SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"VẬN DỤNG CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VÀ TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ
MINH VÀO BÀI GIẢNG LỊCH SỬ PHẦN: CÁC CUỘC CÁCH
MẠNG TƢ SẢN THỜI CẬN ĐẠI (SGK LỊCH SỬ 10 - BAN CƠ
BẢN)"
1
PHẦN I/ ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Tại Đại hội Đảng toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII khẳng định
“phải kiên trì vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” và
nêu rõ “Cái mới là cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng nêu cao tư tưởng Hồ Chí
Minh. Điều đó là tự nhiên, bởi tư tưởng Hồ Chí Minh chính là kết quả sự vận dụng sáng
tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta”.
Việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào bài giảng lịch
sử không phải là cái mới nhưng sẽ là thiếu sót nếu trong quá trình giảng dạy chúng ta xa
rời những nguyên tắc đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Bởi
nếu như trước đây chức năng cơ bản của dạy học là cung cấp kiến thức, mục đích cơ bản
của học tập là “học để hiểu biết” thì giờ đây chức năng này có sự thay đổi, dạy học không
chỉ là cung cấp kiến thức mà quan trọng hơn cả là còn đáp ứng cả chức năng về mặt giáo
dục, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, đạo đức, góp phần đóng góp quan trọng vào việc xây
dựng con người mới, phục vụ đất nước, phục vụ xã hội. Sử học có ưu thế trong việc tác
động đến tâm tư, tình cảm của học sinh, hình thành phẩm chất đạo đức, chính trị cho học
sinh thông qua các biểu tượng lịch sử. Và thông qua các bài giảng lịch sử giúp các em sẽ
2
1. Cơ sở lí luận
Trong việc giảng dạy môn lịch sử ở nhà trường THPT, một yêu cầu tổng quát đặt ra cho
mỗi giáo viên là truyền thụ chính xác, đầy đủ các tri thức khoa học về chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh tới đối tượng học sinh còn ít tuổi, vốn sống thực tiễn
nghèo nàn, khả năng tư duy khái quát chưa cao.
Và một bài giảng được coi là thành công nếu nó làm được hai nhiệm vụ sau: Thứ nhất,
khôi phục lại bức tranh lịch sử. Mà một trong những biện pháp chủ yếu để có thể khôi
phục bức tranh lịch sử là tạo biểu tượng lịch sử. Và trong các tác phẩm của Mác,
Ăngghen, Lênin, Hồ Chí Minh có rất nhiều biểu tượng lịch sử. Chức năng thứ hai của bài
4
giảng lịch sử là làm sáng tỏ bản chất lịch sử. Có nghĩa là có cái nhìn đúng, đánh giá đúng
sự kiện, nhân vật lịch sử, bài học lịch sử. Đó là công việc mang tính khoa học.
Chính vì vậy, việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào bài
giảng lịch sử ở nhà trường THPT là một luận điểm có tính chỉ đạo toàn bộ hoạt động dạy
của người giáo viên và hoạt động học của người học sinh.
2. Cơ sở thực tiễn
* Về phía giáo viên:
Thứ nhất: Xuất phát từ thực tế, bản thân tôi là một giáo viên THPT dạy môn Lịch sử luôn
trăn trở về đổi mới phương pháp giảng dạy của mình, về đối tượng giảng dạy của mình để
làm sao đó mỗi giờ giảng dạy phải đạt kết quả cao nhất.
Thứ hai: Xuất phát từ đặc trưng của bộ môn Lịch sử với việc truyền thụ kiến thức phải
mang tính Đảng - tính khoa học, cho nên trong mỗi bài giảng lịch sử, giáo viên phải chú
trọng đến tính khoa học, tính cơ bản của nội dung bài học gắn với tính vừa sức đối với
việc lĩnh hội của học sinh.
