Bài giảng luật hiến pháp đh DUY tân p1 - Pdf 40

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN
KHOA XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TỔ LUẬT


LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM
TẬP BÀI GIẢNG

Biên soạn: NGUYỄN VĂN PHỤNG


MỤC LỤC
MỤC LỤC.....................................................................................................................i
BÀI 1
KHÁI QUÁT VỀ
BỘ MÁY NHÀ NƯỚC
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM...................................................................................................................1
1. Khái niệm và đặc điểm của bộ máy nhà nước ....................................................1
2. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ....................................3
3. Hệ thống các cơ quan nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam . . .7
4. Sự phát triển của bộ máy nhà nước Việt Nam qua các Hiến pháp ..................10
BÀI 2
CHẾ ĐỘ BẦU CỬ
.....................................................................................................................................14
1. Khái niệm chế độ bầu cử ...................................................................................14
2. Các nguyên tắc bầu cử .....................................................................................15
3. Quyền bầu cử và ứng cử.....................................................................................17
4. Các qui định về số đại biểu, đơn vị bầu cử và khu vực bỏ phiếu......................19
5. Các tổ chức phụ trách bầu cử ...........................................................................21
6. Trình tự bầu cử và kết quả bầu cử ....................................................................23

HỘI ĐỒNG
NHÂN DÂN VÀ UỶ BAN NHÂN DÂN.................................................................57
A. SƠ LƯỢC VỀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CHẾ ĐỊNH HỘI ĐỒNG
NHÂN DÂN VÀ UỶ BAN NHÂN DÂN.................................................................57

i


B. HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN.....................................................................................59
1. Vị trí, tính chất pháp lý của Hội đồng nhân dân................................................59
2. Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng nhân dân ..............................................60
3. Cơ cấu, tổ chức của Hội đồng nhân dân ...........................................................65
4. Hình thức hoạt động của Hội đồng nhân dân ...................................................67
5. Đại biểu Hội đồng nhân dân...............................................................................69
C. ỦY BAN NHÂN DÂN..........................................................................................70
1. Vị trí, tính chất pháp lý của Ủy ban nhân dân ..................................................70
2. Nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban nhân dân .................................................72
Ví dụ: Đối với đề án phân chia, điều chỉnh địa giới hành chính cấp tỉnh thì Ủy
ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua để đề nghị Chính
phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định.................................................................74
3. Cơ cấu, tổ chức của Ủy ban nhân dân................................................................75
4. Các hình thức hoạt động của Ủy ban nhân dân.................................................76
BÀI 7
TÒA ÁN NHÂN
DÂN VÀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN................................................................80
A. TÒA ÁN NHÂN DÂN..........................................................................................80
1. Vị trí pháp lý, vai trò của Toà án nhân dân .......................................................80
2. Những nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân....................81
3. Cơ cấu tổ chức của hệ thống Toà án nhân dân .................................................86
4. Các Toà án quân sự............................................................................................89

trưng bởi:
- Trình tự thành lập và hoạt động của cơ quan nhà nước, cơ cấu và thẩm
quyền của chúng được pháp luật quy định;
- Có quyền ban hành văn bản pháp luật đề ra các qui định có tính bắt buộc và
cá biệt;
- Các qui định đó được bảo đảm bởi các phương thức thuyết phục, giáo dục,
khuyến khích, tổ chức và được bảo vệ bằng sự cưỡng chế (chế tài) của Nhà nước;
- Có các điều kiện vật chất để tổ chức thực hiện các qui định do cơ quan nhà
nước nói riêng và Nhà nước nói chung ban hành;
Với bốn đặc trưng này - những đặc trưng của quyền lực nhà nước - có thể
cho phép xác định đó là cơ quan nhà nước. Mang quyền hạn nhà nước là dấu hiệu
quan trọng và đặc thù của Cơ quan nhà nước.
 Cơ quan nhà nước là một tổ chức được thành lập và hoạt động theo
những nguyên tắc nhất định.
 Mỗi một cơ quan nhà nước thực hiện các chức năng tương ứng của
mình phù hợp với vị trí, vai trò của nó trong bộ máy nhà nước thông qua các cơ
----------------------------------------------------------------------------------------------------1


Tập bài giảng Luật Hiến pháp Việt Nam 2

quan nhà nước, hoạt động của Nhà nước. Từ đó cho thấy, chức năng của Nhà nước
về cơ bản được thực hiện thông qua chức năng của từng cơ quan nhà nước. Các cơ
quan nhà nước, bằng việc thực hiện chức năng của mình đã đồng thời tham gia vào
việc thực hiện các chức năng khác nhau của Nhà nước.
 Cơ quan nhà nước - để thực hiện chức năng của mình - được trang bị
những phương tiện vật chất cần thiết.
 Cơ quan nhà nước bao giờ cũng biểu hiện ra về mặt vật chất là
những con người cấu thành - là một cá nhân hoặc một nhóm, một tập thể người. Đó
là những người giữ các chức vụ nhà nước và gọi chung là công chức.



