SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"NÂNG CAO KHẢ NĂNG NHỚ CÁC PHÉP TÍNH CỘNG, TRỪ,
NHÂN, CHIA TRONG BẢNG CHO HỌC SINH YẾU LỚP 1,2,3
THÔNG QUA VIỆC SỬ DỤNG KỸ THUẬT DẠY HỌC PHỐI HỢP
THỂ DỤC THỂ THAO"
1. TÓM TẮT ĐỀ TÀI:
Phần lớn trẻ em, khả năng học tập, nhận thức được phát triển tương ứng với độ tuổi. Các
em phát triển đồng thời cả kiến thức lẫn kĩ năng trong các môn học ở trường và các hoạt
động sống tại gia đình. Tuy nhiên thực tế vẫn tồn tại một số ít trẻ có sự phát triển không
cân bằng trong việc ứng dụng kiến thức và kĩ năng tại hai môi trường này. Có trẻ rất
nhanh nhẹn, tháo vát trong sinh hoạt hằng ngày nhưng lại chậm chạp trong học tập. Có
trẻ học đọc, viết tốt nhưng tính toán lại gặp khó khăn. Đặc biệt , có trẻ đọc và diễn đạt
bằng ngôn ngữ nói rất tốt nhưng không thể trình bày đúng một bài viết đơn giản. Những
trẻ như vậy, năng lực nhận thức có thể đạt ở mức trung bình, hoặc trên trung bình nhưng
lại gặp rất nhiều khó khăn trong học tập các môn văn hóa đặc biệt trong môn Toán và
Tiếng Việt.
Học sinh yếu là học sinh có sự biểu hiện sự mất cân đối giữa trí thông minh thực tế và trí
thông minh học tập (kết quả học tập tại trường). Có nhiều dạng học sinh học yếu môn
toán như: Học yếu về các phép tính, yếu về đo lường, yếu về khả năng giải toán, yếu về
toán hình… nhưng theo đề tài này tôi chỉ đi tìm hiểu về khả năng ghi nhớ của học sinh
yếu lớp 1,2,3, khi học thuộc các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong bảng.
Trong việc đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung
tâm được nhiều người biết đến đó là sử dụng các kĩ thuật dạy học như: Kĩ thuật đưa câu
hỏi, kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật nhóm, kĩ thuật động não, kĩ thuật trình bày một phút
..... Qua đề tài này, một kỹ thuật dạy học nữa được nghiên cứu đưa vào sử dụng đó là kỹ
thuật phối hợp thể dục thể thao. Kỹ thuật này được coi là một nội dung học tập, một hoạt
động không thể thiếu trong mỗi giờ học nhất là giờ học môn toán về các phép tính cộng,
Lớp 1A, 1B, 1C, 1D Trường tiểu Lớp 1A, 1B, 1C, 1D Trường tiểu
học Ba Cụm Bắc
học Sơn Trung;
Lớp 2A, 2B, 2C,
họcBa Cụm Bắc
Trường Tiểu Lớp 2A, 2B, 2C Trường Tiểu học
Sơn Trung;
Lớp 3A, 3B, Trường tiểu học Ba Lớp 3A, 3B Trường tiểu học Sơn
Cụm Bắc
Trung
03
Nhóm thực nghiệm được thực hiện giải pháp thay thế từ tuần 12,13, 14, 15 đến hết tuần
16. Kết quả cho thấy tác động đã có ảnh hưởng rõ rệt đến việc rèn nhớ các phép tính
cộng, trừ, nhân, chia trong bảng của học sinh yếu lớp 1,2,3 Trường tiểu học Ba Cụm Bắc.
Điểm bài kiểm tra sau tác động của nhóm thực nghiệm có giá trị trung bình là 5,5; Điểm
bài kiểm tra sau tác động của nhóm đối chứng 4,6; Kết quả kiểm chứng t-test cho thấy
p= 0,00002 < 0,05 có nghĩa là có sự khác biệt lớn giữa điểm trung bình của nhóm thực
nghiệm và nhóm đối chứng. Điều đó chứng minh rằng sử dụng Kỹ thuật dạy học phối
hợp thể dục thể thao đã góp phần nâng cao khả năng nhớ các phép tính cộng, trừ, nhân
chia trong bảng của học sinh yếu.