* Về phía học sinh:
Qua thực tế giảng dạy của bản thân, tôi nhận thấy một thực trạng đó là:
5
bình
SL %
SL %
SL %
SL % SL
%
6
10G
50
3
6
17
34
25
50
Thực trạng trên là một vấn đề cần phải suy nghĩ của chính người dạy và người học. Cần
phải có biện pháp cấp thiết nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn lịch sử.
3. Nguyên tắc và phƣơng pháp vận dụng quan điểm Mác - Lênin và tƣ tƣởng
Hồ Chí Minh vào bài giảng lịch sử
a. Nguyên tắc cơ bản trong việc vận dụng quan điểm Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh vào bài giảng lịch sử
Thứ nhất: Khi vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào bài giảng
lịch sử, cần phải nhận thức rằng: học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh không
đối lập mà là hòa hợp, gắn bó với cộng đồng thế giới. Học thuyết đã làm giàu hơn nhận
thức của loài người, làm phong phú hơn những di sản văn hóa của nhân loại. Không phải
là đối lập với các bộ phận khác nhau của loài người mà chính là máu thịt của nhân loại đó là bản chất của học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
7
Thứ hai: phải trung thực với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Điều đó
đòi hỏi người giáo viên lịch sử phải là một chiến sĩ trên mặt trận văn hóa - tư tưởng.
Trung thực ở đây không phải là trung thực trên từng câu chữ mà là trong thực chất hành
động cách mạng và khoa học vốn là hai mặt đặc tính căn bản kết hợp làm một trong bản
thân của chủ nghĩa Mác - Lênin và tưởng Hồ Chí Minh.
Trung thực với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi người giáo viên
lịch sử phải công khai giữ vững lập trường của giai cấp công nhân, của Đảng. Lênin có
nói rằng “Chủ nghĩa duy vật bắt buộc chúng ta mỗi khi đánh giá một sự kiện phải công
khai dứt khoát đứng về một tập đoàn xã hội nhất định” (quan điểm giai cấp). Trung thực
với chủ nghĩa Mác - Lênin và tưởng Hồ Chí Minh là yêu cầu quan trọng bậc nhất đối với
người giáo viên Lịch sử. Nó đòi hỏi người giáo viên phải không ngừng học tập nâng cao
trình độ hiểu biết một cách thấu đáo về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,
đồng thời phải không ngừng rèn luyện bồi dưỡng lòng nhiệt tình cách mạng.
trích dẫn nhận định trên của Mác sẽ giúp học sinh hiểu rõ:
- Về mặt kiến thức: sau sự kiện tháng 12/1688, thống trị nước Anh không chỉ có
Vin Hem Ô-Ran-Giơ mà còn có cả địa chủ quí tộc và những nhà tư bản không quí tộc.
Do đó, mặc dù có Vua nhưng không phải là chế độ quân chủ mà là “Quân chủ lập hiến”
(nền quân chủ của một nước do vua đứng đầu nhưng vua chỉ mang tính chất tượng trưng,
còn quyền lực tập trung trong tay Nghị viện). Việc trích dẫn nhận định này của Mác sẽ
giúp học sinh hiểu rõ hơn về bản chất của nền quân chủ lập hiến ở Anh sau cuộc chính
biến 12/1688.
- Về mặt thái độ: từ việc hiểu rõ được bản chất của chế độ quân chủ lập hiến ở
Anh, giáo viên giúp cho học sinh nắm được sự khác nhau giữa các chế độ chính trị, từ đó
hiểu được con đường mà dân tộc mình đang đi. Từ đó các em sẽ tin vào chủ nghĩa cộng
sản, có tinh thần quốc tế vô sản chân chính, có lý tưởng cách mạng cao đẹp, từ đó giúp
cho học sinh có thái độ và hành động đúng đắn trong cuộc sống hiện tại.
