SKKN phương pháp giảng dạy ca dao trong chương trình ngữ văn THPT - Pdf 40

MỤC LỤC
Nội dung

STT
1

Mục lục

2

Đặt vấn đề

3

Giải quyết vấn đề

4

1

2 -> 3

3

-

C

-

C c i n


n giải quyết vấn đề
c tậ

N



n

5-> 15
15->16
16

n giảng
dụng S

3-> 5

17-> 23
N

24

25


I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Văn học Việt Nam được hình thành từ hai bộ phận lớn đó là Văn học
dân gian và văn học viết. Trong chương trình Ngữ văn THPT bộ phận văn

lĩnh tác phẩm?
Từ lí do trên tôi lựa chọn đề tài “ Phương pháp giảng dạy ca dao trong
chương trình Ngữ văn THPT”.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. C

l luận củ vấn đề:

Như chúng ta đã biết, tác phẩm văn học dân gian khác rất nhiều và rất xa
những tác phẩm văn học viết. Nó không phải là nghệ thuật ngôn từ hoàn
toàn độc lập và thuần chất như văn học viết. Trong đời sống tinh thần của
nhân dân, văn học dân gian bao giờ cũng tồn tại ở dạng kết hợp nhiều yếu tố
nghệ thuật và phi nghệ thuật khác nhau với yếu tố động tác mang tính chất
vũ và cả những động tác lao động sinh hoạt thông thường, có yếu tố âm
thanh mang tính chất nhạc và những âm thanh thông thường không có nhạc
tính. Do sự kết hợp phức tạp như vậy nên sáng tác dân gian không mang tính
chất ổn định và bền vững và việc nắm bắt chúng để nghiên cứu, giảng dạy là
điều hết sức khó khăn.
Ở những tác phẩm mà từng đơn vị tác phẩm không có tên riêng như tục
ngữ, câu đố, ca dao thường quy mô của tác phẩm rất nhỏ do đó số lượng


trong mỗi tác phẩm rất nhiều. Vì vậy việc chú ý xem xét kĩ những tác phẩm
tiêu biểu mang tính chất điển hình là rất cần thiết và quan trọng trong quá
trình giảng dạy.
Trong lĩnh vực giảng dạy văn học dân gian có nhiều vấn đề đạt ra có thể
chỉ với một thể loại , tiểu loại thậm chí là tác phẩm cụ thể. Chẳng hạn vấn đề
phân tích khai thác nhân vật trữ tình chủ yếu chỉ đặt ra đối với ca dao và
phần nào đó đối với bộ phận về tâm tình , vấn đề phân tích những xung đột
gia đình mang ý nghĩa xã hội chủ yếu chỉ đặt ra đối với thể loại cổ tích. Vì

người dạy cảm thấy giờ học hấp dẫn sinh động song thực ra cũng không đem
lại cho học sinh những cảm xúc thực sự.
Có người lấy bài ca dao phải giảng làm điểm xuất phát để từ đó liên hệ liên
tưởng đẫn dắt học sinh tới những câu thơ tứ thơ trong những tác phẩm văn
học khác theo sở trường và cảm hứng tự do của người giảng. Đó là cách
giảng lệch lạc cần khắc phục.
Có một số giáo viên chọn trong bài ca dao phải giảng một số điểm nào đó mà
họ thấy cần thiết cho học sinh và mình đủ sức giảng được, không đơn giản
hóa
hay phức tạp hóa bài ca dao một cách không cần thiết. Giáo viên có thể cho
học sinh tập đọc bài ca dao hoặc hướng dẫn học sinh thực hành, giải quyết
những câu hỏi đã cho, cung cấp thêm cho các em dị bản, những câu ca dao
hay có quan hệ mật thiết với bài ca dao đang học. Đây là cách làm của những
giáo viên có trình độ , có kinh nghiệm và tâm huyết với nghề đó cũng là cách
dạy có tính khả thi.
Trong quá trình giảng dạy ca dao việc cảm thụ, nhận thức còn nhiều khó
khăn. Đến nay chúng ta chưa r thời gian ra đời của từng bài , từng câu ca
dao mà ngay đến cả hoàn cảnh phát sinh phát triển chung của mỗi loại mỗi
hình thức ca dao truyền thống của nhân dân cũng chưa được xác định một
cách chắc chắn.Hơn nữa cả những bài ca dao được in trên sách giáo khoa văn
học dân gian trong nhà trường cũng chưa phản ánh đầy đủ. Với những khó
khăn đó, ca dao được sưu tầm và xuất bản bị tách khỏi thời gian và không
gian sinh thành tồn tại của nó khiến người học khó tìm hiểu và nhận thức.