Tập bài giảng Luật Hiến pháp Việt Nam 2

những nguyên tắc thống nhất, qua đó thực hiện các chức năng cơ bản của Nhà
nước.

2. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước
Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước là những tư tưởng nền
tảng, những nguyên tắc chủ đạo làm cơ sở cho việc tổ chức và hoạt động của bộ
máy nhà nước. Các nguyên tắc này được hình thành trên cơ sở các học thuyết khoa
học, từ sự đúc kết kinh nghiệm của việc tổ chức nhà nước.
Mỗi một chế độ nhà nước đều có các nguyên tắc tổ chức và hoạt động khác
nhau về bộ máy nhà nước. Và ngay trong bản thân một nhà nước, các nguyên tắc đó
cũng được vận dụng theo từng mức độ khác nhau ở mỗi giai đoạn nhất định và luôn
luôn được bổ sung và hoàn thiện.
Nhà nước ta là Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Bộ máy nhà nước ta đương nhiên
được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung của chế độ xã hội chủ
nghĩa và đồng thời tổ chức bộ máy nhà nước với sự vận dụng phù hợp theo từng
giai đoạn lịch sử và theo từng phần hệ thống trong bộ máy đó. Các nguyên tắc đó
luôn luôn được bổ sung bởi các nhận thức mới và vận dụng thích hợp với từng điều
kiện cụ thể.
2.1. Nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa
Tập quyền là sự tập trung quyền lực nhà nước vào ai đó (cá nhân, cơ quan).
Trong chế độ phong kiến, bộ máy nhà nước về cơ bản là tổ chức theo nguyên tắc
tập quyền chuyên chế - quyền lực nhà nước tập trung tuyệt đối vào tay vua, hoàng
đế. Chính đây là cội nguồn của sự độc đoán chuyên quyền (chuyên chế) của chế độ
phong kiến.
Dần dần, với sự lớn mạnh của giai cấp tư sản, quyền lực của Vua đã bị san sẻ
cho một thiết chế mới được lập ra - Nghị viện.

kiêm nhiệm nên chưa thể thực hiện tất cả các quyền thuộc nội dung quyền lực nhà
nước, Quốc hội vừa tự mình vừa lập ra các cơ quan nhà nước khác và phân giao cho
chúng thực hiện các chức năng, nhiệm vụ nhất định. Điểm mấu chốt là các cơ quan
đó (Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân) phải chịu sự giám sát
(báo cáo công tác) và phải chịu trách nhiệm (bị bãi nhiệm, miễn nhiệm) trước cơ
quan quyền lực nhà nước.
Hiến pháp 1946, nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa mới áp dụng bước đầu
thể hiện ở việc coi Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất, lập ra Chính
phủ, Nội các chịu trách nhiệm trước Nghị viện nhưng các cơ quan khác chưa chưa
hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Nghị viện. Sang Hiến pháp 1959, nguyên tắc này
đã được áp dụng mạnh mẽ, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Hội
đồng chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, chịu trách nhiệm trước Quốc
hội... Đến Hiến pháp 1980, nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa đã được vận
dụng triệt để. Bộ máy nhà nước nước ta đã được xây dựng theo mô hình Nhà nước
Xã hội chủ nghĩa đang hiện hành (Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân
dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Hội đồng Bộ trưởng là cơ quan chấp
hành và hành chính cao nhất của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất v.v...)
Hiện nay, theo tinh thần đổi mới, nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa được
nhận thức lại và vận dụng hợp lý hơn. Đó là: về nguyên tắc quyền lực nhà nước là
thống nhất song có sự phân công, phối hợp giữa các Cơ quan nhà nước trong việc
thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Quan điểm mới này đã được thể
hiển trong xây dựng bộ máy nhà nước tại Hiến pháp 1992. Ở đó Quốc hội vẫn là cơ
quan quyền lực nhà nước cao nhất thực hiện các quyền lập hiến, lập pháp, quyết
định các vấn đề cơ bản của đất nước, giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của
Nhà nước và xã hội; các cơ quan nhà nước khác do Quốc hội thành lập, giám sát
hoạt động và chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Quốc hội chỉ tập trung vào hoạt
động lập pháp và giám sát, còn các cơ quan khác như Chính phủ, Tòa án nhân dân
1

