ÔN TẬP MỸ THUẬT VIỆT NAM
1. Mỹ thuật Phật giáo thời Lý
Tiếp thu truyền thống từ văn hóa thời đại đồ đồng, nền mỹ thuật VN trong giai đoạn đầu
của kỷ nguyên độc lập thời Lý đã này sinh nhiều công trình nghệ thuật có quy mô lớn,
độc đáo đặc biệt là nền Mỹ thuật mang đậm Phật giáo thời kỳ này với 4 công trình nghệ
thuật lớn là: chuông Quy Điền, tháp Báo Thiên, Phật Quỳnh Lâm, vạc Phổ Minh.
-
Chùa Một Cột là một phối cảnh to đẹp của cả kiến trúc, điêu khắc, hội họa. Đặc
biệt chùa có quả chuông lớn gọi là chuông Quy Điền nặng đến nỗi không thể treo nổi trên
tòa phương đình nên phải để dưới đất.
-
Tháp Báo Thiên xây cạnh hồ Lục Thủy (hồ Hoàn Kiếm) là một kiến trúc cao vút
(khoảng 1000m), có quả chuông dùng tới 12.000 kg đồng được khắc bài minh văn do
chính tay vua Lý Thánh Tông soạn.
-
Chùa Phật Tích có tượng Phật cao tới 6 thước
-
Chùa Quỳnh Lâm có pho tượng Di Lặc, văn bia kể rằng cao đến 6 trượng
Nhiều điêu khắc gỗ và đồng, các tác phẩm hội họa của thời Lý nay đã không còn, nhưng
chúng ta còn lưu giữ được những hình trạm khắc trên mặt phẳng và những tượng tròn
thuộc chất liệu đá, gốm tráng men hoặc đồ mộc.
động như một con vật sống thực. Trên mình còn được điểm vào những bông hoa nhiều
cánh nở xòe.
-
Trong hầu hết các di tích mỹ thuật Phật giáo thời Lý đã được phát hiện đều có
những hình nghệ thuật rất phổ biến và đặc biệt rất thống nhất đó là hình con rồng, sóng
nước, hình hoa dây cúc, hoa sen. Đa số những hình này là các mẫu trang trí thường làm
nền để tôn thêm vẻ đẹp cho tác phẩm chính.
-
Cùng với điêu khắc, hội họa thời Lý cũng đạt được những thành tựu rực rỡ:
-
Các vua thời Lý cho vẽ tranh tường, tranh trên gỗ ở cung điện, chùa tháp, tranh hội
họa kết hợp với kiến trúc mang nội dung nhà Phật như: Tranh vẽ trên lan can hồ Linh
Chiểu, tranh vẽ tường chùa Sùng Nghiêm với nội dung ca ngợi cõi Phật. Hội họa thời Lý
minh họa những giáo lý, tả thực về cõi Niết bàn, thế giới hư vô của Tiên phật nhằm tôn
vinh đạo Phật.
-
Tranh tường rất phát triển ở các chùa tháp. Chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh chẳng
những đẹp ở cấu trúc và điêu khắc “mái nhà như trĩ xòe cánh, chậm trổ như phượng lại
chầu” mà còn nổi tiếng ở tranh tôn giáo: tường vách vẽ đồ như duyên nhân quả, thiên
biến vạn hóa rất huyền diệu. Người nào trông thấy cũng phải gắng làm điều thiện. Đáng
Tranh dân gian theo dòng thời gian lịch sử có hai loại tranh chính đó là tranh tết và tranh
thờ.
- Tranh tết: chủ yếu là tranh chúc tụng ngày tết, mỗi khi tết đến thì mọi người đều treo
tranh trong nhà hoặc đem biếu cho bà con. Các đề tài chủ yếu trong tranh tết thường là từ
những cái dân dã nhất: đàn gà, đàn lợn, ông đồ, đám cưới, cóc, chuột,… cho đến mô tả
các trò chơi dân gian sinh động của ngày tết: múa lân, múa rồng, đấu vật, chơi đu, bịt
mắt bắt dê… hay khát vọng sung túc cho cả năm: vinh hoa – phú quý, Tiến tài, Tiến lộc,
chúc phúc, Tứ quý, các bộ tứ bình như Tùng – Cúc – Trúc – Mai, Long – Lân – Quy –
Phượng, tố nữ chơi đàn… và còn có cả châm biếm, phản ánh cuộc sống thường ngày của
con người: đánh ghen, thầy đồ cóc, đám cưới chuột… Tất cả các đề tài này đều được thể
hiện qua dòng tranh Đông Hồ. Điểm độc đáo của tranh Đông Hồ là được tạo bởi 5 màu
sắc chính là đen, xanh, vàng, đỏ, trắng, có nhiều nét tương đồng với 5 yếu tố ngũ hành là
kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Bởi vậy, sự hòa hợp của các gam màu trên tranh Tết Đông Hồ
là điềm báo cho sự khởi phát thuận lợi của ngũ hành dịp đầu năm, mang đến may mắn và
điềm lành cho gia chủ. Bằng những đường nét tinh tế, giàu tính gợi hình và màu sắc tươi
tắn, hài hòa, mỗi bức tranh đều chứa đựng những ẩn ý nhân văn sâu sắc.
