i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LÊ THỊ NƯƠNG
ĐỀ TÀI THÔN QUÊ
TRONG THƠ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
HÀ NỘI - 2018
ii
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU..........................................................................................................
1. Lí do chọn đề tài..........................................................................................
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.............................................................
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu..............................................................
- Diễn tiến và vị trí của đề tài thôn quê trong thơ trung đại Việt
Nam..................................................................................................................
4. Phương pháp nghiên cứu............................................................................
Chương 1.........................................................................................................
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ................................................
CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI..............................................................
1.1.1. Nghiên cứu chung về văn học trung đại đề cập đến đề tài thôn
quê....................................................................................................................
3.1. Bức tranh thôn quê................................................................................
3.1.1. Thiên nhiên thôn quê..........................................................................
3.1.1.1. Thiên nhiên tao nhã, mĩ lệ...............................................................
3.1.1.2. Thiên nhiên bình dị, dân dã.............................................................
3.1.2. Cuộc sống thôn quê.............................................................................
3.1.2.1. Cuộc sống lao động sản xuất thôn quê............................................
3.2. Tình cảm, thái độ của tác giả với thôn quê..........................................
3.2.1. Thú quê ẩn dật....................................................................................
3.2.2. Con người với tình quê, duyên quê....................................................
3.3. Đề tài thôn quê - những khác biệt giữa các vùng miền.......................
Tiểu kết Chương 3.......................................................................................
Chương 4.....................................................................................................
ĐỀ TÀI THÔN QUÊ TRONG THƠ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN..................................................
4.1. Không gian, thời gian nghệ thuật........................................................
4.1.1. Không gian nghệ thuật......................................................................
4.1.2. Thời gian nghệ thuật.........................................................................
4.2. Ngôn ngữ nghệ thuật............................................................................
4.2.1. Điển cố thi liệu Hán học....................................................................
4.2.2. Ngôn ngữ văn học dân gian gắn với đời sống thôn quê..................
4.3. Giọng điệu nghệ thuật..........................................................................
4.3.1. Giọng trữ tình....................................................................................
4.3.2. Giọng tự sự........................................................................................
4.4. Đề tài thôn quê - những khác biệt giữa thơ chữ Hán và chữ Nôm
......................................................................................................................
iv
Tiểu kết Chương 4.......................................................................................
DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ................
nói riêng ít nhiều ảnh hưởng tính cao nhã, quy phạm. Bên cạnh các vần thơ tỏ chí, thơ
vịnh sử, thơ đi sứ... thơ về thôn quê đã đưa văn học trở về với ngọn nguồn văn hóa
giàu tinh thần dân tộc. Mảng thơ này đã tạo nên một gam màu bình dị, mộc mạc
trong bức tranh đa sắc của thơ trung đại. Những vần thơ về thôn quê còn ẩn chứa
nhiều giá trị sâu sắc về tư tưởng, văn hóa, mà nền tảng sâu xa là tinh thần tự tôn, tự
cường dân tộc, tình yêu quê hương đất nước. Do vậy, nghiên cứu về đề tài thôn quê
trong thơ trung đại sẽ là một hướng tiếp cận mới nhìn từ cội nguồn văn hóa dân tộc,
cho thấy xu hướng dân tộc hóa, dân chủ hóa của văn học trung đại Việt Nam.
1.2. Phần lớn các nho sĩ trung đại đều xuất thân từ “cửa Khổng sân Trình”,
vừa tiếp thu những điển phạm của văn chương Nho giáo, vừa hướng tới khám
phá vẻ đẹp quen thuộc, gần gũi của thôn quê làng Việt. Tầng lớp trí thức phong
kiến Việt Nam, dù ở môi trường cung đình quý tộc hay về môi trường thôn quê,
trong căn cốt tâm hồn và tình cảm của họ vẫn không tách rời với cái nôi văn hóa
làng mạc ngàn đời của dân tộc. Điều đó cũng thể hiện sự thay đổi quan niệm thẩm
mĩ và tư duy nghệ thuật của nhà thơ. Đối tượng thẩm mĩ của văn học không chỉ
“tầm chương trích cú” mà cái đẹp còn được chưng cất lên từ chính cuộc sống đời
thường bình dị, dân dã. Thôn quê đẹp tự nhiên, thuần phác, là nơi khơi nguồn cảm
hứng thơ ca trong trẻo của thi nhân. Xét về không gian địa lý, thôn quê là quê
hương bản quán, là nơi các thi nhân quay trở về ẩn nhàn, lánh xa bụi trần. Xét về
giá trị tinh thần, thôn quê là chốn ngơi nghỉ thân quen, gần gũi, là nơi di dưỡng tâm
hồn nhà thơ. Sự xuất hiện đề tài thôn quê trong thơ trung đại là một quy luật tự
nhiên và tất yếu. Nghiên cứu về đề tài thôn quê trong suốt tiến trình phát triển của
văn học trung đại sẽ giúp chúng ta tìm ra những giá trị sâu sắc của người xưa ẩn sau
những câu thơ bình dị, dân dã.