Hiến pháp 1992 (2001), điều 6.

chủ được tăng cường. Hiện nay, tính tập trung được chú trọng trở lại (thể hiện ở
quyền của Thủ tướng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp trên được quyền phê chuẩn
việc bầu cử, miễn nhiệm, cách chức Chủ tịch, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
dưới).
Trong các cơ quan quyền lực nhà nước, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát
nhân dân, nguyên tắc tập trung dân chủ thể hiện theo từng mức độ nhất định.
2.3 Nguyên tắc bình đẳng dân tộc
Trong một Nhà nước có nhiều dân tộc, việc bảo đảm bình đẳng dân tộc là hết
sức cần thiết. Hiến pháp nước ta quy định: “Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước
Việt Nam” (Điều 5 Hiến pháp 1992 (2001)).
Bảo đảm để trong các cơ quan đại diện quyền lực nhà nước (Quốc hội và Hội
đồng nhân dân) các thành phần dân tộc thiểu số có số đại biểu thích đáng (Điều 10
----------------------------------------------------------------------------------------------------5


Tập bài giảng Luật Hiến pháp Việt Nam 2

Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 (2001)); các đại diện dân tộc được chú ý
lựa chọn bầu giữ chức vụ trong chính quyền địa phương.
Có các hình thức tổ chức trong các cơ quan quyền lực nhà nước để thực hiện
lợi ích dân tộc và tham gia quyết định các chính sách dân tộc như Hội đồng dân tộc
trong Quốc hội và các Ban dân tộc trong Hội đồng nhân dân... Các cơ quan này, đặc
biệt là Hội đồng dân tộc không chỉ được quyền thẩm tra, giám sát, kiến nghị về các
vấn đề dân tộc mà còn được quyền tham dự các phiên họp của Ủy ban thường vụ
Quốc hội, các phiên họp của Chính phủ bàn về chính sách dân tộc, được Chính phủ
tham khảo ý kiến khi quyết định các chính sách dân tộc (Điều 94 Hiến pháp 1992
(2001)).
Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng dân tộc, đoàn kết tương trợ giữa các
dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc; thực hiện chính sách phát

của chế độ Nhà nước ta. Cho nên, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng là một nguyên tắc.
Hiến pháp xác định “Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công
nhân Việt Nam, đại biểu trung thành với quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân
dân lao động và của dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,
là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” (Điều 4 Hiến pháp 1992 (2001)).
Nguyên tắc Đảng lãnh đạo Nhà nước thể hiện trên các mặt sau:
- Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước đều dựa trên cơ sở đường lối
chính sách của Đảng, đó là các quan điểm về xây dựng Nhà nước của dân, do dân
và vì dân, về cải cách bộ máy nhà nước, nêu cao vai trò của Quốc hội, Hội đồng
nhân dân, cải cách nền hành chính Nhà nước, cải cách tư pháp.
- Đảng giới thiệu các đảng viên ưu tú để bầu vào các cơ quan nhà nước, bồi
dưỡng, đào tạo để bổ nhiệm các chức vụ quan trọng trong cơ quan nhà nước.
- Pháp luật ghi nhận các tổ chức thích hợp của Đảng trong các cơ quan nhà
nước để thực sự lãnh đạo như các Chi bộ, Đảng bộ, Ban cán sự Đảng, Đảng đoàn...
- Bảo đảm sự thể chế hóa đường lối của Đảng trong các văn bản pháp luật,
như việc xin ý kiến các cơ quan Đảng về các dự luật, pháp lệnh...
- Bảo đảm sự kiểm tra của Đảng đối với hoạt động của các Cơ quan nhà nước.
Hiện nay đang vẫn còn một số thế lực thù địch luôn tìm cách phá hoại công
cuộc xây dựng của đất nước ta, chúng che giấu dưới chiêu bài nhân quyền để can
thiệp một cách thô bạo, trắng trợn vào công việc nội bộ của nước ta chẳng hạn như
ngày 3/5/2000 vừa qua Hạ viện Mỹ thông qua nghị quyết “đòi Việt Nam thả các tù
nhân tôn giáo và tù nhân chính trị, hủy bỏ Điều 4 trong Hiến pháp Việt Nam”. Điều
4- Hiến pháp 1992 (2001) là điều mà nhân dân Việt Nam đã thảo luận một cách dân
chủ, tranh luận công khai và thống nhất để thể hiện ý chí, nguyện vọng của mình
khi lựa chọn Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất lãnh đạo sự nghiệp cách
mạng Việt Nam trong thời chiến cũng như trong thời bình. Bởi vì thế chắc chắn là
không có sự thay đổi về vai trò, vị trí của Đảng trong sự nghiệp lãnh đạo đất nước.