- Tranh thờ: là dòng tranh chủ yếu của dòng tranh Hàng Trống. Tranh thờ nổi bật với hai
đề tài chính là Phật giáo và Đạo giáo. Tranh thờ có 5 loại:
+ Tranh thờ dân gian: Tam phủ, Tứ phủ, Táo quân, thổ công, thổ địa, ngũ sinh, ngũ hổ,
bạch hổ… được vẽ với màu sắc tươi vui, khía cạnh độc đáo, sang tạo giàu sức sống, nét
vẽ sinh động…
+ Tranh thờ các vị thần truyền thuyết: Bàn Cổ, Địa Tạng Vương, thần mây – mưa – sấm
– chớp…
+ Tranh thờ Phật: thập điện, cứu khổ nạn, Quan Âm thuyết pháp, Đạt Ma Tổ Sư…
+ Tranh thờ linh vật: Ngựa Hồng, Ngựa Bạch,… và tranh thờ tổ tiên.
Các đề tài tranh thờ nói lên sự tôn sùng Trời – Phật, thần thánh, là những vị thần bảo vệ
cho gia chủ. Nhịp điệu sống động của người và vật được thể hiện qua những nét vẽ uyển
chùa bắc bộ. Do tình hình nghiên cứu hiện tại chưa xác định chính xác niên đại của từng
pho tượng ở một số chùa. Nên giới nghiên cứu dùng phương pháp thống kê đối chiếu
những pho tượng có niên đại tuyệt đối để suy ra những pho tượng khác. Hệ thống điêu
khắc ở mỗi chùa bao trùm ít nhất 4 thế kỷ 17, 18, 19, 20, do đấy khi xác định người ta
thường xếp loại 1, 2, 3, 4 tương ứng với 4 thế kỷ. trong thế kỷ 18 đã xác định chùa giám,
kim liên, tây phương, Mía, dâu, sủi, kiến sơ, trăm gian….
+ Điêu khắc chùa Giám: theo văn bia của chùa: chùa Giám đã làm 46 pho tượng chủ yếu
của ngôi chùa, điện thờ phật chùa Giám ngày nay đã xáo trộn, không thể xác nhận hoàn
toàn theo bia. Pho tượng phật có thể, là tượng như lai (1715), gỗ phủ sơn, ngồi tư thế bán
kết già, tay đặt đầu gối, tay giơ ngang, vai với hai ngón tay chỉ lên khoảng định niệm.
