TRƯỜNG CÁN BỘ THANH TRA
LỚP NGHIỆP VỤ THANH TRA NÂNG CAO
TIỂU LUẬN
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC
TRONG HỆ THỐNG THANH TRA HIỆN NAY
HỌC VIÊN: NGUYỄN THỊ THUẬN
TỔ: 6
ĐƠN VỊ: ỦY BAN CHỨNG KHOÁN NHÀ NƯỚC
Hà Nội tháng 8 năm 2016
1
Mục lục
Phần mở đầu
Trang
1
I. Hệ thống tổ chức thanh tra nhà nước ta
2
II. Thực trạng công tác tổ chức thanh tra hiện nay
4
viên
và
cộng
tác
viên
9
III. Một số nhận xét- hướng giải quyết
2
CHUYÊN ĐỀ:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ
VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC TRONG
HỆ THỐNG THANH TRA HIỆN NAY
Thanh tra là một nội dung không thể thiếu được của quản lý nhà nước, là
một giai đoạn trong chu trình quản lý, có vai trò kiểm định, đánh giá hiệu
quả của quản lý nhà nước. Nhiệm vụ trọng yếu có tính chất quyết định của
công tác Thanh tra là tìm ra các thiếu sót trong công tác quản lý, nhằm khắc
phục kịp thời những sơ hở, yếu kém, kiến nghị đề xuất những biện pháp đổi
mới và nâng cao hiệu quả quản lý, sửa đổi cơ chế, chính sách nhằm giúp các
cơ quan quản lý quản lý có hiệu quả hơn. Chính vì vậy trong hoạt động
quản lý phải có thanh tra và thanh tra phải phục vụ cho yêu cầu quản lý
nhà nước.Trong thời kỳ đổi mới và phát triển đất nước theo định hướng xã
tra Sở). Vấn đề cải cách hành chính theo xu hướng hiện nay cuả Đảng và
Nhà nước ta thì việc xây dựng loại hình Bộ đa ngành đa chức năng với hai
nhiệm vụ song trùng là thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành là
một trong những nội dung đổi mới trong hoạt động tổ chức thanh tra ở Bộ.
Tuy nhiên, hiện tại trong thực tế thì tổ chức thanh tra cấp Bộ còn vướng mắc
và chống chéo với tổ chức thanh tra chuyên ngành. Đây là vấn đề cần được
xem xét và có qui định lại trong tổ chức thanh tra Bộ hiện nay.
I.
Vài nét về hệ thống tổ chức Thanh tra Nhà nước ta .
Nhà nước ta luôn rất coi trọng công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại tố
cáo, phòng ngừa đấu tranh chống tham nhũng là những nhiệm vụ gắn liền
với tổ chức và hoạt động cuả hệ thống cơ quan thanh tra nhà nước. Trong
lịch sử 60 năm thành lập của Ngành kể từ ngày được thành lập Ban thanh tra
đặc biệt theo Sắc lệnh số 64/SL ngày 23 tháng 11 năm 1945. Từ đó đến nay,
Thanh tra Nhà nước đã lần lựợt được đổi tên là: Ban Thanh tra Chính phủ
4
theo Sắc lệnh số 138/SL ngày 19 tháng 12 năm 1949, Ban thanh tra Trung
ương của Chính phủ theo sắc lệnh số 261/SL ngày 28 tháng 3 năm 1956;Ủy
ban thanh tra của Chính phủ trên cơ sở Ban thanh tra Trung ương của Chính
phủ năm 1959; ủy ban ban thanh tra của chính phủ và Ban thanh tra của các
bộ ngành ở trung ương, ủy ban thanh tra của các tỉnh phía Bắc theo Nghị
quyết số 164/CP và Nghị định số 165/CP củaHĐBT ngày 30 tháng 8 năm
1970 thành lập ủy ban thanh tra Nhà nước, các ủy ban thanh tra cấp tỉnh,
thành phố, đặc khu, quận huyện và cấp tương đương. Ban thanh tra nhân dân
ở cấp cơ sở được thành lập theo Nghị quyết số 26/NQ- HĐBT ngày 15 tháng
2 năm 1984. Thanh tra nhà nước theo Pháp lệnh Thanh tra 1990 và Nghị
Thanh tra chính phủ: (ĐIều 14 ):
Đây là tên gọi mới của Thanh tra Nhà nước trước kia( theo Pháp lệnh
Thanh tra). Thanh tra chính phủ là cơ quan cuả Chính phủ, chịu trách
nhiệm trước chính phủ về thực hiện, quyền hạn thanh tra trong phạm vi
quản lý nhà nước của Chính phủ. Thanh tra Chính phủ có Tổng thanh tra,
Phó Tổng thanh tra và thanh tra viên. Tổng thanh tra là thành viên của
chính phủ do Thủ tướng Chính phủ đề nghị Quốc Hội phê chuẩn và Chủ
tịch nước bổ nhiệm. Quyền hạn của Thanh tra chính phủ được qui định
tại ĐIều 15. Có thể nói, về cơ bản, nhiệm vụ quyền hạn cuả Thanh tra
chính phủ không khác nhiều so với nhiệm vụ quyền hạn của Thanh tra
Nhà nước đã được qui định tại Pháp Lệnh Thanh tra năm 1990. Nó vẫn
bao gồm quyền hạn về thanh tra trực tiếp và quyền hạn liên quan đến
trách nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác thanh tra. Với quan điểm
quản lý nhà nước chủ yếu thuộc trách nhiệm của cơ quan thanh tra cấp
trung ương, do đó Luật Thanh tra đã lồng ghép cùng với nhiệm vụ quyền
hạn chung của thanh tra Chính phủ. Thêm vào đó là việc nhấn mạnh công
tác chống tham nhũng một vấn đề nóng bỏng đang có nguy cơ trở thành
quốc nạn của một bộ phận không nhỏ cán bộ biến chất trong hệ thống
quản lý nhà nước ta hiện nay. Ở một mặt nào đó, nạn tham nhũng đã và
6
đang là cản trở sự nghiệp đổi mới của nhà nước ta, cản trở sự phát triển
của đất nước.