3. Hệ thống các cơ quan nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam


Cơ quan hành chính nhà nước

-

Cơ quan xét xử

-

Cơ quan kiểm sát

 Các cơ quan quyền lực nhà nước bao gồm Quốc hội và Hội đồng
nhân dân (HĐND) các cấp. Đây là những cơ quan do nhân dân trực tiếp bầu ra và
chịu trách nhiệm trước nhân dân. Quốc hội vừa là cơ quan đại biểu cao nhất của
nhân dân vừa là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, còn Hội đồng nhân dân là cơ
quan đại biểu của nhân dân địa phương và là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa
phương.
Quốc hội và Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước duy nhất nghĩa
là chỉ có chúng là cơ quan được nhân dân uỷ quyền (trao quyền lực). Các cơ quan
khác do Quốc hội và Hội đồng nhân dân lập ra không được gọi là cơ quan quyền
lực mà là cơ quan thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được cơ quan quyền lực phân
giao (đương nhiên phải phân giao một cách rõ ràng, ghi nhận trong Hiến pháp ).
Các cơ quan quyền lực nhà nước (nhất là Quốc hội) thể hiện ý chí nhà nước
của nhân dân, nâng ý chí này lên thành pháp luật có giá trị bắt buộc chung; Quốc
hội có thẩm quyền quyết định các vấn đề cơ bản, quan trọng của đất nước đồng thời
còn giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước.
 Cơ quan hành chính nhà nước do Quốc hội (hoặc Hội đồng nhân
dân) thành lập, thực hiện hoạt động quản lý điều hành mang tính dưới luật, chịu sự
giám sát và chịu trách nhiệm trước cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp. Trước
đây, theo Hiến pháp 1980, Hội đồng bộ trưởng được coi là cơ quan chấp hành và cơ

là cơ quan phối hợp các cơ quan nhà nước khác nhau trong bộ máy nhà nước.
Thứ hai theo cơ cấu, vị trí các cơ quan nhà nước có thể sắp xếp các cơ quan
trong bộ máy đó bao gồm: (Cách sắp xếp này được sử dụng trong Hiến pháp 1992)
-

Quốc hội

-

Chủ tịch nước

-

Chính phủ

-

Tòa án nhân dân

-

Viện kiểm sát nhân dân

 Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực
nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội có vị
trí toàn quyền trong bộ máy nhà nước.
 Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước thay mặt nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Trước đây, trong các Hiến pháp
1946 và Hiến pháp 1959 đã có chế định Chủ tịch nước. Đến Hiến pháp 1980 theo
mô hình Nhà nước xã hội chủ nghĩa thịnh hành lúc bấy giờ chức năng đứng đầu

địa phương bao gồm: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân từ cấp tỉnh đến
cấp xã.

4. Sự phát triển của bộ máy nhà nước Việt Nam qua các Hiến pháp
4.1 Bộ máy nhà nước theo Hiến pháp 1946
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi, lật đổ chế độ thực dân giành độc
lập dân tộc, thủ tiêu chế độ quân chủ lập hiến để lập nên nền cộng hòa.
Ngay sau thắng lợi, Chính phủ lâm thời đã được thành lập, trước đó là Ủy ban
dân tộc giải phóng do Quốc dân đại hội họp ở Tân Trào bầu ra. Ở địa phương thiết
lập các chính quyền nhân dân là các Ủy ban nhân dân cách mạng và Ủy ban công
nhân cách mạng. Thời gian sau đó các cơ quan chính quyền địa phương được tổ
chức lại dưới hình thức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính.
Hiến pháp 1946 được Quốc hội lập hiến thông qua tại kỳ họp thứ hai. Hiến
pháp đã xây dựng một bộ máy nhà nước theo mô hình dân chủ nhân dân.
----------------------------------------------------------------------------------------------------10