1.3. Việc nghiên cứu đề tài thôn quê trong thơ trung đại có ý nghĩa thực tiễn
đối với việc giảng dạy và nghiên cứu văn học trong nhà trường. Nhiều tác giả viết
về đề tài thôn quê được lựa chọn, giảng dạy trong chương trình các cấp. Vậy nên,
2
+ Thơ văn Lý - Trần - Tập III (1978), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
+ Thơ văn Lý - Trần - Tập II (Quyển thượng), (1989), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
3
+ Ảnh hưởng Hán văn Lí Trần qua thơ và ngôn ngữ thơ Nguyễn Trung Ngạn (1998),
Nxb Giáo dục.
+ Hợp tuyển thơ Nguyễn Trãi (2009), Nxb Hội Nhà văn.
+ Nguyễn Bảo, nhà thơ - danh nhân văn hóa (1991), Nxb Văn hóa, Sở Văn hóa
thông tin Thái Bình.
+ Thái Thuận - Lữ Đường thi (2001), Nxb Văn học.
+ Hồng Đức quốc âm thi tập (1982), Nxb Văn học.
+ Tổng tập Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm (2015), Nxb Văn học.
+ Gia Định tam gia (2003), Nxb Tổng hợp Đồng Nai.
+ Cao Bá Quát toàn tập - Tập 1 (2004), Nxb Văn học và Trung tâm nghiên cứu
Quốc học.
+ Cao Bá Quát toàn tập - Tập 2 (2012), Nxb Văn học và Trung tâm nghiên cứu
Quốc học.
+ Cẩm Đình thi tuyển tập (2011), Nxb Khoa học xã hội.
+ Đặng Huy Trứ - con người và tác phẩm (1990), Nxb Tp Hồ Chí Minh.
+ Nguyễn Khuyến - Tác phẩm (1984), Nxb Khoa học xã hội.
Ngoài ra, luận án còn sử dụng thêm các tài liệu khác có liên quan để phục vụ
cho việc so sánh như:
+ Đường thi tam bách thủ (2000), Nxb Hội Nhà văn.
+ Văn học cổ điển Hàn Quốc (2009), Nxb Văn nghệ, Tp Hồ Chí Minh.
+ Thơ Basho và Haiku (1994), Nxb Văn học, Hà Nội.
Trong tầm khả năng bao quát tư liệu của mình, chúng tôi khảo sát cơ bản các
tư liệu nêu trên để phân loại, đánh giá theo nội dung nghiên cứu khoa học của luận
án. Đối với các văn bản thơ chữ Hán, luận án không đi sâu vào việc tìm hiểu văn
bản học, mà trên cơ sở bản dịch nghĩa để khảo sát nội dung và nghệ thuật tác phẩm.
ảnh hưởng, tác động tới đối tượng nghiên cứu.
4.5. Phương pháp văn học sử: Phương pháp văn học sử là phương pháp đặt
vấn đề nghiên cứu trong toàn bộ quá trình phát triển của văn học dân tộc. Với
phương pháp này, chúng tôi nghiên cứu đề tài thôn quê trong chiều đồng đại và lịch
đại để thấy được những đặc điểm riêng và đóng góp của từng giai đoạn, từng tác
giả. Từ đó, vị trí của đề tài thôn quê được xác định cụ thể hơn.
5. Đóng góp của luận án
5.1. Luận án tổng hợp, hệ thống về mặt tư liệu thơ viết về đề tài thôn quê trong
bảy thế kỷ phát triển của văn học trung đại Việt Nam.
5.2. Luận án chỉ ra đặc điểm và diện mạo của đề tài thôn quê về nội dung cảm
hứng và phương thức thể hiện thơ trung đại Việt Nam , chiều sâu văn hóa, tình yêu
quê hương, đất nước, tinh thần nhân bản. Luận án làm nổi bật đặc điểm riêng của
thơ thôn quê ở mỗi vùng miền qua các tác giả tiêu biểu.
5.3. Qua đề tài thôn quê, luận án góp phần bổ sung và làm rõ đặc điểm và xu
hướng phát triển của thơ trung đại Việt Nam theo tinh thần dân tộc hóa, dân chủ hóa.
5.4. Luận án đặt thơ trung đại Việt Nam trong sự đối sánh với thơ trung đại
5
các nước có ảnh hưởng qua lại với văn hóa Hán để thấy được điểm chung và nét đặc
trưng riêng biệt của thơ viết về đề tài thôn quê Việt Nam.