Về giai cấp lãnh đạo cách mạng tư sản Anh
Ở mục 2. Cách mạng tư sản Anh (SGK lịch sử 10 - Ban cơ bản), khi nói về kết quả và
tính chất của cuộc cách mạng tư sản Anh, SGK viết: “Lãnh đạo cách mạng tư sản Anh là
do quí tộc mới liên minh với giai cấp tư sản, nên nhiều tàn dư của chế độ phong kiến
10
không bị xóa bỏ. Cách mạng chỉ đáp ứng quyền lợi cho giai cấp tư sản và quí tộc mới,
còn nhân dân không được hưởng gì mà còn tiếp tục bị chiếm ruộng đất”.
Như vậy, có nghĩa là SGK giải thích tính chất không triệt để của cách mạng tư sản Anh là
do “Lãnh đạo cách mạng là do quí tộc mới liên minh với giai cấp tư sản”.
Mác và Ăng-ghen trong Tuyển tập, Matxcơva, 1948, Tập 1, trang 41 đã viết về sự liên
minh này như sau: “Trong cuộc cách mạng tư sản Anh, giai cấp tư sản liên minh với tầng
lớp quí tộc mới đã đấu tranh chống chế độ quân chủ, chống quí tộc phong kiến và chống
giáo hội thống trị”.
Như vậy, trong quá trình dạy, khi nói về kết quả và tính chất của cuộc cách mạng tư sản
Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh: “Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập
năm 1776 ở nước Mĩ. Câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra
bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do...”
Việc trích dẫn câu nói này của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào bài giảng, sẽ giúp học
sinh:
- Về mặt kiến thức: hiểu hơn về ý nghĩa trọng đại của bản Tuyên ngôn độc lập
năm 1776 của nước Mĩ. Khẳng định một lần nữa về các quyền tự do, dân chủ tư sản, lần
đầu tiên nhân quyền và quyền công dân được chính thức công bố trước toàn thể nhân
loại, nó được đề cao như một thách thức với sự thống trị của chế độ quân chủ chuyên chế
đang thống trị khắp châu Âu. Tuyên ngôn khẳng định chỉ có nhân dân mới có quyền thiết
lập chính quyền và hủy bỏ chính quyền khi nó đi ngược với lợi ích của quần chúng.
Tuyên ngôn là một văn kiện có tính chất dân chủ tự do, thấm nhuần tinh thần thời đại.
- Về mặt thái độ:
+ Học sinh nhận thức được các quyền của con người và quyền công dân - Đó là
quyền tự nhiên và tuyệt đối của con người.
+ Qua bản Tuyên ngôn cũng đã nêu lên được vai trò to lớn của quần chúng trong
cách mạng. Từ đó, giúp học sinh thấy được động lực đưa đến thắng lợi của cách mạng quần chúng nhân dân, họ là lực lượng hùng hậu của các cuộc cách mạng.
13
Về ý nghĩa của cuộc chiến tranh giành độc lập ở Bắc Mĩ
Khi dạy mục 3. Kết quả và ý nghĩa của cuộc chiến tranh giành độc lập, SGK viết:
“Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa đã giải phóng Bắc Mĩ khỏi sự thống trị của
thực dân Anh, thành lập một nhà nước mới, mở đường cho kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Mĩ
phát triển”.
Đánh giá về ý nghĩa của chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc
Mĩ, trong cuốn Lênin, Toàn tập, tập 28, trang 44, Lênin gọi cuộc chiến tranh này là cuộc
cao hơn, tiếp nhận nông dân được quyền sở hữu ruộng đất một cách tự do, đó là những
điều kiện vật chất, những điều kiện kinh tế đã cứu được nước Pháp một cách nhanh
chóng “thần kì” đồng thời đã cải tạo, đổi mới cơ sở kinh tế nước ấy”.
15
Trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:
“Dân Pháp tuy lương thực ít, súng ống thiếu nhưng chỉ nhờ gan cách mạng mà
trong dẹp nội loạn, ngoài phá cường quyền”.