2. GIỚI THIỆU:
Hiện trạng tại 2 nhóm học sinh yếu lớp 1,2,3 của trường tiểu học Ba Cụm Bắc và
trường tiểu học Sơn Trung học sinh nhớ các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong bảng
chỉ thông qua sự ghi nhớ áp đặt, học thuộc theo cách nhẩm hoặc nhìn bảng cộng, trừ,
nhân, chia theo sự xóa dần của giáo viên và học một cách ê a.
Các em thường khó nhớ được các thông tin qua thị giác và thính giác.
dạy học phối hợp thể dục thể thao được tổ chức xuyên suốt trong từng hoạt động. Việc
làm này có tác dụng rèn khả năng nhớ cho học sinh đồng thời rèn cho các em sự tự tin,
mạnh dạn trong quá trình học toán.
Vấn đề nghiên cứu: thông qua việc sử dụng kỹ thuật dạy học phối hợp thể dục thể thao
có nâng cao khả năng nhớ các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong bảng cho học sinh
yếu lớp 1, 2, 3 huyện Khánh Sơn không?
Giả thuyết nghiên cứu: Thông qua việc sử dụng kỹ thuật dạy học phối hợp thể dục thể
thao sẽ nâng cao khả năng nhớ các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong bảng cho học
sinh yếu lớp 1, 2, 3 huyện Khánh Sơn.
- Tác dụng của kĩ thuật dạy học phối hợp thể dục thể thao: Đối với học sinh tiểu học, thể
dục thể thao vẫn là một thành tố quan trọng trong hoạt động của học sinh. Vì vậy, việc sử
dụng kĩ thuật dạy học phối hợp thể dục thể thao có một số tác dụng sau:
+ Làm thay đổi hình thức hoạt động học tập tạo ra bầu không khí trong lớp học trở nên dễ
chịu, thoải mái hơn, học sinh nhớ các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong bảng tích cực
hơn. Học sinh thấy vui hơn, cởi mở hơn, thư thái, dễ chịu và khoẻ hơn.
+ Giúp học học sinh yếu rèn luyện khả năng ghi nhớ, tự tin hơn khi học môn toán.
+ Đối với học sinh yếu không có phương tiện nào giúp các em phát triển một cách tự
nhiên có hiệu quả, rèn sự tự tin trong học toán bằng việc sử dụng kĩ thuật dạy học phối
hợp thể dục thể thao. Qua kĩ thuật dạy học phối hợp thể dục thể thao các em được tham
gia vào các hoạt động học tập tích cực hơn. Kĩ thuật day học phối hợp thể dục thể thao
không chỉ là phương tiện mà còn là phương pháp giáo dục học sinh yếu.
- Kỹ thuật dạy học phối hợp thể dục thể thao được giới hạn bởi không gian và thời
gian. Mục đích và nội dung của mỗi kiến thức phụ thuộc vào người tổ chức thực hiện.
Mặt khác, dù bất k quy mô thực hiện theo nhóm nhỏ hay lớn hay như thế nào, thì kỹ
thuật dạy học phối hợp thể dục thể thao c ng phải có một thời gian nhất định: thời gian
chuẩn bị, thời gian nghe, nhìn, thời gian thực hiện thử.
- Quy trình các bước tiến hành cách sử dụng kỹ thuật dạy học phối hợp thể dục thể thao
có hiệu quả như sau: Gồm 5 bước
* Giáo viên:
Hai nhóm giáo viên đang giảng dạy các lớp 1,2,3 ở trường tiểu học Ba Cụm Bắc và
Trường tiểu học Sơn trung có số lượng học sinh yếu như nhau; Các giáo viên đều có trình
độ đào tạo là THSP 12+2 và Cao đẳng tiểu học, được nhà trường xếp loại chuyên môn
khá giỏi và giảng dạy các lớp 1,2,3 nhiều năm.
- Nhóm thực nghiệm:
1. Cô: Đào Thị Tuệ , Lương Thị Ruyên, Lê Thị Kim Cúc, Nguyễn Thị Ngọc Bích (dạy
lớp 1 Trường tiểu học Ba Cụm Bắc)
2. Trần Thị Cải, Lê Thị Hoa, Mấu Vinh (dạy lớp 2, Trường tiểu học Ba Cụm Bắc)
3. Cô: Trần Ngọc Xuân Huyền, Lê Thu Phương, Cao Điệp Phóng (dạy lớp3, Trường tiểu
học Ba Cụm Bắc).