5.5. Phụ lục các bài thơ về thôn quê của luận án là tư liệu khảo cứu hữu ích
cho những người nghiên cứu, giảng dạy, những người quan tâm tới thơ trung đại
Việt Nam nói chung, thơ viết về đề tài thôn quê nói riêng.
6. Cấu trúc luận án
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, phần Nội dung
chính của luận án được trình bày theo 4 chương:
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài.
Chương 2: Khái quát đề tài thôn quê trong thơ trung đại Việt Nam.
Chương 3: Đề tài thôn quê trong thơ trung đại Việt Nam nhìn từ nội dung cảm
điều kiện phát sinh chữ Nôm gắn liền với môi trường thôn quê: “Nhìn từng cá nhân,
từng văn nghiệp thì, vấn đề năng khiếu và cảm hứng đặt ra ngoài: có sáng tác Nôm
là khi có quãng đời lui về thôn quê, sống lẫn lộn với bình dân” [123, tr.34]. Tác giả
lý giải những chặng đường “phong trần” hoặc “lỡ thời thất thế” của các thi nhân
trung đại ở chốn quê là yếu tố để sáng tác thơ Nôm. Từ đó, nhà nghiên cứu khẳng
định vai trò của ngôn ngữ đời sống thôn quê đã tác động đến thi hứng của nhà thơ
trung đại: “Do đó, có chuỗi ngày hòa mình vào cuộc sống bình dân, có dịp thẩm giá
và yêu mến ngôn ngữ bình dân, và thấy sự hứng thú sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ”
[123, tr.35]. Dù chưa khẳng định sự tồn tại một dòng thơ viết về thôn quê, nhưng tác
7
giả công trình đã có nhận định khá chính xác về nguyên do khách quan tạo nên
dòng thơ Nôm đậm đà tinh thần dân tộc, gần gũi với đời sống thôn quê. Sự hình
thành và phát triển thơ Nôm gắn liền với những biểu hiện của vẻ đẹp bình dị, mộc
mạc thôn quê.
Đinh Gia Khánh trong cuốn Văn học Việt Nam (thế kỉ X - nửa đầu thế kỉ
XVIII) đã nêu vai trò của sự xuất thân của tầng lớp nho sĩ có ảnh hưởng đến sáng tác
văn học: “Họ là những người trí thức phần lớn xuất thân từ địa chủ thứ dân. Một số
ngày càng nhiều lại xuất thân từ nông dân và thợ thủ công. Là những người tương
đối gần với các tầng lớp nhân dân hơn là quý tộc, họ tiếp thu được nhiều hơn tư
tưởng của nhân dân về những vấn đề đặt ra cho dân tộc ta lúc bấy giờ” [87, tr.72].
Nghiên cứu này đã khẳng định nguồn gốc xuất thân của các nhà nho cũng là yếu tố
tạo nên những đặc trưng riêng của nhà nho trung đại Việt Nam.
Trần Đình Hượu trong công trình Nho giáo và văn học trung cận đại Việt Nam
đã nhận thấy xu hướng sáng tác của các nhà nho trung đại gắn liền với cuộc sống ẩn
dật chốn quê: “Những người chán nản với thực tế của chế độ chuyên chế, chán nản
với chông gai, bụi bặm của con đường công danh, rút lui về ẩn dật ở nông thôn, vui
với gió trăng, nước non, cây cỏ, với tình bà con, xóm làng thường là những người
có cơ hội cảm thông với nông dân lao động, thấy cái hay, cái đẹp của thứ văn
các giá trị truyền thống dân tộc, ở đó có những vần thơ viết về thôn quê.
Nghiên cứu về nhà nho trung đại Việt Nam, Trần Nho Thìn lại có góc nhìn từ
chiều sâu lịch sử, văn hóa để tìm hiểu và phần nào lý giải sự quan tâm của nhà nho
trung đại đến nông thôn và nông dân: “Sống trong một xã hội nông nghiệp thì việc
quan trọng mà bậc trí thức phải làm là quan tâm đến nông nghiệp. Nhưng dù ý thức
được tầm quan trọng của nông nghiệp, các nhà nho không tham gia vào nông
nghiệp mà họ lo đi tìm “văn hóa” cho đường lối cai trị nông dân” [177, tr.355]. Đối
với tác giả, phản ánh thực tại vấn đề thôn quê trong thơ trung đại cũng là một trong
những đặc trưng của nhà nho trung đại, thể hiện sự quan tâm, chăm lo đến đời sống
của muôn dân.