Những dẫn chứng trên được đưa vào trong bài giảng, sẽ giúp học sinh:
- Về mặt kiến thức: thấy rõ được nguyên nhân đưa đến thắng lợi của cuộc đại cách
mạng này. Đó là:
+ Giai cấp tư sản Pháp là lực lượng chính trị độc lập, có địa vị trong xã hội, thực sự
nắm quyền lãnh đạo (không có quý tộc mới)
+ Vai trò của quần chúng nhân dân trong cách mạng
+ Được trang bị bởi một hệ tư tưởng tiên tiến
+ Nổ ra sau cách mạng tư sản Anh nên cách mạng Pháp tiếp thu được kinh nghiệm.
- Về mặt thái độ:
+ Học sinh thấy được vai trò to lớn của giai cấp lãnh đạo và quần chúng nhân dân
trong cách mạng, họ là lực lượng đưa cách mạng đi lên, là người sáng tạo ra lịch sử và
quyết định sự phát triển của lịch sử.
16
+ Các em biết trân trọng những quan điểm tiến bộ của Triết học Ánh sáng trong
cuộc tấn công vào thành trì của chế độ phong kiến, dọn đường cho cuộc cách mạng tư sản
Pháp bùng nổ.
Về tính chất và ý nghĩa của cách mạng tư sản Pháp 1789
cách mạng tư sản thời cận đại.
- Về mặt thái độ: giúp học sinh có cái nhìn khách quan hơn, không ắc cảm dân tộc
với dân tộc Pháp mà càng trở nên kính phục bởi không chỉ họ đã làm nên thắng lợi của
cuộc đại cách mạng này mà còn vì “chính dân tộc ấy đã là kẻ đầu tiên truyền bá tư tưởng
rộng rãi vì tự do, bình đẳng, bác ái và đã cống hiến rất nhiều cho văn hóa, khoa học và
cho văn minh”.
18
* Trong bài 33: Hoàn thành cách mạng tư sản ở Châu Âu và Mĩ giữa thế kỉ
XIX (SGK lịch sử lớp 10 - Ban cơ bản)
Về nguyên nhân quá trình thống nhất nước Đức
Khi dạy mục 1. Cuộc đấu tranh thống nhất nước Đức, nói về nguyên nhân của
cuộc đấu tranh thống nhất nước Đức, SGK viết: “Đến giữa thế kỉ XIX, kinh tế tư bản chủ
nghĩa ở Đức phát triển nhanh chóng; từ một nước nông nghiệp, Đức trở thành nước công
nghiệp”.
Ăngghen trong cuốn Cách mạng dân chủ tư sản Đức, NXB Khoa học, trang 16,
cho biết: “Trong vòng 20 năm ấy, nước Đức đã sản xuất nhiều hơn so với cái mà cả thế
kỉ của một thời đại khác mang lại”.
Và như vậy, thông qua dẫn chứng này, giúp học sinh thấy được rằng; chính sự
phát triển mạnh mẽ của sản xuất tư bản chủ nghĩa là nguyên nhân thúc đẩy quá trình
thống nhất nước Đức.
Về tính chất của sự nghiệp thống nhất nước Đức
Khi dạy mục 1. Cuộc đấu tranh thống nhất nước Đức, nói về tính chất của sự
nghiệp thống nhất nước Đức, SGK viết: “Việc thống nhất nước Đức mang tính chất là
một cuộc cách mạng tư sản. Do giai cấp quí tộc Phổ thực hiện “từ trên xuống” bằng con
đường chiến tranh”.
19
tham gia. Không chỉ hạn chế trong những người nô lệ da đen mà đã lan sang cả những
người da trắng giàu có, chủ tư bản. Họ đấu tranh vì quyền sống của mình. Họ nhận thức
được rằng: Nước Mĩ nơi mà “ở đó lao động da đen bị sỉ nhục và đầy đọa, thì lao động da
trắng cũng không được giải phóng” (Mác - Tư bản - Quyển I, tập 1 - XNB Sự thật, 1959,
trang 406 - 407).