- Nhóm đối chứng:
1. Cô: Nguyễn Thị Lương, Cao Thị Mai, Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Đặng Thị huqoqng
(dạy lớp 1Trường tiểu học Sơn Trung)
2. Cô: Nguyễn Thị Loan, Nguyễn Thái Quang, Tro Thị Cúc (dạy lớp 2 Trường tiểu học
Sơn Trung)
3. Cô: Lê thị Thanh Hưng và Cao Thị Đại (dạy lớp3 Trường tiểu học Sơn Trung).
* Học sinh:
Đối tượng nghiên cứu là hai nhóm học sinh yếu lớp 1,2,3 của hai trường Tiểu học Ba
Cụm Bắc và Tiểu học Sơn Trung. Nhóm thực nghiệm là 35 học sinh học sinh yếu lớp
1,2,3 Trường Tiểu học Ba Cụm Bắc; Nhóm đối chứng là 35 học sinh học sinh yếu lớp
1,2,3 Trường Tiểu học Sơn Trung. Hai nhóm được chọn tham gia nghiên cứu có nhiều
điểm tương đồng nhau về số lượng, trình độ, giới tính, thành phần dân tộc, về đúng độ
tuổi về số học sinh yếu lưu ban...
Cụ thể như sau:
Bảng 1
Số HS các nhóm
35
26
9
0
35
27
8
Nhóm
3.2. Thiết kế nghiên cứu
Chọn hai nhóm học sinh yếu lớp 1,2,3. Nhóm thực nghiệm là 35 học sinh yếu Trường
tiểu học Ba Cụm Bắc và nhóm đối chứng là 35 học sinh yếu Trường tiểu học Sơn Trung.
Chúng tôi kiểm tra trước tác động hiệu quả tiết dạy thông qua các tiết dự giờ của giáo
viên. Kết quả cho thấy điểm trung bình của hai nhóm có sự khác nhau, do đó tôi dùng
phép kiểm chứng T-test để kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm số trung bình của hai
nhóm trước tác động.
Kết quả:
Bảng 2 : Kiểm chứng để xác định các nhóm tương đương
Thực nghiệm
Đối chứng
Tổ chức cho học sinh học
thông qua kỹ thuật phối hợp 03
thể dục thể thao
02
Không tác động
04
Ở thiết kế này tôi sử dụng phép kiểm chứng T.tes độc lập.
3.3. Quy trình nghiên cứu
Chuẩn bị bài của giáo viên:
+ Nhóm đối chứng vẫn dạy theo kế hoạch bài học như bình thường.
+ Nhóm thực nghiệm: Tiến hành tác động: giáo viên lớp 1,2,3 của nhóm thực nghiệm
được tập huấn và được hướng dẫn cách dạy học phối hợp thể dục thể thao, đồng thời
hướng dẫn thiết kế kế hoạch bài học có sử dụng kỹ thuật phối hợp thể dục thể thao. Trong
tiết dạy giáo viên sử dụng kỹ thuật dạy học phối hợp thể dục thể thao ở các hoạt động:
kiểm tra bài c , dạy bài mới và hoạt động củng cố bài.
Cách sử dụng kỹ thuật dạy học phối hợp thể dục thể thao ở hoạt động kiểm tra bài c
(nếu học sinh tiết trước đã học Phép cộng trong phạm vi 8), thì cách tiến hành kiểm tra
như sau: Kiểm tra 4 hoặc 2 em (tùy vào số lượng học sinh yếu của lớp), giáo viên dùng
hình thức thể thao chơi chuyền bóng (4 em) hoặc chơi đánh bóng bàn, đánh cầu lông (2
em) ...; Khi một học sinh chuyền bóng cho bạn thì nêu một phép tính đã học (7 cộng 1
bằng mấy), bạn nhận bóng phải nói ngay kết quả của bạn vừa chuyền cho mình (bảy cộng
1 bằng 8) và ra một phép tính khác hoặc nói lại phép tính bạn vừa nêu (1 cộng 7 bằng
mấy) rồi chuyền bóng cho bạn tiếp theo, cứ như thế cho đến bạn cuối cùng. Thời gian
3.4. Đo lường và thu thập dữ liệu
- Bài kiểm tra trước tác động là bài kiểm tra hiệu quả tiết dạy
- Bài kiểm tra sau tác động c ng là bài kiểm tra hiệu quả tiết dạy nhưng được thiết kế
theo một kế hoạch bài học riêng. Bài kiểm tra sau tác động gồm 4 câu, học sinh vận dụng
các phép tính đã học thuộc để làm tính.