Tập bài giảng Luật Hiến pháp Việt Nam 2

Ở Trung ương bộ máy nhà nước bao gồm các cơ quan Nghị viện nhân dân,
Chính phủ, Tòa án tối cao. Nghị viện nhân dân do nhân dân trực tiếp bầu ra, có
quyền giải quyết những vấn đề chung, quan trọng của đất nước, ban hành pháp luật,
biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài. Nghị
viện nhân dân lập ra Chính phủ, thông qua Ban thường vụ để kiểm soát và phê bình
Chính phủ.
Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc do Chủ tịch nước
đứng đầu. Thành phần Chính phủ bao gồm Chủ tịch nước, Phó chủ tịch nước và
nội các. Nội các có Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thứ trưởng, có thể có Phó thủ
tướng. Chính phủ lúc này chưa hoàn toàn là cơ quan chấp hành của nghị viện,
ngược lại còn có thể phủ quyết các luật của nghị viện (Điều 31). Tuy nhiên nếu nội


Tập bài giảng Luật Hiến pháp Việt Nam 2

Ở địa phương, cơ quan chính quyền địa phương ở tất cả các cấp hành
chính đều thành lập Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính.
Hệ thống Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân đến đây được tổ
chức theo lãnh thổ. Tòa án nhân dân gồm có Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án
nhân dân địa phương và Tòa án quân sự. Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án nhân
dân địa phương do Quốc hội và Hội đồng nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước
cơ quan đó.
Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát nhân dân địa phương và Viện kiểm sát quân sự. Hệ thống này tổ
chức các hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất, lãnh đạo trong ngành,
không chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cấp ấy mà chỉ có Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm báo cáo trước Quốc hội.
Chủ tịch nước được chọn bầu trong nhân dân, có vai trò phối hợp với các Cơ
quan nhà nước. Hội đồng Chính phủ tuy đã xác định là cơ quan chấp hành của Quốc
hội song vẫn là cơ quan hành chính cao nhất của nước ta chứ không phải là của
Quốc hội như Hiến pháp 1980 sau này.
4.3 Bộ máy nhà nước theo Hiến pháp 1980
Đến Hiến pháp 1980, bộ máy nhà nước ta đã được thiết kế theo đúng mô hình
bộ máy nhà nước kiểu xã hội chủ nghĩa thịnh hành lúc bấy giờ ở các nước xã hội
chủ nghĩa như ở Liên Xô, các nước Đông Âu, Trung Quốc... Nguyên tắc tập quyền
xã hội chủ nghĩa đã được vận dụng một cách triệt để.
Ở Trung ương, Quốc hội được xác định một cách đầy đủ hơn về mặt tính chất
cũng như thẩm quyền theo hướng là cơ quan có toàn quyền (Điều 82). Theo mô
hình cơ chế tập quyền xã hội chủ nghĩa, chế định Chủ tịch nước cá nhân được thiết
kế lại sao cho gắn bó với Quốc hội. Hội đồng nhà nước được thiết lập là cơ quan
cao nhất hoạt động thường xuyên của Quốc hội, là chủ tịch tập thể của nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Các cơ quan khác được lập ra nhất định phải chịu sự giám sát, chịu trách nhiệm
trước Quốc hội. Đây là các mặt bảo đảm thống nhất quyền lực.
Sự phân công, phối hợp thể hiện ở chỗ quy định phạm vi, chức năng nhiệm vụ
của từng cơ quan một cách rõ ràng. Chẳng hạn như, Quốc hội vẫn có quyền quyết
định các vấn đề cụ thể song chỉ là những vấn đề quan trọng. Chính phủ là cơ quan
chấp hành của cơ quan quyền lực song là cơ quan quản lý nhà nước cao nhất, tức
là có sự độc lập tương đối trong lĩnh vực hành chính. Chế định Chủ tịch nước được
lập lại để phân định rõ chức trách giữa Chủ tịch nước và Ủy ban thường vụ Quốc
hội. Chính quyền địa phương quy định rõ hơn mối liên hệ giữa Hội đồng nhân dân,
Ủy ban nhân dân với các Cơ quan nhà nước cấp trên...
Ngoài ra, trong tổ chức Chính phủ và Ủy ban nhân dân còn có sự phân định rõ
tính tập thể và trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu, cũng như đã xác định rõ
quyền giám sát của Hội đồng nhân dân đối với Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát
nhân dân cùng cấp.
* Theo Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001, bộ máy nhà nước cơ bản
vẫn không có gì thay đổi về mặt tổ chức, chỉ có việc giới hạn phạm vi kiểm sát của
Viện kiểm sát nhân dân trong phạm vi kiểm sát các hoạt động tư pháp để tập trung
hơn nữa công tác kiểm sát tuân theo pháp luật của cơ quan này và thực hiện tốt
chức năng công tố.