Thanh tra cấp tỉnh: (Điều 17)
Là cơ quan thanh tra được tổ chức ở địa phương theo cấp hành chính. So
với Pháp lệnh Thanh tra 1990 thì thanh tra cấp tỉnh theo Luật thanh tra
2004 là cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, có trách
nhiệm giúp ủy ban nhân dân cùng cấp quản lý nhà nước về công tác
Huyện chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp,
đồng thời chịu sự hướng dẫn về công tác nghiệp vụ thanh tra hành chính
của Thanh tra tỉnh. Theo qui định, Chánh Thanh ra huyện có quyền đề
nghị thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân huyện thanh
tra trong phạm vi trách nhiệm của cơ quan đó. Quyền hạn nhiệm vụ của
Chánh Thanh tra huyện được qui định tại ĐIều 21.
Cơ quan thanh tra theo ngành theo lĩnh vực ( Điều 23)
Thanh tra Bộ(Điều 24)
Các cơ quan thanh tra theo ngành, lĩnh vực gồm có: Thanh tra bộ, cơ
quan ngang bộ( gọi chung là thanh tra bộ) Thanh tra bộ có thanh tra hành
chính và thanh tra chuyên ngành. Đây là một qui định mới so với Pháp
lệnh thanh tra 1990. Qui định này của Luật đã xác định rõ một vấn đề vẫn
thường gây ra tranh luận đó là ở mỗi bộ chỉ có một cơ quan thanh tra vừa
làm nhiệm vụ thanh tra hành chính vừa làm nhiệm vụ thanh tra chuyên
ngành. Điều này thể hiện quan điểm chỉ đạo để xây dựng luật Thanh tra
nhằm thực hiện chủ trương cải cách hành chính của Đảng và Nhà nước ta
là thu hẹp bớt các đầu mối hoạt động các cơ quan trong Chính phủ, xây
dung mô hình Bộ đa ngành đa lĩnh vực đa chức năng, đảm bảo sự quản lý
thống nhất theo ngành theo lĩnh vực ở các Bộ. Như vậy, thanh tra bộ là
cơ quan đầu mối giúp Bộ trưởng nắm toàn bộ công tác thanh tra của toàn
8
Bộ về cả thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành( thanh tra đối
với những ngành , lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ). Để thực hiện
được điều này, thanh tra Bộ sẽ được tổ chức theo hướng có bộ phận thực
hiện công tác thanh tra hành chính; có một bộ phận làm công tác thanh
tra chuyên ngành( phụ thuộc vào lĩnh vực mình quản lý). Các cơ quan
thanh tra chuyên ngành có thể đặt ở bộ, nằm throng cơ cấu của thanh tra
bộ hoặc thành lập ở các cục, tổng cục được giao quản lý nhà nước về
chức năng như tổng cục như Bộ Tài chính ( Tổng cục thuế, tổng cục HảI
Quan, Ủy ban chứng khoán ) còn đảm chức năng quản lý nhà nước về
lĩnh vực mình hiện đang thực hiện. Và tổ chức thanh tra chuyên ngành
theo hệ thống dọc ở các địa phương của các tổng cục này được xử lý thế
nào? Đây là vấn đề cần được xem xét nghiên cứu khi xây dựng Nghị định
về tổ chức thanh ra bộ trong thực tế hiện nay.