- Về mặt thái độ: giúp học sinh thấy rõ: “Mâu thuẫn giữa các mặt đối lập chính là
động lực của sự phát triển” - Đó là qui luật tất yếu của sự phát triển xã hội.
Về ý nghĩa của cuộc nội chiến ở Mĩ
Dạy mục 3. Nội chiến ở Mĩ, khi nói về ý nghĩa của cuộc nội chiến ở Mĩ, SGK viết
rằng: “Cuộc nội chiến 1861-1865 là cuộc cách mạng tư sản lần thứ hai ở Mĩ, kể từ sau
chiến tranh giành độc lập, tạo điều kiện cho chủ nghĩa tư bản ở khu vực này phát triển”.
21
Lênin trong cuốn Lênin, Toàn tập, tập 37, trang 58 viết: “Nội chiến ở Mĩ có ý
nghĩa tiến bộ, ý nghĩa cách mạng, ý nghĩa lịch sử thế giới lớn lao...”
Ý kiến này của Lênin được trích dẫn trong bài giảng sẽ giúp học sinh:
- Về mặt kiến thức: Hiểu hơn về ý nghĩa to lớn của cuộc nội chiến ở Mĩ. Đó là:
dựa vào lực lượng cách mạng của quần chúng (những chủ trại, dân tự do và người da
đen), giai cấp tư sản miền Bắc đã xóa bỏ chế độ nô lệ ở miền Nam, đông đảo những
người nô lệ da đen bao đời tủi nhục dưới ách áp bức của chủ nô cuối cùng đã được tự do,
hăm hở gia nhập quân đội Liên bang chiến đấu ngoan cường chống bọn chủ nô miền
Nam. Sau cách mạng, một số trở thành nông dân lĩnh canh, một số bổ sung vào kinh tế
công thương nghiệp miền Bắc tham gia phát triển kinh tế, tạo điều kiện cho kinh tế tư bản
chủ nghĩa ở Mĩ phát triển nhanh chóng. Và đến cuối thế kỉ XIX, Mĩ đã tiến hành cách
mạng công nghiệp, đưa Mĩ lên vị trí hàng đầu thế giới.
- Về mặt thái độ: Hình thành cho học sinh niềm tin tất thắng vào con đường cách
mạng do quần chúng nhân dân thực hiện.
bản chất sự vật. Từ đó, có cái nhìn đúng đắn về các sự kiện, hiện tượng lịch sử, hình
thành thế giới quan tiến bộ.
Học hết phần: “Các cuộc cách mạng tư sản thời cận đại”, tôi đã cho học sinh kiểm
tra một tiết để kiểm tra hiệu quả của việc vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh. Kết quả như sau:
Điểm
Lớp
10G
Số học sinh
50
9-10
7-8
5-6
50
15
30
30
60
5
10
0
0
Thông qua các số liệu trên, ta nhận thấy sự khác biệt rõ ràng giữa lớp đối chứng và
lớp thực nghiệm về hiệu quả của việc vận dụng quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh.
Với kết quả trên tôi rất vui khi thấy mình đã thành công với việc đổi mới phương
pháp dạy học và tôi sẽ cố gắng học hỏi, tìm tòi để cho việc dạy môn lịch sử ngày càng tốt
hơn.
PHẦN III/ KẾT THÚC VẤN ĐỀ
Giảng dạy là cả một quá trình đòi hỏi rất nhiều từ sự cố gắng, nỗ lực phấn đấu của
giáo viên. Để giảng dạy đạt hiệu quả cao không chỉ là dạy đúng nội dung mà còn cần
người giáo viên phải luôn bổ sung và làm mới phương pháp dạy. Giáo viên không ngừng
trau dồi, trao đổi, tìm tòi và học tập để làm giàu kinh nghiệm giảng dạy, mở mang kiến