Đinh Thị Khang đã có những phát hiện về hình ảnh thôn quê thanh bình trong
thơ thời Trần, đặc biệt là thơ đi sứ: “Đấy là tiếng nói thấm thía của nhà thơ đối với
cố hương. Chốn quê nghèo luôn là niềm day dứt và cảm xúc chân thực của tác giả”
[173, tr.58]. Trên cơ sở phân tích các tác phẩm tiêu biểu của các vua Trần, tác giả đã
khẳng định sự xuất hiện bóng dáng đồng quê trong thơ: “Đằng sau chốn lụa là gấm
vóc, lầu son bệ ngọc, cung điện đền đài trong thơ đời Trần đã thấp thoáng bóng nhà
dân, cảnh đồng lúa, tiếng sáo trẻ trâu, những nong tằm chín, bát canh cua béo và
mùa lúa sớm… một thiên nhiên bình dị đã được thể hiện gần gũi, chân thật, sinh
động và hấp dẫn” [173, tr.60]. Những công trình nghiên cứu đã nhận thấy mối quan
hệ mật thiết giữa thi nhân trung đại và môi trường thôn quê, tiền đề hình thành
những vần thơ bình dị, gần gũi với đời sống thôn quê.
Ngoài ra, nhiều công trình của các tác giả như Mai Cao Chương, Hoàng Ngọc
Hiến, Nguyễn Huệ Chi, Hoàng Hữu Yên, Nguyễn Đăng Na, Lã Nhâm Thìn, Đoàn
9
Lê Giang, Đoàn Thị Thu Vân, Trần Thị Hoa Lê, Nguyễn Thanh Tùng... đã góp phần
làm sáng tỏ những đặc điểm của nhà nho trung đại Việt Nam đối với sự hình thành
và phát triển thơ ca trung đại viết về thôn quê.
Các công trình nghiên cứu về đề tài thôn quê được thể hiện ở nhiều góc độ
10
làng quê.
Đáng chú ý là bài viết “Chất Đại Việt trong Ức Trai thi tập”, Lê Trí Viễn đã
khai thác tập thơ chữ Hán với những nét mộc mạc, gần gũi trong con người Ức Trai.
Tác giả công trình đã nhận thấy: “Ngay từ thời còn tìm đường, một cuộc sống gần
thiên nhiên với suối rừng, mai trúc, trong cảnh sinh hoạt nông thôn cấy muống ươm
sen, áo bô quen cật, dưa muối nài chi đã như một ước hẹn thề bồi từ thuở nào” [145,
tr.517]. Người viết đã nhận thấy Ức Trai là một người luôn canh cánh nỗi tiên ưu,
luôn đau đáu tư tưởng “trí quân trạch dân”, đồng thời cũng khẳng định một niềm
vui sống của thi nhân:“Biết sống lành mạnh vui tươi, giữa cuộc sống của nông thôn
lao động, với mọi cảnh vật thiên nhiên” [145, tr.518]. Nhà nghiên cứu đã tinh tế
nhận thấy sự gần gũi, thân mật giữa Nguyễn Trãi với người lao động: “Cái nhìn của
Nguyễn Trãi đối với sự lao động sản xuất ở nông thôn, tuy chưa xa cái khí vị “cày
Sằn câu Vị”, nhiều nhất cũng mới “cày ruộng cuốc vườn”, tát ao thả muống…
nhưng đã có gì rất gần gũi chan hòa với “mấy đứa thôn dân” [145, tr.519]. Như vậy,
qua những vần thơ chữ Hán giàu tính quy phạm, cao nhã, tác giả bài viết đã tìm ra
vẻ đẹp mộc mạc trong tâm hồn Ức Trai trong sự gắn bó với cảnh vật, con người
thôn quê.
Trong bài viết: “Mượn đá để ngồi”, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã nhận định về
cuộc sống của vị chân nho trong thơ chữ Hán Nguyễn Trãi: “…làm bạn với người
đánh cá, lao động với thôn dân, thả rau muống ở ao nhà, cuốc đất chùa ươm mồng
tơi, đốt củi bách pha trà và nấu canh bằng trái núc nác” [145, tr.613]. Theo quan
điểm của tác giả bài viết, những vần thơ về thôn quê của Nguyễn Trãi được khơi
nguồn cảm hứng từ chính cuộc sống thường nhật của nhà thơ chốn dân dã, yên bình.