----------------------------------------------------------------------------------------------------13


Tập bài giảng Luật Hiến pháp Việt Nam 2

BÀI 2
CHẾ ĐỘ BẦU CỬ
1. Khái niệm chế độ bầu cử
Ở nước ta tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Song không phải mọi người
dân đều có thể thực hiện tất cả quyền lực của mình mà họ cần phải bầu ra các cơ

ra, cho nên đây là cơ quan quyền lực nhà nước tối cao, Quốc hội thay mặt nhân dân,
giải quyết các công việc quan trọng của đất nước, từ việc ban hành Hiến pháp và
pháp luật, cho đến việc thành lập ra các cơ quan nhà nước khác...
----------------------------------------------------------------------------------------------------14


Tập bài giảng Luật Hiến pháp Việt Nam 2

Với tầm quan trọng như vậy, cho nên ngay từ khi mới thành lập Nhà nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh tiến hành các
cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.
Về phương diện pháp luật, chế độ bầu cử còn được hiểu là một chế định
quan trọng nằm trong hệ thống ngành luật hiến pháp, bao gồm các quy phạm
phâp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội liên quan đến bầu cử, quyền ứng cử
vă các qui trình để tiến hành bầu cử từ lúc lập danh sách cử tri cho đến khi xác
định kết quả bầu cử.

2. Các nguyên tắc bầu cử
Với tính chất quan trọng của vấn đề bầu cử như vậy, pháp luật bầu cử của
chúng ta được xây dựng trên một số nguyên tắc nhất định. Việc bầu cử đại biểu ở
nước ta được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ
phiếu kín. Các nguyên tắc đó thống nhất với nhau, bảo đảm cho cuộc bầu cử khách
quan, dân chủ, thể hiện đúng nguyện vọng của cử tri khi lựa chọn.
2.1. Nguyên tắc phổ thông
Nhà nước ta được xác định là Nhà nước của dân, người dân làm chủ trong
việc bầu ra những người đại diện cho mình. Vì vậy, Nhà nước phải tạo điều kiện
thuận lợi cho mọi người dân đều có thể tham gia bầu cử. Đây là nguyên tắc quan
trọng nhất trong chế độ bầu cử của mỗi nhà nước nói chung, và của Nhà nước ta nói
riêng. Mức độ dân chủ của mỗi xã hội được thể hiện chủ yếu và cơ bản thông qua
nguyên tắc này.

theo qui định của luật bầu cử thì được lập danh sách cử tri.
Nguyên tắc bình đẳng bảo đảm để mọi công dân có khả năng như nhau trong
việc tham gia bầu cử, nghiêm cấm mọi sự phân biệt dưới bất cứ hình thức nào.
Nguyên tắc bình đẳng nhằm bảo đảm sự khách quan, trung thực trong bầu cử.
Nguyên tắc này thể hiện ở việc qui định số lượng dân như nhau thì được bầu số đại
biểu bằng nhau; mỗi cử tri được ghi tên vào danh sách ở một nơi cư trú, mỗi người
chỉ được ghi tên ứng cử ở một đơn vị bầu cử, mỗi cử tri chỉ được bỏ phiếu một lần.
Để bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, nhà nước có các biện pháp bảo đảm để
đồng bào dân tộc cũng như phụ nữ có số đại biểu thích đáng trong Quốc hội và
thích đáng trong Hội đồng nhân dân các cấp.
2.3. Nguyên tắc bầu cử trực tiếp
Nguyên tắc này bảo đảm để cử tri trực tiếp lựa chọn người đủ tín nhiệm vào
cơ quan quyền lực nhà nước bằng lá phiếu của mình không qua khâu trung gian.
Cùng với các nguyên tắc khác, nguyên tắc này là điều kiện cần thiết bảo đảm tính
khách quan của bầu cử.
Trên cơ sở nguyên tắc bầu cử trực tiếp, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và
Luật bầu cử Hội đồng nhân dân ở nước ta có một loạt qui định nhằm bảo đảm để cử
tri trực tiếp thể hiện nguyện vọng của mình từ khâu đề cử, ứng cử đến khâu bỏ
phiếu. Đó là cử tri tự mình đi bầu, tự tay mình bỏ phiếu vào thùng phiếu; không
được nhờ người khác đi bầu thay mình, không được bầu bằng cách gửi thư.
2.4. Nguyên tắc bỏ phiếu kín
Nguyên tắc này bảo đảm cho cử tri tự do lựa chọn, để sự lựa chọn đó không
bị ảnh hưởng bởi những điều kiện và yếu tố bên ngoài. Pháp luật qui định rõ việc bố
trí nơi viết phiếu phải kín, không có ai được đến xem trong lúc cử tri viết phiếu, (trừ
một số trường hợp do luật định cần phải có người viết thay hoặc giúp bỏ phiếu xem Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 (2001, 2010) và Luật bầu cử Hội
đồng nhân dân năm 2003 (2010)).
Bầu cử là hoạt động có tính chất dân chủ. Hoạt động này luôn luôn gắn liền
với nguyên tắc công khai. Tất cả mọi công đoạn của bầu cử phải diễn ra công khai,
nhưng chỉ riêng công đoạn bỏ phiếu thì phải diễn ra trong phòng kín, không có sự
----------------------------------------------------------------------------------------------------16