Đầu hơi to, tóc xoắn ốc lộ khướu trán, mặt rộng, mắt nhắm nghiền. Các nếp y phục chạy
vòng hướng vào trung tâm. Ngực áo trang trí nhiều trang sức nổi. Điêu khắc chùa kim
liên (1726), mang tính hỗn hợp thần phật nhiều hơn, ba tòa nhà, tòa đầu bên phải có các
tượng đức ông, quan hầu, ngựa hồng, bên mái là đức thánh quan hầu: tòa giữa là các
tượng phật, tòa cuối 5 gian, tính từ phải sang: gia tiên thập phương thế giới - có các bài vị
gỗ đặt trên sập, bà thủ đền, bài vị, 2 ông hoàng, thờ bà chúa quỳnh hoa, gồm tượng tam
tòa thánh mẫu, ngũ vị tôn quan, công chúa quỳnh hoa, 2 ông hoàng, các tượng chầu bà
đức vua, 2 ông hoàng, tượng phật, 4 tượng sư tổ nam, 2 tượng sư tổ nữ. Đáng chú ý có
tượng tôn ngộ không gỗ phủ sơn cao 1m10, tay vung phía trước, tay giơ cao gậy, các chi
tiết chân, tay, mặt mũi, quần áo diễn ta sinh động gần với sự thực, tượng vân phủ đồ tát,
gỗ phủ sơn, cao1m58, bệ 26 cm trong tư thế chấp 2 tay nắm trước ngực, mắt đăm chiêu
khô héo, tà áo duỗi dài ra tạo các nhịp điệu xáo trộn vây bọc cơ thể tĩnh lặng. Đối với văn
thù là tượng phổ hiền bồ tát cũng có kích thước tương tự, tượng đứng chắp tay, mặt căng
tròn, mắt nhắm nghiền, các nếp áo kéo dài. Tượng phật, gỗ phủ sơn, cao 60 cm, bệ tòa
sen cao 20 cm trong tư thế ngồi bán kết già tinh thần phẳng lặng. áo hai nếp vắt qua vai
chảy tràn xuống mặt bệ theo truyền thống tượng thế kỷ 16 – 17, tạo ra nhịp lượn sinh
động. Tượng quan âm 42 tay, cao 1m20 là một trong những pho tượng đẹp nhất ngôi
chất kiểu sức phát triển cao độ với nhiều chi tiết và màu sắc trên các giáp trụ phức tạp. So
với tượng kim cương chùa tây phương bằng gỗ, kim cương chùa mía bằng đất đắp nên
động tác thay đổi mạnh mẽ hơn với các thế võ vung binh khí và động thái chưởng cước,
các màu vàng nâu, son xanh, hồng, tía phủ rất tinh vi, không có tương phản cường điệu,
mà ác màu sắc thuyên chuyển thâm trầm thay đổi theo từng phần nhỏ của diện tích.
+ Điêu khắc chùa dậu (pháp vân tự - hà bắc), đóng góp vào lịch sử mỹ thuật những tác
phẩm bất hủ, tượng phật adidà tiếp dẫn đứng cao 1m05, tay luôn thẳng, tay đặt lòng các
chi tiết đều giản lược cho các mảng lớn ở ngực, mặt, tay, áo quần nổi khối.bức tượng gợi
cho ta nhớ đến tượng phật hành hương nổi tiếng trong nghệ thuật sukhothai thái lan.
Tượng chùa dâu không đều như chùa khác, nhưng cũng rất nhục cảm.
+ Điêu khắc đá trong 10 cung điện, đền thờ, lăng mộ: cung cổ bi 1727, 2 voi, 2 sư tử, 2
hổ, lăng đinh hương – ngựa, 2 nghê, 6 tượng người, lăng họ đỗ 1734, 2 chó, 2 ngựa, 2
nghê, 6 tượng người,...sự suy giảm của phong trào dựng đình kéo theo điêu khắc đình
làng thế kỷ XVIII, nghệ thuật phù điêu với các tập hợp chạm bong cực kỳ nhiều lớp,
phức tạp thế kỷ XVII đã lùi dần, các đình có xu hướng chạm mặt phẳng.
+ Khuynh hướng: loại hình hóa, hiện thực tả chân, chân dung, thô, mộc dân gian ở người
hầu, thị giả và nhiều tượng nhỏ.
+ Khuynh hướng trang trí hoành tráng ở hộ pháp, kim cương đi liền với trang trí kiến
trúc.
+ Tượng người và thú: ở lăng mộ cũng không có kiệt tác bao giờ nhưng lăng mộ thế kỷ
18 tiếp nối truyền thống từ các thế kỷ trước, và chuẩn bị cho tượng ngoài trời ở lăng mộ
nhà nguyễn sau này. Các đồ bằng đá và bia đá trang trí trên lăng mộ.
+ Cuối thế kỷ 18 có 11767 làng xã ở bắc bộ và thanh nghệ, chưa kể điêu khắc đình và
lăng mộ. Nghệ thuật điêu khắc thế kỷ 18: sự tràn ngập lãnh thổ và trở thành ngôn ngữ
nghệ thuật phổ biến nhất cho toàn dân.
4. Những nét mới trong nghệ thuật tạo hình đương đại Việt Nam
Cuộc kháng chiến chống Pháp diễn ra, đó là điều kiện khách quan lẫn chủ quan giúp cho
nền mỹ thuật nước nhà nảy sinh một nền nghệ thuật tạo hình.