Bên cạnh những nghiên cứu về thơ chữ Hán, cũng có rất nhiều công trình
nghiên cứu về Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi liên quan đến đề tài thôn quê. Đó là
các công trình của Xuân Diệu, Mai Trân, Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Huệ Chi, Đặng
Thanh Lê, Lã Nhâm Thìn… Các tác giả đã nghiên cứu ở nhiều góc nhìn khác nhau
tranh mộc mạc không cần tô vẽ trong thơ Nguyễn Trãi bên cạnh bức tranh thiên
nhiên hoành tráng, kỳ vĩ: “Thiên nhiên bình dị dân dã, từ quả núc nác, lảnh mồng
tơi, bè rau muống, rảnh mùng, “ngõ cày đất ải”… vốn gần gũi quen thuộc với nông
dân, với thơ ca dân gian nhưng lại có phần xa lạ với văn chương bác học. Nguyễn
Trãi đã đưa được những thứ ấy vào thơ một cách tự nhiên, trở thành ngôn ngữ nghệ
thuật, tạo nên những rung động thẩm mĩ… cái bình dị, đời thường cũng trở thành
đối tượng của cái đẹp” [173, tr.129]. Tác giả đã khẳng định giá trị thẩm mĩ của
những hình tượng nghệ thuật mang vẻ đẹp bình dị, dân dã trong thơ nhà nho trung
đại Việt Nam.
Các tác giả phương Tây đã có những công trình nghiên cứu về văn hóa và văn
học phương Đông, trong đó có thơ ca trung đại Việt Nam. Viết về Nguyễn Trãi,
trong bài “Tựa Nguyễn Trãi và Quốc âm thi tập”, nhà nghiên cứu Richard Feray đã
có một nhận định tinh tế về con người và thơ văn thi nhân: “Qua sự tiếp xúc với
thiên nhiên, gần gũi với “đám dân đen” mà ông yêu mến và thông hiểu biết mấy, có
12
những lúc đã hài lòng khi phát hiện ra rằng cuộc đời là đáng sống nếu như không
đáng…ca ngợi” [145, tr.1183]. Nhận định cho thấy mối liên hệ giữa hiện thực đời
sống “đám dân đen” nơi thôn quê với nguồn cảm hứng của thơ ca Nguyễn Trãi.
Cùng quan điểm ấy, N.I. Niculin trong bài “Đất nước và thiên nhiên trong thơ văn
Nguyễn Trãi” đã nhận thấy: “Sự quan tâm thường xuyên lớn lao của Nguyễn Trãi
đối với cuộc sống và cảnh bần cùng của người dân là yếu tố quan trọng, là nội dung
cơ bản trong thế giới quan của ông” [145, tr.794]. Đó cũng chính là điểm gặp gỡ của
học giả Tônđôri Đeduê khi viết về Nguyễn Trãi: “Và kia là cảnh đồng nội với công
việc cày bừa, gieo vãi, tưới nước, chăm cây... Cái khung cảnh nhỏ này chúng ta
không được phép coi thường, bởi vì trong đó mở ra những khả năng toàn diện của
con người” [145, tr.1186]. Các độc giả nước ngoài đã đánh giá và đề cao những vần
thơ “đồng nội” của Nguyễn Trãi trong việc thể hiện tư tưởng tâm hồn thi nhân.
Như vậy, các nhà nghiên cứu cho thấy QÂTT không chỉ là tập thơ đầu tiên
định mảng đề tài về đời sống thôn quê có một vị trí quan trọng góp phần tạo nên giá
trị tập thơ: “Hãy lướt qua những chỗ thù phụng tầm thường, những chỗ dễ dãi về
niêm luật, về lời thơ, về hiệp vần, chúng ta sẽ đọc được những câu thơ sống động
đậm đà màu sắc dân tộc, đậm đà tình cảm yêu thiên nhiên đất nước, yêu con người
trong sáng, con người lao động” [37, tr.32]. Cụ thể hơn, tác giả còn nhận thấy: “Các
nhà thơ ở đây đã chú ý đến hình dáng con trâu, đụn củi, đến cơm trắng, cá tươi của
người bình dân (Tứ thú tương thoại), đã chú ý đến sự cần cù của nông dân khi họ
chuẩn bị đi cày cấy từ lúc tinh mơ” [37, tr.22]. Tác giả cho thấy giá trị ẩn tàng đằng
sau những câu thơ mang tính ca tụng thù tạc của vua và quần thần trong thời kì thái
bình thịnh trị là cuộc sống thôn quê phong phú, sinh động.