- Người đang trong thời kỳ bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định đã
có hiệu lực của Toà án nhân dân.
- Người đang chấp hành hình phạt tù.
- Người đang bị bắt, đang bị tạm giữ, tạm giam theo qui định của pháp luật.
- Người bị mất năng lực hành vi dân sự.
Ở nước ta, quyền bầu cử được coi là quyền chính trị quan trọng, là vinh dự
và nhiệm vụ của công dân. Công dân thực hiện quyền này một cách tự nguyện. Vì
vậy, các cuộc bầu cử có số cử tri tham gia rất đông (thường khoảng trên 80%). Có
một số nước, bỏ phiếu không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ bắt buộc (Mê-hi-cô,
I-ta-li-a).

----------------------------------------------------------------------------------------------------17


Tập bài giảng Luật Hiến pháp Việt Nam 2

3.2 Quyền ứng cử
Quyền ứng cử là qui định của pháp luật về khả năng của công dân thể
hiện nguyện vọng của mình được bầu làm đại biểu. Về nguyên tắc so với quyền
bầu cử, quyền ứng cử được pháp luật đòi hỏi cao hơn về chất. Mọi công dân Việt
Nam có quyền bầu cử (theo điều kiện luật định) đủ 21 tuổi trở lên thì mới có quyền
ứng cử.
Quyền ứng cử của công dân thể hiện ở sự chấp thuận để người khác đề cử
mình hoặc tự mình ra ứng cử.
Ngay từ khi Nhà nước ta ra đời đến nay, pháp luật đã có những qui định về
quyền ứng cử của công dân. Điều 12 của Sắc lệnh số 51 ghi rõ “Người ứng cử được
tự do ứng cử nơi mình chọn lấy nhưng chỉ một nơi ấy mà thôi”. Hiến pháp 1946 và
Hiến pháp 1959 đều qui định quyền ứng cử của công dân. Nhưng cùng với việc xây
dựng quyền làm chủ tập thể, Hiến pháp 1980 đã coi quyền ứng cử như một quyền
thụ động và chỉ là khả năng “có thể được bầu” của công dân. Thực hiện chủ trương

- Đang bị khởi tố về hình sự.
- Đang chấp hành bản án, quyết định hình sự của toà án.
- Người đã chấp hành xong bản án, quyết định hình sự của toà án nhưng chưa
được xoá án.
- Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính về giáo dục tại xã, phường, thị
trấn, tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh hoặc đang bị quản chế hành chính.
Trong việc thực hiện quyền ứng cử của công dân, pháp luật hiện hành qui
định công dân có quyền bầu cử, ứng cử. Nhưng để được ghi tên vào danh sách ứng
cử công dân Việt Nam phải được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiệp thương giới
thiệu.
Pháp luật nhiều nước trên thế giới có các qui định về các điều kiện ứng cử.
Các điều kiện đó tập trung chủ yếu vào qui định không được kiêm nhiệm một số
chức vụ nhà nước nhất định, quy định thời hạn cư trú, qui định về giá trị tài sản và
việc đặt cọc tiền. Để thực hiện quyền ứng cử, công dân các nước đó phải được một
đảng giới thiệu và thu thập một số lượng chữ ký những người ủng hộ mình.