Việc xác định tác giả ban đầu của mỗi bài ca dao và cái gọi là tác giả tập
thể vô danh cũng không được chỉ ra cụ thể. Ca dao có đặc điểm chung là
ngắn từ hai đến bốn câu là phổ biến lại bị tách ra như hiện tương riêng lẻ đơn
độc khiến người tìm hiểu, giảng dạy không có căn cứ, điểm tựa cho hoạt
động tư duy.

nghệ thuật của ca dao.
Sử dụng phương pháp dạy học tích cực, áp dụng kĩ thuật mới vào giảng dạy.
Phân nhóm cho học sinh thảo luận, nêu câu hỏi phát vấn.
Những kinh nghiệm qua thực tế giảng dạy
Những tài liệu liên quan đến phương pháp dạy học.
Đối chứng qua giờ dạy ở trường, có khảo sát chất lượng, đánh giá rút kinh
nghiệm giờ dạy.


Về

c in :

Học sinh chuẩn bị bài ( soạn văn) chu đáo tiếp cận tác phẩm văn học dân
gian ( ca dao) bằng việc đọc , đọc diễn cảm , học thuộc lòng bài ca dao.
Soạn bài theo hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa và sự hướng dẫn của
giáo viên
Phát hiện cái hay cái đẹp của ca dao về nội dung , nghệ thuật thông qua các
tín hiệu ngôn ngữ để tìm hiểu nội dung biểu đạt của ca dao
Sưu tầm các bài ca dao có chung đề tài , cách mở đầu theo mô típ quen thuộc
.Đ iv i

t động d y

ct nl

:

Để giờ học đạt được hiệu quả trước khi vào bài mới giáo viên chú ý khâu
khởi động để tạo không khí phù hợp với bài học: Có thể hát điệu cò lả mang

nhạc, động tác) đều trước hết nhằm tạo ra trạng thái êm ái, đều đều để đưa
trẻ vào giấc ngủ. Ngoài chức năng ban đầu ấy , dân ca ru con còn có thêm
chức năng giáo huấn, giải trí , phô diễn tâm tình. Vì thế nhạc điệu của dân
ca rất đơn giản ai cũng hát được nhưng phần lời của nó lại vô cùng phức
tạp và da dạng. Cho nên dân ca ru con và ca dao ru con( Phần lời của dân
ca ru con) vừa thống nhất vừa khác nhau điều đó phản ánh r tính chất độc
lập tương đối của thành phần nghệ thuật ngôn từ trong dân ca.
Như vậy khi xem xét thể loại của bài ca dao cần xem xét
c

củ n tức là xem nó đã được sử dụng trong hình thức sinh hoạt dân

ca nào, trong đó loại dân ca gốc của nó là gì?
t

ng di n

e

t

ng di n

củ n tức là dựa vào phần lời của bài ca dao mà xem xét đặc điểm

nội dung, nghệ thuật.
Vi c

c đ n t c giả n


iết v

t y i


-T

ne

Mu n

n

y

c n

c đầu đ n

ng cất nổi

n

y.