Nhà nghiên cứu Mai Cao Chương đã nghiên cứu những thành tựu cũng như
những hạn chế của tập thơ. Tác giả nhấn mạnh những giá trị mà tập thơ đạt được:
“Có một số bài thể hiện được tình cảm chân thực của nhà thơ đối với cảnh vật,
trong đó đáng chú ý là những bài lấy cảnh vật thiên nhiên có màu sắc dân tộc. Các
nhà thơ đã có sự rung cảm chân thành” [87, tr.129]. Bài viết cho thấy yếu tố dân dã
bình dị, đời thường được thể hiện trong sáng tác của các nho sĩ cung đình. Nhà
nghiên cứu Bùi Duy Tân cũng đã có nhận xét tinh tế: “Lê Thánh Tông là một trong
những tác gia có nhiều thơ viết về thiên nhiên và đề vịnh phong vật đất nước… Thơ
đề vịnh thiên nhiên phong cảnh của Lê Thánh Tông không thiếu vẻ nên thơ, mỹ lệ,
hoành tráng của non sông đất nước, nhưng cũng tràn ngập xúc cảm, chân tình về
thực tiễn xã hội, về cuộc sống con người” [154, tr.126]. Bài viết đã phát hiện ra bức
tranh hiện thực cuộc sống phong phú trong bức gấm hoa thù tạc cung đình của Hội
Tao đàn.
Tiếp cận nghiên cứu từ góc nhìn thể loại, Lã Nhâm Thìn cũng khẳng định: “So
với QÂTT, hiện thực xã hội, đất nước con người trong HĐQÂTT phong phú và đa
dạng hơn. Tác phẩm đề cập đến nhiều mặt của cuộc sống xã hội, chủ yếu là cuộc
sống nông thôn, như cảnh sinh hoạt (7 bài), cảnh lao động với những công việc
đồng áng, sông nước (10 bài)” [171, tr.107]. Ngoài ra, nhà nghiên cứu cũng khẳng
những đóng góp của Bạch Vân cư sĩ trong việc dân tộc hóa thể thơ chữ Hán vốn
mang tính quy phạm công thức.
Bên cạnh các công trình nghiên cứu về thơ chữ Hán, có nhiều công trình
nghiên cứu về thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ngoài việc đề cao tính triết lý, giáo
huấn, các tác giả cũng đặc biệt nhấn mạnh tính bình dị, mộc mạc của tập thơ.
15
BVQNTT của Nguyễn Bỉnh Khiêm là tập thơ Nôm tiêu biểu ở thế kỉ XVI. Có nhiều
công trình nghiên cứu đã tiếp cận từ các hướng khác nhau để khẳng định giá trị tác
phẩm. Trong quá trình tuyển tập và nghiên cứu về thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, tác
giả Đinh Gia Khánh cho rằng: “Có thể tập hợp những nét tản mạn thành một bức
tranh về phong cảnh thiên nhiên, đặc biệt là về cách sinh hoạt của xã hội ta, của dân
tộc ta ngày xưa, có thể tìm thấy những tư liệu về dân tộc, xã hội học khá phong
phú” [86, tr.35]. Bên cạnh đó, nhà nghiên cứu cũng khái quát: “Qua thơ Nôm, lại có
thể thấy tác giả miêu tả lối sống của mình khi ở Trung Am, tức là lối sống của một
ông già ở thôn quê. Thường thì lời thơ rất đậm đà phong vị thôn quê” [86, tr.37].
Trong cuốn Nguyễn Bỉnh Khiêm về tác gia tác phẩm do tác giả Trần Thị Băng
Thanh và Vũ Thanh tuyển chọn và giới thiệu, có đến 16 bài nghiên cứu về tập thơ
này. Tuy nhiên, những bài nghiên cứu chủ yếu đề cập khái quát về các vấn đề nội
dung tư tưởng, ngôn ngữ nghệ thuật, chất triết lý của tác phẩm. Trong đó, một số tác
giả như Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Đặng Thanh Lê, Lã Nhâm Thìn… cũng đã
phát hiện và khẳng định giá trị của tập thơ Nôm trong quá trình dân tộc hóa văn học.
Tác giả Bùi Duy Tân khẳng định: “Nguyễn Bỉnh Khiêm chủ yếu sống ở nông
thôn, trải qua nhiều năm “từ ông già tóc bạc đến đứa trẻ tóc vàng đều quen biết họ
tên”, ông được sống gần gũi với thôn quê. Vậy nên, dù xuất thân là một nhà nho
chính thống nhưng đề tài thôn quê đã thấm vào ông từ trong tiềm thức: “Nhà thơ
không chỉ say mê cảnh sắc tươi đẹp và không khí yên tĩnh của nông thôn với tình
cảm của người trí thức ẩn dật: Trải đời ở thôn dã, nhà thơ rất có cảm tình với nếp
sống chất phác và sinh hoạt giản dị của nhân dân” [153, tr.332]. Trong một công
tinh ở nhiều tác giả tiêu biểu ở các vùng miền khác nhau của đất nước. Chúng ta có
thể kể đến các tác gia có nhiều sáng tác tiêu biểu về đề tài thôn quê như: Ngô Thì
Sĩ, Trịnh Hoài Đức, Cao Bá Quát, Phan Thúc Trực, Đặng Huy Trứ, Nguyễn
Khuyến. Các công trình nghiên cứu tập trung vào việc phân tích và xác định vai trò,
đóng góp của từng tác giả đối với sự phát triển của thơ ca trung đại.