4. Các qui định về số đại biểu, đơn vị bầu cử và khu vực bỏ phiếu
4.1. Tổng số đại biểu Quốc hội
Để Quốc hội làm tròn chức năng của mình, Quốc hội cần có một số lượng
đại biểu thích hợp.
Tổng số đại biểu được qui định trên cơ sở:
- Yêu cầu nhiệm vụ Quốc hội
- Tỷ lệ dân mà đại biểu đại diện
- Khả năng tài chính mà nhà nước có thể bảo đảm để đại biểu hoạt động
Nước ta có tổng số đại biểu được qui định đủ bảo đảm cơ cấu, thành phần
đại diện trong toàn dân nhằm phản ánh khối đại đoàn kết dân tộc, đảm bảo hiệu lực
và hiệu quả hoạt động của Quốc hội.
Có hai cách ấn định tổng số đại biểu Quốc hội: ấn định tổng số theo tỷ lệ dân
và ấn định con số cụ thể trong luật bầu cử. Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1992
đã qui định “Tổng số đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

đại biểu Hội đồng nhân dân. Mỗi ứng cử viên chỉ được lập danh sách ở một đơn vị
bầu cử. Đơn vị bầu cử Quốc hội thường được chia theo quận, huyện. Mỗi đơn vị
bầu cử có thể là một quận, huyện hoặc từ hai đến ba quận, huyện tùy thuộc vào số
lượng dân cư.
4.4. Khu vực bỏ phiếu
Là phạm vi dân cư nhỏ gồm số lượng cử tri nhất định nằm trong đơn vị bầu
cử, đây là nơi trực tiếp tiến hành bỏ phiếu bầu đại biểu.
Mỗi đơn vị bầu cử được chia thành một hoặc nhiều khu vực bỏ phiếu, mỗi
khu vực bỏ phiếu gồm từ 300 đến 4000 cử tri. Riêng ở những nơi như miền núi, hải
đảo hay những nơi dân cư không tập trung thì dù chưa có tới 300 cử tri cũng được
thành lập một khu vực bỏ phiếu riêng, đơn vị vũ trang nhân dân cũng thành lập khu
vực bỏ phiếu riêng cho mình trừ trường hợp đơn vị vũ trang nhân dân và địa phương có
chung một khu vực bỏ phiếu.

Bệnh viện, nhà hộ sinh, nhà an dưỡng, cơ sở chăm sóc người khuyết tật, cơ
sở chăm sóc người cao tuổi có từ năm mươi cử tri trở lên có thể thành lập khu vực
bỏ phiếu riêng.
Cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh đối với những người đang chấp hành quyết
định xử lý hành chính có thể thành lập khu vực bỏ phiếu riêng.

----------------------------------------------------------------------------------------------------20


Tập bài giảng Luật Hiến pháp Việt Nam 2

Việc chia khu vực bỏ phiếu do Uy ban nhân dân xã, phường, thị trấn ấn định
và phải được Uy ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn.

5. Các tổ chức phụ trách bầu cử
Để phụ trách việc tổ chức bầu cử Quốc hội, trong mỗi cuộc bầu cử đều


----------------------------------------------------------------------------------------------------21


Tập bài giảng Luật Hiến pháp Việt Nam 2

Danh sách Ủy ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân
dân cấp tỉnh phải được báo cáo lên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Uỷ
ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Hội đồng bầu cử.
* Nhiệm vụ quyền hạn của Ủy ban bầu cử đối với bầu cử đại biểu Quốc hội
được quy định cụ thể tại điều 15 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 (2001,
2010).
* Nhiệm vụ quyền hạn của Ủy ban bầu cử đối với bầu cử đại biểu Hội đồng
nhân dân được quy định cụ thể tại điều 16 Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân
năm 2003 ( 2010).
5.2 Ban bầu cử
 Đối với bầu cử đại biểu Quốc hội
Chậm nhất là sáu mươi ngày trước ngày bầu cử, Uỷ ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng
nhân dân và Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định
thành lập ở mỗi đơn vị bầu cử một Ban bầu cử từ chín đến mười lăm người gồm
Trưởng ban, các Phó Trưởng ban, Thư ký và các uỷ viên là đại diện Thường trực
Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, một số
cơ quan, tổ chức hữu quan.
* Nhiệm vụ quyền hạn của Ban bầu cử đại biểu Quốc hội được quy định cụ
thể tại điều 16 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 (2001, 2010).
 Đối với bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân
Chậm nhất là bốn mươi lăm ngày trước ngày bầu cử đại biểu Hội đồng nhân
dân, Uỷ ban nhân dân sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và
Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status