Sau khi học sinh học hết tuần 16 của chương trình, tôi tiến hành kiểm tra 1 tiết (nội dung
kiểm tra được đính kèm ở phần mục lục).
4. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ
Sau thời gian tiến hành tác động (5 tuần), tiến hành cho học sinh 2 nhóm (thực nghiệm và
đối chứng) làm bài kiểm tra sau tác động (c ng là bài kiểm tra kiến thức các phép tính
cộng, trừ, nhân, chia trong bảng thông qua tiết dạy có lồng ghép các kỹ thuật dạy học
phối hợp thể dục thể thao.
Trên cơ sở kết quả thu được, chúng tôi tiến hành phân tích dữ liệu qua các thông số: Tính
giá trị chênh lệch qua giá trị trung bình của các bài kiểm tra trước và sau tác động
Bảng so sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động
Thực nghiệm
Đối chứng
Điểm trung bình
5.5
4,6
Độ lệch chuẩn
0,8
Biểu đồ so sánh điểm trung bình trước tác động và sau tác động
của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng
6
5
4
3
Trước tác động
Sau tác động
2
1
0
Nhóm thực
nghiệm
Nhóm đối
chứng
5. BÀN LUẬN
- Cơ sở để lựa chọn các đối tượng học sinh để nghiên cứu cho đề tài là:
+ Cùng học một chương trình như nhau (175 tuần).
+ Điều kiện học tập như nhau (mỗi trường đều có 1 điểm chính và 2 điểm trường
lẽ).
+ Ý thức học tập như nhau.
+ Trình độ như nhau, vốn tiếng việt như nhau.
+ Giáo viên đang giảng dạy các lớp 1,2,3 nhiệt tình, gần g i, quan tâm đến học sinh như
nhau và có trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm như nhau ( THSP 12+ 2 và Cao
đẳng Sư phạm, xếp loại khá, tốt).
cao khả năng nhớ tốt các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong bảng. Các em học sinh yếu
lớp 1,2,3 đã biết vận dụng vào trong quá trình thực hiện tính nhanh hơn, ít sai soát hơn.
Mặc khác, thông qua việc sử dụng kỹ thuật dạy học phối hợp thể dục thể thao giúp các
em học sinh yếu lớp 1,2,3 mạnh dạn, tự tin khi giao tiếp với các bạn trong lớp, với các
bạn lớp khác. Đặc biệt chất lượng học các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong bảng
được nâng lên rõ rệt.
* Khuyến ngh :
Các Trường tiểu học cần chỉ đạo đến tất cả giáo viên từ lớp 1 đến lớp 5 kể cả giáo viên
giảng dạy các lớp có học sinh khuyết tật học hòa nhập thường xuyên vận dụng các kỹ
thuật dạy học vào trong các tiết học nhất là kỹ thuật phối hợp thể dục thể thao.
Giáo viên phải có sự nhiệt tình, luôn có tinh thần trách nhiệm cao, phải hết lòng vì học
sinh thân yêu của chúng ta. Đồng thời giáo viên phải thường xuyên thay đổi các hình
thức tổ chức dạy học trong một tiết học và biết phối kết hợp các kỹ thuật dạy học đã được
triển khai vào trong quá trình giảng dạy của mình, tác động đến tất cả đối tượng học sinh
trong lớp, và quan tâm nhiều đến các em học sinh yếu.
7. TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Tan, C. (2008) Tài liệu tập huấn Nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học dành cho
giảng viên sư phạm 14 tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam. Dự án Việt Bỉ - Bộ GD&ĐT.
Mạng
Internet:
;
thuvienbaigiangdientu.bachkim.com; giaovien.net.
thuvientailieu.bachkim.com;
- Tài liệu dạy học lấy học sinh làm trung tâm.