Những câu ca dao như vậy chắc chắn là sự tự bộc lộ của tác giả do đó tác
giả và nhân vật trữ tình chỉ là một.
Trong ca dao cổ nhất là bộ phận ca dao trữ tình việc xác định nhân vật
trữ tình gắn liền với xác định đối tượng trữ tình của nó. Nhân vật trữ tình
chính là chủ thể bộc lộ tình cảm còn đối tượng trữ tình chính là chủ thể

ng

Ở câu trên nhân vật là chàng trai( nh) đối tượng trữ tình là cô gái( Nàng).
Còn ở câu dưới thì ngược lại cô gái là chủ thể , chàng trai là đối tượng trữ
tình.
Trong trường hợp bài ca dao chỉ là một vế của sự đối hoặc đáp thì việc xác
định nhân vật trữ tình thuận lợi hơn xác định đối tượng trữ tình vì ở đây
đối tượng trữ tình lặng yên không nói. Trong trường hợp như vậy thì việc
xác định đối tượng trữ tình chỉ có thể làm một cách gián tiếp thông qua
nhân vật trữ tình căn cứ vào lời lẽ xưng hô, bộc lộ tình cảm của nhân vật
trữ tình mà đoán định
ài ca dao “ Khăn thương nhớ ai” có thể xác định nhân vật trữ tình
chính là cô gái qua cách xưng hô” Em” và bộc lộ tâm trạng thương nhớ


người yêu với nỗi nhớ thương triền miên da diết khắc khoải trong mọi
không gian và thời gian.
ài ca dao “ tát nước đầu đình” ta biết đối tượng trữ tình là cô gái , một
cô gái chưa chồng , người bạn cùng làng của chàng trai , căn cứ vào cách
xưng hô của chàng trai với các đại từ “em” “cô ấy” và câu :
Vi c

c đn đ i t

ng t

t n là công việc quan trong có ý nghĩa

phương pháp luận đối với việc giảng dạy ca dao. Nếu hiểu không đúng đối
tượng trữ tình có thể dẫn đến sự hiểu sai bài ca dao.

Ca dao thường sử dụng biểu tượng nên khi tìm hiểu bài ca dao cần xem
xét iểu t

ng trong bài. ài ca dao “ Khăn thương nhớ ai” nỗi thương

nhớ được diễn tả cụ thể và gợi cảm. Đó là nhờ cách nói riêng mang tính
nghệ thuật của ca dao. Nỗi niềm thương nhớ của cô gái đối với người yêu
được biểu lộ cụ thể sinh động bằng các biểu tượng “ Khăn , đ n , mắt” đặc
biệt là hình ảnh Khăn. Khăn , đ n được nhân hóa, còn mắt là phép hoán
dụ để nói đến nhân vật trữ tình. Cô gái hỏi khăn, đ n , mắt chính là cô tự
hỏi lòng mình và hẳn là nhớ thương bồn chồn lắm cô mới hỏi dồn dập đến
vậy. Khăn , đ n , mắt là biểu tượng cho nỗi niềm thương nhớ của cô gái
đang yêu.
Câu ca dao:

Thân em như hạt mưa rào
Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa

Hạt mưa chỉ thân phận của người con gái .
Ca dao còn sử dụng nhiều hình ảnh biểu tượng khác như:
sự chờ đợi ngóng trông :
Thuyền về có nhớ bến chăng?
ến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.

ến sông chỉ


Mận, đào, trúc , mai, loan ,phượng chỉ sự gắn bó trong tình yêu . Mỗi biểu
tượng đều có một cơ sở lịch sử văn hóa xã hội và ngữ nghĩa nhất định ,
trong quá trình phân tích cần tìm được cái hay , cái đẹp mà biểu tượng ấy




Ở đây con sông không thực mà cái cầu lại càng ảo. Có con sông ấy thì
mới có cái cầu ấy. Nó đích thực là cái cầu tình yêu trong ca dao mà lại là
cái cầu của người con gái chủ động bắc cho người mình yêu trong sự ràng


buộc của lễ giáo phong kiến . Nó táo bạo, mãnh liệt nhưng cũng rất trữ
tình ý nhị biết bao bởi nó là cái yếm vật mềm mại luôn quấn quýt bên
người con gái: Nó