Khi phân tích tấm lòng yêu dân, lo đời đầy trăn trở của Ngô Thì Sĩ , Nguyễn
Lộc nhận thấy: “1777, được bổ nhiệm làm Đốc trấn Lạng Sơn. Ở đây ông chiêu dụ
dân lưu tán khai khẩn đất hoang, tự mình đôn đốc việc cày bừa, nên công việc có
kết quả tốt đẹp” [57, tr.1083]. Trần Thị Băng Thanh cũng đánh giá cao vai trò của
thi sĩ họ Ngô về vấn đề nông dân: “Ông đã rất ưu ái khi nói và nghĩ về người nông
dân. Có lẽ ông là người sớm nhất phát hiện ra vấn đề nông dân một cách hệ thống
và sâu sắc” [164, tr.44]. Người viết đã tuyển chọn, biên dịch dựa trên chính văn bản
thơ để đưa ra những nhận định xác đáng về giá trị của thơ Ngô Thì Sĩ. Đặc biệt, tác
giả công trình nhấn mạnh về hình tượng người nông dân trong sáng tác của nhà thơ.
Trong lời giới thiệu Gia Định tam gia, tác giả Huỳnh Văn Tới - Bùi Quang
Huy cũng ca ngợi sự am hiểu sâu sắc của Trịnh Hoài Đức về lịch sử, địa lý, văn hóa
của vùng đất phương Nam. Đặc biệt, các tác giả nhấn mạnh đóng góp của Trịnh
Hoài Đức trong sáng tác thơ ca: “Nổi bật trong văn chương Trịnh Hoài Đức là tình
yêu sâu nặng đối với quê hương, đất nước. Ông đã viết khá nhiều bài thơ về từng
17
vùng quê cụ thể: Trấn Biên, Gia Định, Hà Tiên... Cùng với quê hương, cuộc sống
bình thường đã đi vào thơ văn Trịnh Hoài Đức vừa ngọt ngào, thân thuộc vừa thiết
tha, yêu thương” [4, tr.9]. Triêu Dương cũng cho rằng: “Những cảnh đẹp thiên
nhiên thường gắn liền với công việc của dân cày, dân chài, người đi săn bắn, người
làm nghề tầm tang... Tác giả thiên về ghi dáng dấp khỏe khoắn, thái độ hồ hởi của
họ trong lao động với một thiện cảm rõ rệt” [57, tr1823]. Các tác giả công trình đã
phân tích một số tác phẩm tiêu biểu của Trịnh Hoài Đức và đi đến kết luận về nội
dung chủ đạo trong thơ của ông. Đó chính là thiên nhiên và con người thôn quê phía
đóng góp của thi nhân về việc đưa cái đời thường bình dị vào thơ chữ Hán. Vũ
Thanh trong bài “Về tác giả Phan Thúc Trực và giá trị thơ văn của ông” đã nhìn
thấy vẻ đẹp độc đáo mà bình dị trong thơ thi sĩ họ Phan: “Cuộc sống đời thường
hiện hữu giản dị và đầy xúc động. Thơ ông như nhật ký, như những thiên phóng sự
đầy tính thời sự. Từ chuyện dạy con, đi ngủ, bị đau chân, thăm bạn... đến cảnh trồng
bông, trồng khoai, bừa cỏ gieo rau, chuyện tạnh mưa gặt lúa, gà mẹ ấp vịt con... đều
được ông ghi chép lại với một tình cảm tha thiết” [78, tr.488]. Qua phân tích, tác giả
nhấn mạnh: “Thế giới của cái bình thường, hàng ngày trong thơ ca của Phan Thúc
Trực hết sức phong phú và gần gũi. Cuộc sống đời thường hiện hữu giản dị và đầy
xúc động” [78, tr.488]. Trong bài “Cái thực trong thơ Phan Thúc Trực”, tác giả
Nguyễn Thị Thanh Chung đã nhận xét: “Có một nét gì đó rất điển hình cho thiên
nhiên và con người nơi ông đã sinh ra và lớn lên. Thi nhân xứ Nghệ yêu những đứa
con, yêu gia đình, yêu làng xóm quê hương, yêu công việc đồng áng” [78, tr.362].
Qua phân tích, các tác giả đã đi đến kết luận và nhấn mạnh về đóng góp của Phan
Thúc Trực trong nền thơ ca dân tộc theo xu hướng dân tộc hóa văn học.
