngôn chí

Chữ
Hán

chữNôm
Chữ quốc ngữ
hình thành và
phát triển nhanh
chóng


ngâm)

2.3. Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam
2.3.1. Tính cao nhã
Tính cao nhã là tính cao quý và thanh nhã, nó chi ph ối t ất c ả nh ững
phương diện của hoạt động văn học trung đại Việt Nam. Để xác đ ịnh tính
tao nhã căn cứ vào những chuẩn mực đạo đức của nho giáo. Nó hoạt đ ộng
trong môi trường của nhà nước phong kiến và phù h ợp v ới v ớ t ư t ưởng
của nhà nước phong kiến, tư tưởng nhà cầm quyền.
Những biểu hiện của tính cao nhã trong quan niệm nghệ thuật:
- Thứ nhất, quan niệm về bản chất, nguồn gốc của văn. Theo suy nghĩ

của người trung đại thì nguồn gốc của văn chính là vẻ đẹp của con ng ười,
của trái đất, vẻ đẹp cao quý của con người. Văn còn là bi ểu hi ện v ẻ đ ẹp
của lời nói của con người, sự văn minh, tiên tiến của con người. L ời nói có
hai phương diện: hình thức và nội dung. Hình th ức được hi ểu là văn, n ội
dung được hiểu là chất. Một tác phẩm văn học đẹp phải hài hòa v ề hình
thức và nội dung, nó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Quan niệm ph ổ
biến của văn học trung đại là tất cả những văn bản nào có s ự trau chu ốt
đẹp đẽ về hình thức ngôn từ đều đều được gọi là văn. Đ ều này d ẫn đ ến

những đề tài cao quý trong kinh sách, tự thuật. Thông qua văn ch ương đ ể
bộc lộ chí khí, hoài bão của mình đối với đ ất n ước. Tuy nhiên cũng có
những đề tài bình dị, đặc biệt là trong thơ Nôm. Lực lượng th ưởng th ức
văn chương cũng gói gọn trong những tầng lớp cao quý. Do đa số ng ười
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status