đền trung tự của nguyễn gia trí, tranh lụa của nguyễn phan chánh)…
Cách mạng tháng tám đã giúp người nghệ sĩ thoát ra những gì còn đang chật hẹp trong lối
nghệ thuật của mình. Con đường nghệ thuật không còn đậm hương vị nghệ thuật nữa mà
mang đậm vị nhân sinh đã giúp nhiều giới nghệ sĩ khá hồ hởi để tham gia như Trần Văn
Cẩn nước việt nam của người Việt Nam, áp phích lớn của Nguyễn Sáng với toàn dân
đoàn kết,… đã tố cáo được nhiều tội ác của chiến tranh, mong muốn hòa bình. Điều đó
cho thấy thật sự giới nghệ sỹ đã hầu như theo tiếng gọi của cách mạng và làm cho nghệ
thuật lúc này theo hướng cách mạng. Nên các tác phẩm sẽ tả sự chân thực nhất xã hội lúc
bấy giờ như Phá xiềng, Việt Nam được giải phóng, xuống đồng. Chính môi trường cách
mạng sẽ là môi trường đầy gian lao, đầy thử thách, lâu dài để tôi luyện các giới nghệ sĩ.
Trong thời kỳ này cũng có thêm vài chất liệu mới phát triển một cách mạnh mẽ như đồ
họa, nó sẽ là những tác phẩm tuyên truyền một cách vô cùng hiệu quả.
Cuộc kháng chiến chống Pháp, lớp nghệ sĩ theo cách mạng đã tập hợp lại, đến 1954, 1955
nhiều cuộc triển lãm thành công đã được diễn ra. Lúc này cho thấy đã có sự phát triển
mạnh, trưởng thành của những lớp nghệ sĩ. Triển lãm trong nước lẫn nước ngoài như ở
Moscow. Cho đến 1964, nghệ thuật nước nhà đã phát triển về chiều rộng lẫn chiều sâu
tức là số lượng và chất lượng, từ thể loại cho đến đề tài của những tác phẩm, đội ngũ
đông đảo hơn, truyền thống được khai thác một cách triệt để, lưu giữ và phát triển.
Như người nghệ sĩ trong giai đoạn chống Mỹ họ có tầm nhìn khác, tầm nhìn xa hơn trong
những giai đoạn trước, họ đã trở thành những chiến sĩ trong mặt trận thật sự vì họ có điều
kiện, lý luận, đời sống khác trước, nhiệm vụ vai trò của họ trong cuộc chiến là vô cùng
lớn trên mặt văn hóa tư tưởnng họ đi vào các chiến trường, đi vào mùa bom đạn. Nên thời
chống Mỹ, cái chất lãng mạn trong những tác phẩm không còn đậm nét mà thay vào đó
sự đanh thép hơn, tự tin hơn.
Có lẽ vậy mà điêu khắc đã có những bước chuyển nhanh chóng. Vì nó nâng cao chất dân
gian, áp dụng tốt ngôn ngữ vào tác phẩm.
Sự mới mẻ trong nghệ thuật tạo hình thời kỳ đương đại: hình tượng người chiến sĩ vũ
trang, hình tượng người lao động, hình tượng người phụ nữ, hình tượng hồ chủ tịch; chất
sống.
Những ngày đầu cách mạng thì có nhiều nghệ sĩ đã thể hiện qua tài năng của mình như
Tô Ngọc vân trong những tác phẩm khắc gỗ dùng những nét khắc mảnh, chắc, đơn giản
làm tăng sự giản dị uy nghiêm của Người. Rồi Diệp Minh Châu lấy máu mình vẽ tác
phẩm Dâng cha già dân tộc, bức tranh lụa để thấy người mong ước đất nước độc lập.
Bằng những nét thoáng, vẽ nhanh, bố cục chặt chẽ và đơn giản, để nói rằng chỉ bằng
dòng máu của con tim mới thể hiện hết vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc mà thôi.
Sau những ngày hòa bình lặp lại, mọi điều kiện để sáng tác đều thuận lợi hơn rất nhiều thì
sự mong ước cống hiến bằng tác phẩm nói về Bác càng mạnh mẽ. 1954, các mảng sáng
tác nhưng trong đó về Bác thì khá rộng, ở nhiều thể loại hội họa như chân dung, tranh
sinh hoạt, tranh lịch sử, tranh phong cảnh; ở mọi chất liệu từ sơn mài, sơn dầu, lụa, khắc
gỗ; ở mọi loại hình từ tranh cổ động, tranh tường, tranh truyện,…
+ Hội họa: bố cục công phu: những lời dạy bảo của Mai Văn Hiến, mỗi người trồng hai
cây của Vương Trình, Bác đến thăm trận địa đạo pháo của Nguyễn Cao Thương,…ở đó
cho thấy được một điều tất cả mọi người một lần được gặp Bác thôi đó cũng là một hạnh
phúc lớn lao của họ trong đời( sự chiếu rọi bởi ánh sáng của một vị lãnh tụ thật gần gũi).