í

ườ

Người con gái muốn dùng cái

vật thân thiết gần gũi nhất của mình để bắc cầu mời mọc người mình yêu.
Cái cầu dải yếm được tạo nên từ chính máu thịt, cuộc đời, trái tim rạo rực
yêu đương của những người con gái làng quê.Nó trở thành cái cầu tình yêu
đẹp nhất trong ca dao và chỉ có tư duy nghệ thuật dân gian thì mới sáng
tạo ra được một cái cầu như thế: Vừa gần gũi thân quen vừa táo bạo mà trữ
tình đằm thắm đầy nữ tính. Trong hệ thống hình ảnh cái cầu của ca dao, nó
là kết tinh đẹp đẽ nhất bởi từ cái cầu- dải yếm này không chỉ có tâm hồn
đẹp của người lao động trong tình yêu mà còn có cả cách nói đẹp của họ
trong việc biểu đạt tình yêu đó.
Mặt khác trong ca dao cũng có những mô típ , đó là sự lặp lại các hình
ảnh quen thuộc như: C
C ề

-T â e

Hạ v

ư

ạ v
ư ạ

ư





vườ


-T â e

ư

N ườ



-T â e
R

ô


é

-C

ò


G


-C
Tố ă

ù
ộ b !

ậ q






x

òb

v




!

ư
ư

ò về

Khi bài ca dao đã xác định được thời kì xuất hiện, địa bàn lưu hành ,
thể loại, nhân vật trữ tình thì ta có cơ sở để phân tích chủ đề, nội dung
nghệ thuật và ý nghĩ hiện đại của nó. Cái khó là vấn đề vận dụng cụ thể ,
trong đó bao gồm vấn đề cảm thụ cái hay của bài ca dao và khả năng
truyền đạt thể hiện sự cảm thụ ấy. Ở đây người giảng ca dao phải biết kết
hợp chặt chẽ hai loại tư duy: Tư duy lô gic bằng khái niệm qua hệ thống
thuật ngữ nghiên cứu văn học dân gian và tư duy hình tượng với hệ thống
ngôn ngữ phong phú đa dạng giàu tính cụ thể và gợi cảm của đời sống. Sự
kết hợp này được thể hiện bằng việc phân tích chủ đề qua việc phân tích
nội dung nghệ thuật, đến việc tìm đến mối quan hệ của bài ca dao với đời
sống hiện nay hoặc qua phân tích đặc điểm nghệ thuật mà rút ra nội dung


ròi từ việc phân tích nội dung, chủ đề bài ca dao mà rút ra ý nghĩa hiện đại
của nó.
Chẳng hạn bài ca dao “ Con cò mà đi ăn đêm” là bài ca dao trữ tình có
tính chất ngụ ngôn độc đáo. Lí tưởng thẩm mĩ, triết lí sống cao đẹp được
tác giả trình bày dưới hình thức một câu chuyện ngụ ngôn về con cò gặp
tai nạn trong lúc kiếm ăn. ài ca dao có hai nhân vật “ Con cò” và “ Ông”
đều do nhân dân sáng tác ra để bộc lộ tư tưởng thẩm mĩ và triết lý sống
cao đẹp của mình. Cần tập trung khai thác sâu vào hình tượng con cò. Con

n

c đục . Nó chủ động chọn cái c ết t ng” nếu phải

chết. Sự lựa chọn ở đây vừa đau xót vừa cao thượng. Cái cao thượng và
cái bi ở đây bắt nguồn từ triết lí sống

C ết t ng còn

n

ng đục .