- Phương pháp dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc cấp tiểu học (Tài liệu bồi dư ng giáo
viên) - Nhà xuất bản giáo dục.
kỹ thuật đặt câu hỏi, kỹ thuật nhóm, kỹ thuật trình bày 1 phút, kỹ thuật phối hợp thể dục
thể thao
III. HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC:
1. Khởi động : (1’) Lớp hát
2. Bài c : (4’) Gọi 2 hs lên bảng làm bài, lớp làm bảng con, nhận xét
8+3
6+2
8
5
4+4
8–0
6
7
- Kiểm tra vở BT hs, nhận xét
Học sinh yếu sử dụng chơi thể thao đánh cầu lông để kiểm tra phép trừ trong phạm vi 8.
- Nhận xét bài c .
3. Dạy bài mới:
Hoạt động của GV
Hoạt động 1: Giới thiệu bài
Hoạt động của HS
2 học sinh nhắc đề bài
+ Mấy quả cam thêm mấy quả cam là mấy quả
cam
+ Ai đặt tính ?
+ Gọi hs nhắc lại vài lần
+ Tương tự 3 + 6 = 9
c. Hướng dẫn phép tính 7 + 2 = 9, 2 + 7 = 9
5 + 4 = 9, 4 + 5 = 9
Qui trình tương tự
- 6 quả cam thêm 3 quả cam
là 9 quả cam
6+3=9
- Hs nhắc
- GV cho hs đọc lại bảng cộng
- Cho hs sử dụng bảng cài
- Cả lớp đọc và cài bảng cài
Chia 2 dãy: dãy a nêu phép
cộng, dãy b trả lời kết quả và
ngược lại.
* Nghỉ giữa tiết.
Học sinh yếu chơi thể thao
môn cầu lông để học thuộc
bảng cộng trong phạm vi 9.
Hoạt động 2: Thực hành (20’)
Bài 1: Tính
7–4=3
6–1=5
- Giáo viên chấm, nhận xét
2 học sinh đọc đề
- Hs làm vào phiếu bài tập
- Vài em nộp chấm
Bài 3: Tính
- Giáo viên xác định yêu cầu bài tập.
Gv hướng dẫn làm mẫu một phần bài tập
GV hỏi: Hs nhẩm 4 cộng 1 bằng mấy? (5), tiếp
lấy 5 cộng 4 bằng mấy? (9), vậy 4 cộng 1 cộng 2 Học sinh đọc đề
4 bằng mấy? (9)
Ghi kết quả sau dấu bằng 4 + 1 + 4 = 9
4+5=?
4+2+3=?
Giáo viên Chấm vở, nhận xét
Bài 4: Viết phép tính thích hợp
Xác định yêu cầu bài tập
Dựa vào đâu để viết số thích hợp
Gv hướng dẫn làm mẫu một phần bài tập (Cho
hs xem tranh bài toán, sau đó viết số tương ứng)
4. Củng cố: (3’)
- Gọi hs đọc bảng cộng trong phạm vi 9 sử dụng kỹ thuật phối hợp thể dục thể thao.
- Xem lại bài,chuẩn bị bài sau: Phép trừ trong phạm vi 9
- Nhận xét tiết học.
5. Rút kinh nghiệm tiết dạy:
………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
KẾ HOẠCH BÀI HỌC (lớp 2)
Tuần 13
Thứ
ngày
tháng
năm 2011
Toán
Tiết 61: 14 Trừ đi một số 14 - 8
I. MỤC TIÊU
1. Kiến thức: Giúp học sinh:
- Biết lập và ghi nhớ bảng trừ 14 trừ đi một số 14-8.
- Biết vận dụng bảng trừ đã học để làm tính và giải bài toán.
- 14 trừ đi một số 14 – 8.
a. Nêu vấn đề : Có 14 que tính, bớt đi 8 que tính.
- Nghe và phân tích đề toán.
Hỏi còn lại bao nhiêu que tính?
- Để biết còn lại bao nhiêu que tính ta làm thế - 1 em nhắc lại bài toán.
nào ?
- Thực hiện phép trừ 14 - 8
- Giáo viên viết bảng 14 – 8.
b. Tìm kết quả.
- HS thao tác trên que tính,
lấy 14 que tính bớt 8 que,
còn lại 6 que..
- Còn lại bao nhiêu que tính ?
- 2 em ngồi cạnh nhau thảo
luận tìm cách bớt.
- Em làm như thế nào?
- Còn lại 6 que tính.