Bác như người cha, người anh trong gia đình, hiền hậu, nhân ái( Bác Hồ với thiếu nhi,
sơn mài của Hoàng Tích Chù, Bác thăm lớp vỡ lòng được vẽ sơn dầu cảu Đỗ Hữu Huề.
Hình ảnh Bác thật gần, thành công với thơ ca, âm nhạc, sân khấu,.. đặc biệt Bác gần gũi
nhiều với các bé thiếu nhi( những mầm non của đất nước). Đó là những tác giả miêu tả
nhiều hơn còn có một số khác cố gắng bao quát hơn về Hồ Chủ Tịch. Như tranh chân
dung bộc lộ tầm vóc của người. Đồ họa, sơn dầu nhỏ của Phan kế An, Nguyễn Đỗ Cung,
tranh sơn dầu hay gép gốm của Trần Văn Cẩn, Kim Bạch, Trịnh Phòng… ở họ đều mong
muốn toát lên sự mới ở người, phóng khoáng, thoải mái, gần gũi, thi nhân.
+ Đồ họa, đặc biệt là cổ động có những bức đã để lại ấn tượng mạnh( Bác vẫn cùng
chúng cháu hành quân của Nguyễn Thụ và Huy oánh, Phạm Lung
Nói chung nhiều tác phẩm thể hiện về BÁC nhưng vẫn chưa gọi là xuất Sắc, nếu có thì
còn thưa thớt. Vì con người quá vĩ đại như vậy nên nghệ sĩ rụt rè, chưa phóng tầm nhìn
người làm trọng tâm tức lấy cái này để nói cái kia. Ví dụ người chiến sĩ hành quân, thấy
ngọn tre đãm ánh sáng . Cho đến kỹ thuật : là sơn, khắc làm chất đồ họa làm tăng tính
mạnh mẽ, rõ nét, hiệu quả( những lấm chấm hoa xoan, đường viền rung động của tà áo
dài thanh nữ. Những nét thanh mảnh, sắc nhọn, khỏe ít thấy những nét bút to bản, xờm,
đầy đặn. Trong đó sơn bóng, mài nhẵn tạo nên vẻ sâu, lung linh, huyền ảo quyến rũ). Hạn
chế: Chất liệu và kỹ thuật đắt, màu sơn mài chưa dc sx nhiều, kỹ thuật khá phức tạp mang
nhiều thủ công và mỹ nghệ. Khả năng tả khối và tả : hạn chế như Giu lấy hòa bình của lê
quốc lộc hay bình minh trên nông trang của nguyễn đức nùng=> diễn tả cơ bắp. Chất xốp,
chất dày hay mềm, nhão,.. cảm giác xúc tác, ít tranh tĩnh,…
5. Việt Nam đương đại 1954 – 1975
Sản phẩm của các nghệ sỹ được đánh giá cao vì các nghệ sỹ đã tích lũy được nhiều kinh
nghiệm trong cuộc sống, trải qua không khí của các cuộc đấu tranh => ngộ ra những nét
đẹp bình dị của các thôn nữ, người chiến sỹ, du kích...Trong quá trình đấu tranh đã tích
lũy được từ tranh ký họa, chân dung... Cuộc kháng chiến chống Pháp đã giúp cho người
nghệ sỹ có nhiều tư liệu. Đây là giai đoạn chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, phương
pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa ở miền bắc và vùng giải phóng. Những nỗ lực hiện đại
hóa nhìn ra thế giới ở miền nam.
Chất liệu: sự phát triển rực rỡ của sơn mài
Nhiều họa sỹ nổi tiếng: Bùi Xuân Phái, Nguyễn Văn Tỵ...
1958, cuộc triển lãm thành công về tranh sơn mài, được triển lãm ở nhiều nước trên thế
giới
Tranh lụa có nhiều tác phẩm ra đời, với nhiều đề tài phong phú
Tranh sơn dầu: được phát triền
Khắc gỗ được nâng lên một bước mới
Hàng loạt tranh ký họa ra đời
Tác phẩm tiêu biểu: Nguyễn Thủ - bên sông Nhật Lệ, Nguyễn Văn Thiêu – Đồi chè du
kích, Phạm Đức Cương – làm thủy lợi, Sỹ Ngọc – Ta có phản lực bạn ơi...
Xu hướng hiện thực: Nguyễn Văn Tỵ, Phan Kế An