Khi tìm hiểu, giảng dạy về ca dao viết về thân phận con người ( Ca dao
than thân) đặc biệt là hình ảnh về người phụ nữ trong xã hội phong kiến
bất công, người giáo viên cần làm cho học sinh thấy được thân phận bị
phụ thuộc của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, họ không tự quyết
định được số phận mình. Nội dung đó được diễn tả bằng những hình ảnh
so sánh và ẩn dụ khác nhau.
- Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?


- Thân em như miếng cau khô
Người thanh chuộng mỏng, người thô tham dày.
Những sự vật: tấm lụa đào, miếng cau khô, giếng nước giữa đang được
dẫn ra chủ yếu với nội dung nói về “gi t

ử dụng thì đây lại là so sánh



hư cấu bịa đặt

ở đây thì hoàn toàn chân thực thiết tha. Chính sự chân

thực thiết tha cao độ của tình cảm là điều kiện thúc đẩy trí tưởng tượng
của tác giả ( chàng trai) giúp cho tác giả hư cấu và bịa đặt được cái “ Sự”
độc đáo và nên thơ đó. Sự gắn bó giữa sự và tình giữa hư và thực trong
câu ca dao này chính là ở chỗ đó. Sự trong ca dao bao gồm sự việc và cảnh
vật, nó có thể là có thực hoàn toàn hoặc hư cấu hoàn toàn hoặc vừa có
thực vừa hư cấu. Nhưng dù thé nào thì sự có mặt của nó trong bài ca dao
cũng là do yêu cầu của tình cảm và nhằm bộc lộ tình cảm


Vì vậy sự và tình trong ca dao có sự kết chặt như hòa nhập vào nhau
không thể tách rời. Dạy ca dao nếu sa vào sự việc, cảnh vật mà quên mất
tình cảm hoặc coi nhẹ tình cảm của tác giả thì không đạt hiệu quả.
Có thể thấy rằng quá trình lĩnh hội phân tích lí giải một bài ca dao bao
gồm nhiều khâu , nhiều bước cụ thể. Người giáo viên văn học khi dạy ca
dao cần làm cho học sinh hiểu :

ài ca dao ra đời trong hoàn cảnh và

trường hợp nào? Được lưu hành sớm nhất và nhiều nhất ở đâu? Thuộc thể
loại nào? Chủ thể nhân vật trữ tình của bài ca dao là gì? hay bài ca dao là
tiếng nói của ai? Người ấy như thế nào? Đối tượng trữ tình của bài ca là
gì? Xác định nội dung truyền đạt phô diễn của bài ca dao là gì? ( Vấn đề
chủ yếu mà tác giả bài ca dao muốn nói) Hình thức nghệ thuật bài ca dao
là gì? ( Sự phô diễn tâm tư tình cảm bằng phương pháp ,phương tiện nghệ
thuật như thế nào) Ngoài ra cần làm r bài ca dao có mối liên hệ gì với

Trong chương trình Ngữ văn THPT có hai bộ phận văn học: văn học
dân gian và văn học viết. Văn học dân gian chiếm dung lượng khá lớn với
nhiều thể loại phong phú một trong những thể loại học sinh yêu thích đó là ca
dao. Tuy vậy đây cũng là thể loại khó đòi hỏi người giáo viên Ngữ văn phải
có hiểu biết về kiến thức văn học dân gian, có năng lực cảm thụ văn chương
và phương pháp thiết kế bài học , cách tổ chức hoạt động học tập đặc biệt
phải nắm được đặc trưng thể loại để có phương pháp giảng dạy phù hợp giúp
học sinh chủ động tiếp thu kiến thức nhằm đạt hiệu quả cao trong giảng dạy
Trước thực trạng đó đòi hỏi mỗi giáo viên cần phải học tập nghiên
cứu tự bồi dư ng về phương pháp giảng dạy, áp dụng các kĩ thuật dạy học
phù hợp kiểu bài lên lớp và đối tượng học sinh.
4.

i u quả củ S ng iến in ng i

:

Trong quá trình tìm hiểu nghiên cứu về văn học dân gian nói chung và ca
dao nói riêng, ở mỗi thể loại người giáo viên ngữ văn cần xác định r về cách
thức tổ chức giờ học và sử dụng phương pháp giảng dạy phù hợp với kiểu
bài, thể loại thực hiện theo nguyên tắc chung và tinh thần cơ bản của chúng.
Việc đi nghiên cứu về phương pháp giảng dạy ca dao trước hết giúp người
giáo viên có cái nhìn đúng đắn về một thể loại tiêu biểu trong bộ phận văn
học dân gian để từ đó có phương pháp tiếp cận khai thác các giá trị nội dung,
nghệ thuật của tác phẩm không chỉ cung cấp cho học sinh kiến thức cơ bản
về tác phẩm mà còn làm cho tâm hồn người học thêm phong phú, yêu quý
văn học dân gian hiểu được vẻ đẹp tâm hồn của người bình dân xưa qua ca
dao.




- Vận dụng kiến thức về đặc trưng thể loại để phân tích những tác
phẩm cụ thể.
*Kiến thức trọng tâm:
-Tiết 1: Cảm nhận tiếng hát than thân và lời ca yêu thương tình nghĩa qua
bài ca dao số 1,2,3
-Tiết 2: Cảm nhận tiếng hát than thân và lời ca ythương tình nghĩa qua bài ca
dao số 4,5,6
Giáo viên tập trung vào dạy bài ca dao 1,4 6 còn lại các bài 2.3.5 học sinh tự
học theo sự hướng dẫn của giáo viên
2.Kĩ năng:
- R n luyện kĩ năng đọc diễn cảm và phân tích thơ trữ tình dân gian.
3. Thái độ:
- Có thái độ đồng cảm, trân trọng đối với vẻ đẹp tâm hồn người lao
động và yêu quý những sáng tác của họ.
B.Tổ c c giờ c:
1.Kiểm ta bài cũ(3 phút): Y/n phê phán của 2 truyện cười đã học?
2.Khởi động : GV dẫn vào bài, HS lắng nghe.
3.Tổ chức các hoạt động:
O T ĐỘNG CỦA GV- HS

NỘI DUNG CẦN Đ T

Đ 1: Tìm hiểu chung
I.T
iểu c ung:
-Tgian: 7 phút
-Ptiện: SGK
-Ppháp: Giảng, vấn đáp.
Nhắc lại khái niệm ca dao.

GV cho HS thảo luận nhóm 2
trong 2 phút theo câu hỏi: Chia
nhóm các bài ca dao theo chủ
đề?
GV nhận xét, chốt ý.

Đ 3: Đọc hiểu văn bản:
-Tgian: 25 phút
-Ptiện: SGK
-Ppháp: Giảng, vấn đáp.
GV hướng dẫn HS tìm hiểu bài
số 1,2
Hai bài ca dao có những điểm
chung nào?

Tìm những nét riêng của mỗi
bài?
Trong bài ca dao số 1tác giả dg
đã sử dụng thủ pháp nghệ thuật
gì?
Câu thơ thứ 2 muốn thông báo
điều gì? dụng ý của việc xây

thần, t/c của nd trong các mqh gia đình,
XH, đất nước.
II. Đ c v n ản:

1.Đọc:
2.Giải thích từ khó:
3. ố cục:


b. Bài c d
2:
- Hình ảnh so sánh: Thân em- củ ấu gai.
- Đặc điểm: Ruột trong trắng> < vỏ ngoài
đen
Khẳng định phẩm chất tốt đẹp của
người con gái
Trong sự tự ý thức có sự mời mọc tha
thiết và ẩn chứa nỗi xót xa vì giá trị của
mình chưa được ai biết đến.
2. B i c d
3:

Gv
ng dẫn S t
iểu i
2,3
St
c
Tìm ra biện pháp nghệ thuật
được sử dụng trong bài ca dao
số 2? Dụng ý của biện pháp
nghệ thuật này?
Lời mời tha thiết ân cần của cô
gái gợi nhắc tâm trạng gì đang
ẩn chứa trong lòng?
-“T è ê â



mãnh liệt..
Đ 4(2 phút): Củng cố, dặn dò.