- Vậy còn lại mấy que tính ?
- Trả lời: Đầu tiên bớt 4 que
tính. Sau đó tháo bó que
tính và bớt đi 4 que nữa (4 +
4 = 8). Vậy còn lại 6 que
14 – 6 =
- Nhiều em nối tiếp nhau
nêu kết quả.
- HTL bảng trừ 14 trừ đi
một số.
14 – 7 =
14 - 8 =
14 – 9 =
- Xoá dần bảng 14 trừ đi một số cho học sinh
HTL
Học sinh đại trà.
Học sinh yếu sử dụng kỹ
thuật thể dục thể thao để
học thuộc bảng trừ
Hoạt động 3: Thực hành luyện tập (20’)
Mục tiêu : áp dụng bảng trừ 14 trừ đi một số để
làm tính
14 - 8 để giải các bài toán có liên quan.
Bài 1: Tính nhẩm
Đọc và xác định yêu cầu đề.
2 học sinh đọc đề
Hướng dẫn làm mẫu một phần bài tập
a. Khi biết 5 + 9 = 14 có cần tính 9 + 5 không,
vì sao?
- Lớp bảng con
- Nhận xét, cho điểm.
14
608
14
905
14
7 07
Bài 3: Đặt tính rồi tính hiệu, biết số trừ và số bị
trừ lần lượt là: 14 và 5; 14 và 7
2 em đọc đề
Đọc và xác định yêu cầu đề.
1 em nêu ta lấy số bị trừ trừ
Hướng dẫn làm mẫu một phần bài tập
Ta lấy số bị trừ trừ đi số trừ.
- Muốn tìm hiệu khi biết số bị trừ, số trừ ?
Nêu cách đặt tính và tính.
Viết 14 rồi viết 6 xuống
Đặt tính như thế nào? Bạn nào nêu được cách dưới
tính?
Đã bán bao nhiêu cái? 6 cái
Bài toán hỏi gì? Còn mấy cái quạt điện?
Học sinh làm vảo vở
Nhận xét cho điểm.
1 em lên bảng lớp giải và
trình bày lời giải.
4. Củng cố: (3’)
- Đọc bảng trừ 14 trừ đi một số (học sinh đại trà chơi sạc điện, điện trúng bạn nào bạn đó
nói một phép tính trừ trong bảng trừ 14 trừ đi một số)
- Học sinh yếu chơi thể thao ném banh, khi ném banh cho bạn em đó phải nêu một
phép tính....
Dặn học sinh về nhà xem lại bài.
Nhận xét tiết học.
5. Rút kinh nghiệm tiết dạy:
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
...........................................................................................................................
KẾ HOẠCH BÀI HỌC (lớp 3)
Tuần 12
năm 2011
Thứ
ngày
tháng
yếu chơi thể thao ném bóng nêu bảng chia 7 đã học.
- GV sửa bài tập sai nhiều của HS
-
Nhận xét vở HS
3. Dạy bài mới:
Hoạt động của HS
Hoạt động của Giáo viên
Hoạt động 1: Giới thiệu bài (1’)
2 học sinh nhắc đề
Hoạt động 2: Lập bảng chia 8 (13’)
Mục tiêu : giúp học sinh thành lập bảng chia 8
và học thuộc lòng bảng chia này
GV yêu cầu học sinh lấy trong bộ học toán 1
tấm bìa có 8 chấm tròn.
-
- Học sinh lấy trong bộ học
Cho học sinh kiểm tra xem mình lấy có đúng toán 1 tấm bìa có 8 chấm
hay chưa bằng cách đếm số chấm tròn trên tấm tròn.
bìa.
- Học sinh kiểm tra
- GV hỏi :
-
8 : 8 = 1 (tấm bìa)
-
Giáo viên ghi bảng : 8 : 8 = 1
-
8 chia 8 bằng 1
-
Gọi học sinh đọc lại phép nhân và phép chia.
-
Học sinh đọc : 8 x 1 = 8
Giáo viên cho học sinh lấy tiếp 2 tấm bìa, mỗi 8 : 8 = 1
tấm bìa có 8 chấm tròn và cho học sinh kiểm tra
- Học sinh lấy tiếp 2 tấm
bìa, và kiểm tra
- Giáo viên gắn tiếp 2 tấm bìa trên bảng và hỏi :
-