Ở công trình nghiên cứu về thi nhân Đặng Huy Trứ, tác giả Nguyễn Hữu Sơn
nhận định: “Thơ chữ Hán của Đặng Huy Trứ hòa quyện nhuần nhuyễn với tư duy
dân gian, phản ánh những sinh hoạt đời thường. Đó là một đóng góp mới mẻ của
Đặng Huy Trứ đối với dòng thơ chữ Hán, đối với tư duy văn học thế kỉ XIX và thời
trung đại Việt Nam nói chung” [142, tr.82]. Tác giả công trình nghiên cứu đã nhấn
mạnh những đóng góp của thi sĩ họ Đặng về chất hiện thực trong dòng thơ chữ Hán
thế kỉ XIX. Phạm Tú Châu cũng khẳng định: “Thơ ông bày tỏ tấm lòng quan tâm
đến đời sống người dân thường ở nông thôn, chung niềm vui nỗi buồn với họ, từ
bác thợ cày, phụ nữ nuôi tằm, chị vú nuôi trẻ... Qua nhiều bài thơ, tác giả đã khắc
họa nhiều mặt đời sống phong phú ở miền quê” [57, tr391]. Các công trình đã cho
thấy cảm hứng về vẻ đẹp đời thường ở thôn quê trong sáng tác của Đặng Huy Trứ.
Có nhiều công trình nghiên cứu về thơ Nguyễn Khuyến ở các góc độ phiên
âm, chú giải, thẩm bình... về thơ thôn quê. Thơ Nguyễn Khuyến trở thành đối tượng
quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu. Điểm qua một số công trình tiêu
biểu, chúng ta sẽ nhận thấy vị trí và đóng góp của nhà thơ kết thúc vẻ vang thời kì
tế: “phải đến Nguyễn Khuyến, văn học mới thực sự bước xuống đồng ruộng, đến
với người dân nơi thôn dã và từ cuộc sống lam lũ mà cũng không kém phần thơ
mộng của làng cảnh Việt Nam, thơ ca mới được kết tinh trở nên chân thực, chi tiết,
sinh động đến như vậy” [167, tr.33]. Người viết còn tìm hiểu và phân tích cụ thể
hơn để nghe được âm thanh của cuộc sống thường nhật nơi thôn dã trong thơ Tam
nguyên Yên Đổ: “Một tiếng trẻ bi bô học bài, tiếng ếch kêu rền như tiếng trống của
trẻ nhỏ, tiếng chim ríu rít trên cành tre, một đêm trăng trữ tình, một con trâu già cọ
gốc phì hơi nắng… hay nỗi lo lắng trước cảnh hạn hán, lụt lội, mất mùa...” [167,
tr.328]. Trong cuốn Nguyễn Khuyến - Tác phẩm chọn lọc do tác giả Lại Văn Hùng
giới thiệu và tuyển chọn cũng có những nhận định nhấn mạnh sự xuất hiện của
20
“cảnh sắc thôn quê” trong thơ Nguyễn Khuyến: “Thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến vẫn
tiếp tục dòng thơ chữ Hán truyền thống, cũng là ngâm vịnh, thù tạc, tặng tiễn, cũng
là những cảnh sắc thôn quê - nơi ông gắn bó ẩn nhàn” [65, tr.16]. Nghiên cứu
Nguyễn Khuyến từ góc nhìn văn hóa, tác giả Trần Nho Thìn cho rằng thi nhân vẫn
chưa thoát khỏi công thức ước lệ của văn chương nhà nho, song tác giả vẫn khẳng
định: “Nhưng cũng phải thừa nhận rằng việc miêu tả cuộc sống hằng ngày là một
dấu hiệu quan trọng đánh dấu sự chuyển mình trong nguyên tắc nhìn nhận và phản
ánh thực tại của văn chương nhà nho” [176, tr.566]. Trong bài viết “Từ những biến
động trong nguyên tắc phản ánh thực tại của văn chương nhà nho đến bức tranh
sinh hoạt nông thôn trong thơ Nguyễn Khuyến”, tác giả cũng nhận thấy: “Với tư thế
bình dân, phi nho của mình, Nguyễn Khuyến có lẽ là người đầu tiên trong lịch sử
văn học Nôm phản ánh một cách khá cụ thể sinh động bức tranh sinh hoạt hàng
ngày của làng quê vào trong thơ ông” [176, tr.564]. Từ góc độ văn hóa học, tác giả
nhận thấy bức tranh nông thôn trong thơ Nguyễn Khuyến chính là biểu hiện quá
trình chuyển biến trong nguyên tắc nhìn nhận và phản ánh thực tại của văn chương
nhà Nho. Đó cũng là quá trình dân tộc hóa thể loại, hướng văn chương đến gần hiện
thực cuộc sống.