*Củng c : Tiếng hát than thân và tiếng
hát yêu thương trong 3 bài ca dao đầu
*Dặn dò: Học bài, chuẩn bị tiết 2.


Tiết 27: Đ c v n.

CA DAO T AN T ÂN YÊU T ƯƠNG TÌN

NG ĨA

Tiế t e )
Ng y
n:
Ng y giảng:
B.Tổ c c giờ c:
1.Kiểm tra bài cũ( 3ph): Chỉ ra điểm giống và khác giữa bài ca dao số 1 và
số 2?
2.Khởi động: GV dẫn vào bài, HS lắng nghe.
3.Tổ chức các hoạt động:
O T ĐỘNG CỦA GV V

S

NỘI DUNG CẦN Đ T



Nỗi thương nhớ người yêu da diết
được bộc lộ qua việc sử dụng các h/a
biểu tượng : Khăn , đ n , mắt
*Hình ảnh chiếc khăn:
Vật trao duyên, vật kỉ niệm gợi nhớ,
quấn quýt bên người con gái cùng chia
sẻ buồn vui với họ.
- “Khăn thương nhớ ai”->lặp lại 3 lần
biện pháp nhân hoá->diễn tả nỗi nhớ
thương triền miên dồn lắng, tích tụ,
làm nổi bật tình trạng bồn chồn nhớ
mong da diết của người đang yêu.
H/a khăn được nhân hoá bộc lộ nỗi
nhớ được lặp lại 6 lần
- Hỏi khăn-> hỏi mình -> hình thức
câu hỏi tu từ: Hỏi để bộc lộ lòng mình.
- iện pháp nghệ thuật liệt kê liên tiếp
+ nghệ thuật đảo thanh và sử dụng
hình ảnh trái chiều: rơi xuống đất ->
ai->Vắt lên vai ->chùi nước mắt thể
hiện nỗi nhớ thương trào dâng dồn dập
da diết
=>Diễn tả một cách cụ thể tinh tế, gợi
cảm, tâm trạng người con gái, tâm
trạng ngổn ngang trăm mối tơ vò ngẩn
ngơ thẫn thờ vì nỗi nhớ đến mức ko


thanh điệu trong sáu câu thơ đầu?
Sau hình ảnh chiếc khăn là hình ảnh

+ Từ hình ảnh khăn->đ n: nỗi nhớ trải
dài theo thời gian từ ngày sang đêm.
+ “Đ n thương nhớ ai”.-> ẩn dụ diễn
tả nỗi nhớ.
+ Đ n không tắt->gợi hình ảnh người
con gái trằn trọc thương nhớ khôn
nguôi
-> khẳng định tình cảm nồng cháy
* Hình ảnh đôi mắt:
+ Thương nhớ
+ Ngủ không yên-> Hình ảnh cô gái
trằn trọc trong giấc ngủ vì nhớ người
yêu. Nỗi nhớ thương được giãi bày
trực tiếp bằng cách tự hỏi mình, hỏi để
khẳng định tình cảm của mình.
Nỗi nhớ xâm chiếm cô gái cả trong
tiềm thức lẫn vô thức. Nỗi nhớ đi vào
chiều sâu trong tâm hồn
=> 10 câu đầu diễn tả nỗi nhớ thể hiện
sự vận động trong ko gian 3 chiều .
Nỗi nhớ trải dài theo thời gian , trải
rộng trong ko gian , đi sâu vào tiềm
thức con người.
- Hàng loạt câu hỏi tu từ không có lời
đáp diễn tả nỗi thương nhớ được nén
chặt trong lòng để rồi cuối cùng trào ra
bằng một niềm lo âu, mênh mông cho
hạnh phúc lứa đôi.
- “Đêm qua …”


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status