2.2.2. Thanh tra Sở ( Điểm b khoản 1 Điều 23 và Điều 27)
Thanh tra sở được thành lập ở những sở thực hiện nhiệm vụ quản lý
nhà nước theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân cùng cấp hoặc theo qui
định của pháp luật. Như vậy có thể hiểu rằng, không phải tất cả các sở
đều thành lập và nhất thiết phải có tổ chức thanh tra, mà chỉ có ở những
sở thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước mới cần có tổ chức thanh tra. Vì
theo qui định cuả Luật tổ chức Hội đông nhân dân và Ủy ban nhân dân
thì Sở là cơ quan chuyên môn, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý nhà
nước về một lĩnh vực chuyên môn. Sở không phải là một cấp trong hệ
thống các cơ quan quản lý nhà nước. Tuy nhiên cũng như thanh tra Bộ,
Thanh tra sở cũng thực hiện cả nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra hành chính
và thanh tra chuyên ngành( Điều 27). Trong thực tế, sở là cơ quan chuyên
môn gíup Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh
vực tại địa phương, song bên cạnh đó sở cũng đồng thời là cơ quan quản
10
lý trực tiếp đối với cơ quan đơn vị khác nhất là các đơn vị sự nghiệp. Do
đó, ngoài nhiệm vụ thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành của
các cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địa phương, sở còn thanh tra cả việc thực
hiện chính sách pháp luật nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị thuộc quyền
quản lý trực tiếp của Sở. Theo qui định tại Pháp lệnh thanh tra thì Chánh
Thanh tra sở do Giám đốc sở đề nghị Chánh Thanh tra tỉnh trình Chủ tịch
Ủy ban nhân dân tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức. Nay theo qui
hoạt động thanh tra đã qui định rõ nhiệm vụ, quyền hạn cho từng tổ chức
thanh tra nhưng về góc độ nhiệm vụ quyền hạn thì chưa phân biệt rõ
nhiệm vụ quyền hạn thanh nhà nước theo cấp hành chính và thanh tra nhà
nước theo ngành theo lĩnh vực. Do đó còn có sự chồng chéo về phạm vi,
chức năng, nhiệm vụ, đối tượng thanh tra giữa thanh tra nhà nước ở cấp
trung ương với Thanh tra Bộ, ngành và thanh tra cấp tỉnh, cấp huyện;
giữa Thanh tra nhà nước ở bộ, ngành với Thanh tra chuyên ngành và
Thanh tra sở, ngành, cụ thể là:
- Thanh tra nhà nước có quyền thanh tra các lĩnh vực, các đối tượng
trong phạm vi cả nước. Như vậy việc qui định này trùm lên phạm vi
và đối tượng của thanh tra bộ, ngành và thanh tra các cấp
- Thanh tra bộ, ngành( thanh tra nhà nước ở bộ, ngành) có quyền thanh
tra các đối tượng, các lĩnh vực do bộ, ngành quản lý trong phạm vi cả
nước. Như vậy có sự chồng chéo với thanh tra chuyên ngành và thanh
tra theo cấp hành chính.
- Thanh tra nhà nước ở cấp tỉnh, cấp huyện có quyền thanh tra các lĩnh
vực, các đối tượng do ủy ban nhân dân cùng cấp quản lý . Như vậy sẽ
trùm lên thanh tra sở, chồng chéo với thanh tra chuyên ngành, bộ
ngành.
Nguyên nhân dẫn đến sự chồng chéo trên là vì:
Thứ nhất: các cơ quan thanh tra nhà nước được tổ chức và hoạt động theo
nguyên tắc kết hợp giữa quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ,
12
nhưng lại thiếu sự phân định rành mạch, rõ rằng cả về nội dung và đối
tượng quản lý
Thứ hai: vịêc phân định phạm vi, ranh giới về nhiệm vụ quyền hạn giữa
các tổ chức thanh tra nhà nước chưa rõ ràng, nhất là vấn đề thanh tra
bộ máy tinh gọn độc lập với các cơ quan nhà nước khác. Để làm tốt công
tác này còn cần phải phân định rõ chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan
thuộc hệ thống thanh tra với các cơ quan nhà nước có chức năng kiểm
tra, giám sát như: Chức năng giám sát của Quốc hội, của Viện Kiểm sát,
chức năng kiểm tra của Kiểm toán Quốc hội…. Có như vậy, cùng với hệ
thống bảo vệ pháp luật, hệ thống thanh tra mới lớn mạnh và hoàn thanh
tốt nhiệm vụ của mình trong là bộ phận quan trọng, không thể thiếu được
trong cơ cấu bộ máy nhà nước, là chức năng thiết yếu của các cơ quan
quản lý nhà nước, là công cụ đắc lực để gìn giữ bảo vệ và tăng cường trật
tự kỷ cương quan lý, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp đổi mới và phát triển
đất nước./.
14
15